ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
..............................
ĐÀO VIỆT HÙNG
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
..............................
ĐÀO VIỆT HÙNG
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC HỌC PHẦN CÁC
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOÁ LÝ TRONG HOÁ PHÂN TÍCH
ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC HỌC PHẦN CÁC
ĐỐI VỚI SINH VIÊN HỆ CỬ NHÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HOÁ LÝ TRONG HOÁ PHÂN TÍCH
HÀ NỘI
ĐỐI VỚI
SINH VIÊN HỆ CỬ NHÂN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM HÀ NỘI
trình khoa học có ý nghĩa thực tiễn cũng như ý nghiã khoa học, phục vụ trực
kết quả học tập của sinh viên một cách hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng
tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của con người. Để có được những thành tựu
dạy và học.
như vậy giáo dục đóng góp một vai trò rất quan trọng. Tuy vậy, nền giáo dục
Sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan học phần “Các
ở mỗi quốc gia, mỗi châu lục lại có nội dung và cách thức thực hiện khác
phương pháp phân tích hoá lý” sẽ giúp sinh viên chủ động và tích cực hơn
nhau. Chính điều đó đã làm cho chất lượng giáo dục ở mỗi quốc gia có được
trong học tập học phần này.
những thành tựu khác nhau. Đối với Việt Nam - là một đất nước đang phát
Xuất phát từ những lí do trên đây, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là:
triển, chắc chắn chưa thể có một nền giáo dục hiện đại và hoàn chỉnh. Chính
“Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểm tra đánh giá
vì vậy trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những chủ
pháp phân tích hoá lí” trong các khâu của quá trình dạy học.
Do thời gian và trình độ hạn chế nên bản luận văn còn có nhiều sai sót,
chúng tôi mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn đồng nghiệp để
khách quan (TNKQ).
Là một học viên chuyên ngành Hoá phân tích, tôi nhận thấy: Đối với các
bản luận văn được hoàn thiện hơn.
môn học chuyên ngành vẫn chưa thực hiện được hình thức kiểm tra TNKQ.
Vì vậy, chúng tôi muốn xây dựng một hệ thống các câu hỏi TNKQ dùng cho
sinh viên hệ cử nhân sư phạm và có thể dùng cho sinh viên chất lượng cao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-1-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-2-
phạm” và năm 1978 với đề tài “Vận dụng kết hợp phương pháp test và phương
Chƣơng I
TỔNG QUAN VỀ PHƢƠNG PHÁP
về chất lượng giáo dục và các phương pháp trắc nghiệm.
Tháng 4 - 1998, trường Đại học Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội có
cuộc hội thảo Khoa học về việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong dạy học
phát triển mạnh.
Năm 1961, ở Mỹ đã xây dựng một bộ gồm 2000 câu hỏi trắc nghiệm
chuẩn để đánh giá kết quả học tập của học sinh - sinh viên và sử dụng cho các
và tiến hành xây dựng bộ trắc nghiệm để kiểm tra - đánh giá một số học phần
của các khoa trong trường.
Đặc biệt là việc áp dụng rộng rãi trong giảng dạy ở phổ thông và sử dụng
kỳ thi tuyển sinh.
Năm 1963, với sự trợ giúp của máy tính điện tử để xử lý kết quả thực
nghiệm trên diện rộng đã tạo điều kiện phát triển cho phương pháp trắc
nghiệm trong nhiều lĩnh vực.
Những năm gần đây, hầu hết các nước trên thế giới đều đã sử dụng
phương pháp trắc nghiệm một cách rộng rãi và phổ biến vào quá trình dạy học
ở cấp phổ thông cũng như đại học, đặc biệt là ở các nước phương Tây.
Ở Việt Nam, từ những năm 1960 đã có những nghiên cứu thử nghiệm
Năm 1972, trắc nghiệm đã được sử dụng rộng rãi để ôn tập và thi tú tài.
