1
HUY ĐỘNG VỐN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
2
I. VỐN VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1. Khái niệm vốn
Vốn là một trong những nhân tố quan trọng bậc nhất đối với quá trình
tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia. Việt Nam là nước đang
phát triển, có nhu cầu vốn rất lớn để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Tuy
nhiên, do tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế quốc dân thấp, khả năng thu hút
vốn từ nước ngoài còn hạn hẹp nên lượng vốn đầu tư phát triển kinh tế rất
thiếu. Vì vậy, nhận thức và vận dụng đúng đắn phạm trù vốn sẽ là tiền đề thúc
đẩy việc khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng vốn để đầu tư phát triển nền
kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng, hội nhập tốt vào nền kinh tế thế giới.
Trong lịch sử phát triển kinh tế, khái niệm vốn được tiếp cận dưới
nhiều góc độ khác nhau.
Các nhà kinh tế học thuộc nhiều trường phái kinh tế trước C.Mác đã
dày công nghiên cứu vốn thông qua phạm trù tư bản và đi đến kết luận: vốn là
phạm trù kinh tế.
Kế thừa chọn lọc tư tưởng của các nhà tiền bối, khi nghiên cứu sự
Dưới góc độ nhân tố đầu vào, trong tác phẩm "Lịch sử tư tưởng kinh tế",
I.Đ.Uđanxốp và F.I.Pôlianxki kết luận: Vốn là "một trong ba yếu tố đầu vào
phục vụ cho sản xuất (lao động, đất đai, vốn). Vốn bao gồm các sản phẩm lâu
bền được chế tạo để phục vụ sản xuất (tức là máy móc, công cụ, thiết bị, nhà
cửa, kho dự trữ thành phẩm hoặc bán thành phẩm)"3.
Ở Việt Nam, cuốn "Từ điển tiếng Việt" của Viện Ngôn ngữ học cũng
chỉ ra: "Vốn là tiền của bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất kinh doanh, nhằm
mục tiêu sinh lợi"4.
Như vậy, "vốn sẽ bao gồm bất cứ thứ gì đưa lại một luồng thu nhập
qua thời gian", "Sự phát triển có thể coi như là một quá trình khái quát của
sự tích lũy vốn"1. Những cách tiếp cận trên đây về vốn đã nêu rõ tính đa dạng,
. Hồ Văn Mộc và Điêu Quốc Tín, Chú giải thuật ngữ kế toán Mỹ, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai, 1994, tr. 29.
. Penguin Reference, Từ điển kinh tế, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995, tr. 56.
3
. I.Đ.Uđanxốp và F.I.Pôlianxki, Lịch sử tư tưởng kinh tế, phần thứ nhất, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1994, tr. 300.
4
. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng, 2000, tr. 1126.
1
. E.Wayne Nafziger, Kinh tế học của các nước đang phát triển, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998, tr. 460.
1
2
4
nhiều vẻ về hình thái tồn tại của vốn. Vốn có thể là tiền hay tài sản được giá
trị hóa. Mặt khác, với tư cách là vốn thì tiền hay tài sản phải được đầu tư vào
hoạt động sản xuất - kinh doanh để tạo ra hàng hóa, dịch vụ nhằm mục tiêu có
thu nhập trong tương lai. Nghĩa là, vốn luôn gắn với sự vận động và đảm
Việc phân biệt rõ hai loại tài sản hữu hình như trên cho ta phương
pháp luận đúng đắn khi huy động, sử dụng chúng đầu tư cho phát triển. Trên
thực tế, cần phải tập trung mọi nguồn lực để làm tăng tài sản hữu hình với tư
cách là năng lực sản xuất.
Tài sản vô hình là những tài sản không tồn tại dưới dạng cụ thể của
vật chất, bao gồm những sản phẩm của trí tuệ, như: bằng phát minh, sáng chế,
bản quyền; thương hiệu sản phẩm, uy tín kinh doanh; vị trí kinh doanh; chi
phí đào tạo nguồn nhân lực (kỹ năng lao động, tri thức quản lý) v.v... Nền
kinh tế thị trường càng phát triển, giá trị tài sản vô hình càng trở nên quan
trọng trong cơ cấu vốn đầu tư. Bởi lẽ, khi đã huy động được những tài sản vô
hình vào phát triển kinh tế, sử dụng chúng hợp lý sẽ đem lại lợi nhuận, thậm
chí là siêu lợi nhuận cho các nhà đầu tư. Chẳng hạn, Nhật Bản là một điển
hình thành công khi tạo bước đột phá trong khai thác giá trị tài sản vô hình để
đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Người Nhật Bản không ngần ngại trả giá cao
cho những phát minh, sáng chế mới của các nhà khoa học trên khắp các châu
lục, đồng thời đem những tài sản - trí tuệ đó ứng dụng vào sản xuất - kinh
doanh, nhờ đó, nền kinh tế Nhật Bản cất cánh thật ngoạn mục! Nếu như sau
Chiến tranh thế giới lần thứ Hai, nền kinh tế Nhật Bản bị kiệt quệ, lạm phát
phi mã, thất nghiệp gia tăng... thì chỉ trong vòng 20 năm, Nhật Bản trở thành
một siêu cường kinh tế thế giới, chỉ đứng sau Mỹ và EU, thành công đó có sự
đóng góp không nhỏ của việc khai thác tốt yếu tố vốn vô hình - sản phẩm trí
tuệ của loài người vào phát triển kinh tế.
Tài sản tài chính, bao gồm tiền mặt hay các chứng chỉ có giá (cổ
phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ...), có thể gọi chung là tiền. Tuy nhiên, không
phải tất cả tiền đều là vốn. Tiền là hình thái cụ thể của vốn. Tiền được coi là vốn
khi và chỉ khi tiền đại diện cho một lượng giá trị hàng hóa, dịch vụ, hay tài sản
nhất định, được "ném" vào lưu thông hoặc tham gia trực tiếp vào sản xuất -
6
7
hình thái giá trị - tiền tệ với tư cách vốn là loại vốn linh hoạt, biến hóa nhất
trong nền kinh tế thị trường. Thị trường không những là nơi diễn ra các hoạt
động đa dạng của vốn mà còn là nơi để vốn bộc lộ khả năng sinh lời của
chúng. Khả năng sinh lời vừa là mục đích cuối cùng của việc đầu tư kinh
doanh đồng vốn, vừa là phương tiện để vốn tiếp tục vận động với quy mô
ngày càng được mở rộng ở chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Sự vận động của vốn
trên thị trường tuân thủ quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường. Song,
với khả năng nhận thức, con người có thể nắm bắt, vận dụng quy luật khách
quan, tạo ra những kênh huy động vốn một cách hiệu quả, đáp ứng mục đích
sản xuất - kinh doanh của mình.
Thứ hai, vốn là hàng hóa
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là hàng hóa. Muốn phát
triển sản xuất - kinh doanh đòi hỏi phải có vốn đầu tư. Nhu cầu vốn đầu tư
được xem là cơ sở phát sinh quan hệ cung - cầu về vốn trên thị trường. Như
vậy, vốn hiển nhiên là đối tượng trao đổi, mua bán trên thị trường vốn. Với tư
cách là hàng hóa, vốn có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng; có chủ sở hữu
và là một trong những yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
Thứ ba, vốn là hàng hóa đặc biệt
Tính đặc biệt của "hàng hóa vốn" thể hiện ở chỗ: vốn có khả năng sinh
lời. Với tư cách là hàng hóa đặc biệt, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn
tách rời nhau. Đặc điểm này của vốn không có ở các loại hàng hóa thông
thường. Chủ sở hữu vốn sẽ nhận được một khoản lợi tức (giá bán hay lãi suất
quyền sử dụng vốn) khi bán quyền sử dụng vốn cho người mua (các nhà đầu
tư). Nhà đầu tư khi mua quyền sử dụng vốn phải bỏ ra một khoản gọi là chi
phí (giá mua quyền sử dụng vốn) trả cho chủ sở hữu và nhận về mình quyền
sử dụng vốn. Nhờ có sự tách rời giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn
vốn và quyền sử dụng vốn, gắn với khoảng thời gian xác định tất yếu dẫn đến
quá trình tích tụ, tập trung vốn từ những khoản tiết kiệm nhỏ, lẻ; những đồng
tiền chưa có cơ hội đầu tư trở thành vốn và chuyển chúng đến tay các nhà đầu
. C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, tập 25, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 537.
. C.Mác và Ăngghen , Sđd, tr. 525.
1
2
9
tư. Sự vận động ấy đã tạo nên dòng chảy của vốn không ngừng, không nghỉ
trong nền kinh tế thị trường. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, khi tiến
hành hoạt động sản xuất - kinh doanh, các nhà đầu tư luôn luôn chú trọng tới
yếu tố thời gian. Bởi vì, các yếu tố như giá cả, lạm phát, lãi suất, tỉ giá... biến
động thường xuyên, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Do đó, bất kỳ một nhà đầu tư nào, khi xác định hiệu quả
đầu tư cũng phải đưa toàn bộ chi phí và thu nhập về cùng một thời điểm để so
sánh, tính toán các chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất doanh lợi/ vốn, tỷ suất doanh lợi/
doanh thu, vòng quay của đồng vốn v.v... Điều đó cắt nghĩa được tại sao vốn
luôn có giá trị về mặt thời gian (gắn với thời gian).
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu, vốn là tổng giá trị của
những tài sản (tài sản hữu hình, tài sản vô hình và tài sản tài chính) tham gia
trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất - kinh doanh nhằm mục tiêu
thu nhập trong tương lai.
Vốn có vai trò to lớn trong việc tạo ra của cải vật chất, đẩy nhanh nhịp
độ tăng trưởng kinh tế. Huy động vốn có hiệu quả; cung ứng đầy đủ và kịp
thời vốn cho nền kinh tế là một trong những tiền đề quan trọng đẩy mạnh phát
triển nền kinh tế quốc dân nói chung, nông nghiệp (theo nghĩa rộng) nói
sở hữu của công ty cổ phần được hình thành thông qua huy động vốn góp của
cổ đông; vốn chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn được hình thành
thông qua vốn góp của các thành viên v.v...
Vốn vay là vốn huy động được từ bên ngoài để bổ sung, làm tăng
lượng vốn của chủ thể kinh doanh, đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của quá
trình sản xuất. Vốn vay có thể huy động từ: Vay trong nước và vay ngoài
nước. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, vay vốn ngoài nước để phát triển
kinh tế không phải là công việc quá khó đối với các nước đang phát triển và
kém phát triển. Song, vấn đề quan trọng là quản lý và sử dụng vốn vay ngoài
nước ra sao cho có hiệu quả vẫn còn là vấn đề rất nan giải đối với các nước
11
nghèo và kém phát triển. Nền kinh tế thị trường càng phát triển, vốn vay
sẽ càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư của một chủ thể sản xuất kinh doanh.
+ Dựa vào phương thức sử dụng, không chỉ có vốn sản xuất trực tiếp
phục vụ cho quá trình sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ, hàng hóa mà còn
cần vốn phục vụ gián tiếp cho sản xuất, bao gồm khối lượng lớn và phong
phú hệ thống kết cấu hạ tầng, các công trình công cộng...
+ Dựa vào giá trị của vốn đầu tư trong thực tế và những chứng chỉ có
giá (cổ phiếu, trái phiếu...), vốn chia thành hai loại: Vốn thực (tư bản thật) và
vốn ảo (tư bản giả) v.v...
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi cách tiếp cận khác nhau cho ta
những quan niệm khác nhau về vốn, song, nhận thức về vốn, xét về bản chất
là thống nhất. Việc phân chia vốn thành nhiều loại khác nhau nhằm mục đích
hiểu rõ bản chất của phạm trù vốn - vốn là hình thái giá trị, là thứ hàng hóa
đặc biệt, có mối quan hệ mật thiết với thời gian. Cùng với việc hiểu rõ bản
chất của vốn còn nhận thức được tính đa dạng, nhiều vẻ và rất phức tạp của
vốn trong nền kinh tế thị trường. Đó là những căn cứ khoa học giúp các chủ
xuất đủ và đúng thời vụ, phù hợp với yêu cầu vốn của từng loại cây, con
nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp cũng như đầu
tư vốn.
- Một bộ phận sản phẩm nông nghiệp không qua lưu thông mà chuyển
trực tiếp làm tư liệu sản xuất nông nghiệp nên vòng tuần hoàn vốn sản xuất
nông nghiệp chia thành hai loại: tuần hoàn đầy đủ và tuần hoàn không đầy đủ.
Do đó, khi cung ứng vốn phát triển nông nghiệp cần phải hạch toán đầy đủ
giá trị của những nông phẩm chuyển trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho bản
thân ngành mình.
- Điều kiện tự nhiên có tác động rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh nông nghiệp nên khi sử dụng vốn phát triển nông nghiệp thường gặp
rủi ro, tổn thất hoặc giảm hiệu quả đầu tư vốn (khi thời tiết khí hậu không
thuận hòa). Vì vậy, huy động vốn phát triển nông nghiệp, nhất là phát triển
13
nông nghiệp hàng hóa trong điều kiện hội nhập quốc tế, không chỉ đầu tư vốn
cho sản xuất mà cần phải dành một khoản nhất định hình thành quỹ hỗ trợ rủi
ro nhằm phân tán rủi ro cho những người sản xuất nông nghiệp hàng hóa,
đảm bảo tính ổn định, bền vững trong phát triển nông nghiệp. Như vậy, hình
thành và phát triển quỹ rủi ro là một tất yếu trong phát triển nền nông nghiệp
hàng hóa hiện đại.
3. Cơ cấu nguồn vốn và phương thức huy động vốn phát triển
nông nghiệp
3.1. Cơ cấu nguồn vốn huy động phát triển nông nghiệp
Trong một đơn vị kinh tế cơ sở hay xét trên phạm vi rộng lớn - toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, điều hiển nhiên là: muốn đầu tư phải có vốn và muốn
có vốn phải tìm ra nguồn. Cắt nghĩa cho vấn đề này, nhiều nhà kinh tế học, điển
hình là nhà kinh tế người Mỹ P.A.Samuelson cho rằng: nhịn tiêu dùng hiện tại,
quyết tâm phát huy nội lực, dựa vào "sức mình"; cũng không ít nước kết hợp
huy động cả hai nguồn vốn trong nước và ngoài nước để đẩy mạnh phát triển
kinh tế.
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xây dựng hệ quan điểm huy
động vốn xuyên suốt Đại hội lần thứ VII, VIII và IX, đó là: "Kết hợp nội lực
và ngoại lực hình thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước" 1. Trong đó,
"vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn ngoài nước có ý nghĩa quan
trọng"2. Đặc biệt, đối với phát triển nông nghiệp phải "dựa vào nội lực là
chính"3. Cơ sở khoa học của hệ quan điểm trên bắt nguồn từ:
Một là, việc nhận thức sâu sắc hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam là một
nước đang phát triển đi lên từ nông nghiệp, phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh
ác liệt, khả năng tích lũy vốn từ nội bộ nền kinh tế rất hạn hẹp, do đó, nếu chỉ
dựa vào "sức mình" sẽ rất khó đáp ứng được yêu cầu cao về vốn cho sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Hai là, trên cơ sở tìm hiểu những bài học thành công cũng như thất
bại của các nước trên thế giới trong việc huy động vốn ngoài nước để phát
triển kinh tế - xã hội, Đảng ta đã xác định rõ: "Vốn trong nước có ý nghĩa
. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2001, tr. 26.
2
. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1996, tr. 228.
3
. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khóa IX), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 94.
1
15
20,55
11,70
1997
21,63
12,90
1998
23,90
15,40
1999
27,09
17,59
2000
31,00
19,46
Nguồn: Bùi Bá Cường và Bùi Trinh, Bàn về phương pháp tính chỉ
45,59
53,01
- Khấu hao tài sản cố định
31,47
30,85
29,26
26,88
23,56
17,73
Tổng số vốn cho tích lũy
1. Nguồn vốn trong nước cho tích lũy:
Trong đó:
2. Nguồn vốn từ ngoài nước (chuyển nhượng
17
vốn, đi vay...)
dân (QTDND), ... là những tổ chức tín dụng quan trọng bậc nhất trong việc
cung ứng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này.
Quy mô tiết kiệm của NSNN, về cơ bản phụ thuộc vào sự thay đổi của
tổng thu và tổng chi thường xuyên của NSNN.
Tổng thu NSNN phụ thuộc vào quy mô và chất lượng tăng trưởng của
nền kinh tế; chính sách động viên thu nhập vào NSNN của Chính phủ (chủ
yếu thông qua hệ thống thuế, phí, lệ phí); hiệu lực và hiệu quả của việc thu nộp thuế, phí, lệ phí trên thực tế. Thu NSNN tăng sẽ đẩy mạnh tích lũy vốn,
tăng chi cho đầu tư phát triển và ngược lại.
Chi NSNN cũng là nhân tố quan trọng tác động đến việc mở rộng hay
thu hẹp qui mô tiết kiệm NSNN. Cơ cấu, nội dung và quy mô chi NSNN, về cơ
bản, phụ thuộc vào thu NSNN, đường lối phát triển kinh tế và phù hợp với từng
giai đoạn lịch sử cụ thể. Song, nếu tăng chi cho đầu tư phát triển, cắt giảm hợp
lý chi tiêu thường xuyên sẽ tạo thuận lợi để tăng tiết kiệm NSNN và ngược
lại.
Ở Việt Nam, từ 1992 trở về trước, tiết kiệm NSNN còn nhỏ bé. Từ
1995 trở lại đây, thu nhập cuối cùng đã vượt tiêu dùng cuối cùng nên phần tiết
kiệm từ nội bộ NSNN tăng lên đáng kể. Tiết kiệm NSNN tăng, tạo điều kiện
để tăng chi đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung, phát triển nông
nghiệp nói riêng.
Trên thực tế, vốn NSNN dành để phát triển nông nghiệp, nông thôn có
xu hướng tăng lên rõ rệt. Nếu như cả giai đoạn 1991 - 1995 chỉ huy động
được 756 tỷ đồng, bình quân hàng năm tăng 45,2%, thì sang giai đoạn 1996 2000, tăng lên 35.955 tỷ đồng, chiếm 8,2% tổng dư nợ NSNN, bình quân
hàng năm tăng 36,9%. Trong đó, phần vốn NSNN huy động vào phát triển
nông nghiệp, thủy lợi và phát triển nông thôn là 82%; lâm nghiệp 10%; ngư
nghiệp 6,2%; doanh nghiệp 1,8%. Bên cạnh đó, NSNN còn thực hiện đầu tư
vốn gián tiếp thông qua việc hỗ trợ vốn cho các tổ chức tín dụng nhà nước,
19
1
20
nông dân, huy động và tập trung vốn phát triển ngành nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa. Phương thức đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp là
ứng vốn cho nông dân, hỗ trợ kỹ thuật, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến
ngư; bao tiêu nông sản phẩm để chế biến; hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng phục
vụ phát triển nông nghiệp v.v... Song, qui mô tiết kiệm của khu vực doanh
nghiệp còn nhỏ bé (do hiệu quả sản xuất - kinh doanh và sức cạnh tranh của
doanh nghiệp chưa cao) nên tác động của nguồn vốn doanh nghiệp đối với
phát triển nông nghiệp còn hạn chế.
- Tiết kiệm của dân cư, là phần thu nhập để dành, chưa tiêu dùng của
các hộ gia đình. Thu nhập của dân cư được hình thành từ kết quả lao động sản
xuất và dịch vụ của các gia đình, cá nhân người lao động; thu nhập do thừa kế
các loại thu nhập khác, như: Tiền trúng xổ số, tiền do thân nhân từ nước ngoài
gửi về... Nói cách khác, nguồn vốn của dân cư là khoản tiết kiệm, thu nhập
của họ.
Qui mô và tốc độ tăng trưởng tiết kiệm của dân cư phụ thuộc vào thu
nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Tỉ lệ tiết kiệm của dân cư có xu hướng tăng dần
khi thu nhập của các hộ gia đình tăng. Vì vậy, tiết kiệm của dân cư được coi là
biến số trực tiếp phụ thuộc vào thu nhập sau khi đã nộp thuế của dân cư.
Tâm lý và tập quán tiêu dùng của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ cũng
ảnh hưởng không nhỏ đến tỷ lệ tiết kiệm của dân cư. Tâm lý ưa chuộng tiêu
dùng cao sẽ hạn chế tỉ lệ tiết kiệm và ngược lại, có ý thức tiết kiệm tiêu dùng
và tiêu dùng hợp lý sẽ làm tăng tỷ lệ tiết kiệm của dân cư. Hiện tượng phổ
biến xảy ra ở trên thế giới là: "Với mức thu nhập như nhau thì dân nông thôn
để dành một tỷ lệ thu nhập cao hơn so với dân thành phố" 1. Bên cạnh đó, trình
độ động viên của Nhà nước thông qua chính sách thuế, phí, lệ phí và các đóng
quản lý và sử dụng nguồn vốn trong nước một cách hiệu quả.
3.2. Phương thức huy động vốn phát triển nông nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, để có đủ vốn kinh doanh, chủ đầu tư có
thể và cần phải huy động vốn thông qua thị trường tài chính.
. Võ Minh Điều, Đầu tư tài chính phát triển nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Tài chính, Số 4/2002, tr.
12.
1
22
Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán quyền
sử dụng vốn. Hiện nay, có nhiều cách phân loại thị trường tài chính, song
nhìn chung người ta thường phân chia thị trường tài chính thành hai bộ phận:
Thị trường tài chính ngắn hạn (hay thị trường tiền tệ) và thị trường tài chính
dài hạn (hay thị trường vốn). Trong thị trường tài chính dài hạn có thị trường
vay nợ dài hạn (thông qua các trung gian tài chính) và thị trường chứng khoán.
Thông qua thị trường tài chính, các nguồn tiết kiệm được chuyển hóa thành
vốn đầu tư và phân bổ theo nguyên tắc thị trường (quan hệ cung cầu), theo hai
phương thức huy động:
- Phương thức huy động vốn gián tiếp. Đó là phương thức chuyển vốn
từ nơi có vốn và thừa vốn sang nơi thiếu vốn và cần vốn một cách gián tiếp,
thông qua các trung gian tài chính (ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài
chính, các quỹ đầu tư phát triển, hiệp hội tổ chức tín dụng v.v...).
Với tư cách là cầu nối, các trung gian tài chính thực hiện gắn kết những
chủ thể cung vốn với những chủ thể cầu vốn trên thị trường tài chính. Các trung
gian tài chính tập hợp mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội vào đầu mối của
mình, sau đó cho các chủ thể kinh tế (nhà nước, doanh nghiệp, hộ gia đình...)
cần đầu tư vốn nhưng thiếu vốn vay. Nói cách khác, các trung gian tài chính
vốn phục vụ mục tiêu sản xuất - kinh doanh trên thị trường chứng khoán.
Ngược lại, các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu, trái phiếu của công
ty, trái phiếu của chính phủ hoặc tiến hành rút vốn thông qua việc bán lại cổ
phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán. Như vậy, với phương thức huy
động vốn trực tiếp, các nhà sản xuất có thể huy động vốn thông qua:
+ Phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty trên thị trường chứng khoán.
Trên thế giới, huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu và trái
phiếu công ty là rất phổ biến đối với các nhà sản xuất nhằm tăng vốn, mở
rộng qui mô sản xuất - kinh doanh, đổi mới thiết bị - công nghệ...
24
Ở nước ta, phương thức huy động vốn qua phát hành cổ phiếu và trái
phiếu công ty còn khá mới mẻ. Sau gần 10 năm chuẩn bị, ngày 20/7/2000
Trung tâm giao dịch chứng khoán đầu tiên ở Việt Nam được thành lập, đặt trụ
sở tại thành phố Hồ Chí Minh. Đó là bước ngoặt trong công tác huy động vốn
để phát triển nền kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng. Tuy nhiên, qua
gần 4 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn đang dừng
lại ở giai đoạn tìm tòi, thử nghiệm nên hoạt động huy động vốn trên thị
trường này vẫn tiềm ẩn những nhân tố khó khăn.
+ Phát hành trái phiếu Chính phủ.
Ở nước ta, trái phiếu của Chính phủ được phát hành dưới các dạng:
Tín phiếu kho bạc nhà nước, trái phiếu kho bạc nhà nước và trái phiếu công
trình. Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội cụ thể: "Chính phủ chủ
trương phát hành trái phiếu để thực hiện chức năng đi vay (thực hiện tín dụng
nhà nước) của Chính phủ nhằm huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ
chức kinh tế... tạo vốn bù đắp thiếu hụt ngân sách, tăng cường đầu tư phát
triển. Chính phủ cần phải huy động vốn, qua phát hành trái phiếu chính phủ
và giao cho Bộ Tài chính phát hành" 1.
tư bản như nhau. Nếu địa tô chênh lệch I tương ứng với phương thức quảng
canh, khai hoang, mở rộng diện tích và không cần nhiều vốn đầu tư, rất phù
hợp với thời kỳ đầu phát triển một nền nông nghiệp bậc thấp thì địa tô chênh
lệch II tương ứng với phương thức đầu tư thâm canh, đòi hỏi phải có lượng
vốn đầu tư lớn. C.Mác khẳng định: "Về mặt kinh tế, chúng ta hiểu, thâm canh
không phải là cái gì khác hơn là sự tập trung tư bản trên cùng một thửa đất,
chứ không phải phân tán trên nhiều thửa đất song song với nhau"1.
Như vậy, theo C.Mác, cùng với đất đai và lao động, vốn trở thành
nhân tố nội sinh, thúc đẩy thâm canh tăng năng suất cây trồng, thúc đẩy việc
sử dụng đất đai ngày càng hiệu quả. Thâm canh là một yêu cầu cơ bản, một xu
hướng tất yếu đối với mọi nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, không phân
biệt chế độ chính trị - xã hội.
. C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, tập 25, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 333.
. C.Mác và Ăngghen, Sđd, tr.331.
2
1