Năm 1976, tác giả Nguyễn Như An dùng phương pháp trắc nghiệm trong việc
thực hiện đề tài: “Bước đầu nghiên cứu nhận thức tâm lý của sinh viên Đại học Sư
-3-
đại trà hình thức thi trắc nghiệm cho kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học và
tuyển sinh vào Đại học năm 2007 - 2008 các môn Toán, Lý, Hoá, Ngoại ngữ của
Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cho đến nay, đã có rất nhiều các khoá luận tốt nghiệp,
hướng xem trắc nghiệm là một phương pháp dạy học dùng những bài tập
nghiệm tự luận.
ngắn để kiểm tra, đánh giá khả năng hoạt động nhận thức, năng lực trí tuệ và
kỹ năng của học sinh.
Điều này được coi là dấu hiệu bản chất của phương pháp trắc nghiệm vì
I.2.2. Bản chất của câu hỏi trắc nghiệm
Để hiểu rõ khái niệm của câu hỏi trắc nghiệm, chúng ta hãy tìm hiểu một
nó cho thấy chức năng cơ bản của trắc nghiệm trong quá trình dạy học mà cụ
thể là trong kiểm tra và đánh giá kết quả của học sinh - sinh viên.
số định nghĩa của các nhà lý luận về trắc nghiệm như sau:
A. R. Petropxli (1970) cho rằng: “Test là bài tập làm trong thời gian
I.2.3. Khái niệm về trắc nghiệm tự luận
ngắn mà việc thực hiện bài tập đó nhờ có sự đánh giá về số lượng và chất
Trắc nghiệm tự luận (luận đề) là hình thức tự trình bày câu trả lời bằng
lượng có thể coi là dấu hiệu của sự hoàn thiện một số chức năng tâm lý” [7;
ngôn ngữ của mình. Loại trắc nghiệm này ngược với trắc nghiệm khách quan,
9].
cung cấp cho mỗi câu hỏi nhưng chỉ có một câu trả lời đúng nhất. Bài trắc
Theo Trần Bá Hoành: “Test có thể tạm dịch là phương pháp trắc nghiệm,
nghiệm được chấm bằng cách đếm số lần học sinh chọn câu trả lời đúng. Do đó
là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của học
hệ thống cho điểm là khách quan và không phụ thuộc vào người chấm [7; 9] .
sinh (thông minh, trí nhớ, tưởng tượng, chú ý...)’’ [7; 9].
I.2.5. So sánh câu hỏi trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
Cho tới nay, người ta vẫn hiểu trắc nghiệm là một bài tập nhỏ hoặc các
I.2.5.1. Những điểm tương đồng giữa câu trắc nghiệm khách quan và tự luận
câu hỏi có kèm theo câu trả lời sẵn yêu cầu học sinh, sinh viên suy nghĩ rồi
Trắc nghiệm khách quan cũng như trắc nghiệm tự luận đều được dùng
dùng ký hiệu đơn giản đã quy ước để trả lời. Hay trắc nghiệm là một hình
với mục đích đo lường thành quả học tập mà một bài kiểm tra có thể khảo sát
thức đo đạc đã được “tiêu chuẩn hoá” cho mỗi cá nhân học sinh bằng điểm.
được. Hai loại câu hỏi có thể sử dụng để khuyến khích học sinh - sinh viên
TNKQ
TNTL
- Tốt ở mức độ hiểu, biết ứng - Không thích hợp ở mức
dụng, phân tích
độ nhận biết.
hiệu để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Mỗi phương pháp đều có
- Không thích hợp ở mức độ - Tốt ở mức độ hiểu, áp
ưu, nhược điểm nhất định thể hiện qua bảng so sánh sau:
tổng hợp, đánh giá, so sánh.
dụng, phân tích.
- Tốt ở mức độ tổng hợp,
phê phán, suy luận.
Tính đại diện của nội - Nội dung có thể bao quát - Phạm vi kiểm tra chỉ
Bảng I-1: So sánh ưu điểm phương pháp trắc nghiệm khách quan và
dung
toàn diện với nhiều câu hỏi.
tư duy hình tượng
- Tốn ít thời gian hơn.
định.
Những yếu tố làm sai - Khả năng đọc, hiểu, phán - Khả năng viết, các cách
lệch điểm
đoán.
thể hiện.
Kết quả có thể có
- Khuyến khích ghi nhớ, hiểu, - Khuyến khích tổng hợp,
Đề thi bao quát được phần lớn nội dung bài học
+
Ít may rủi do trúng tủ, lệch tủ
+
phân tích ý kiến của người diễn đạt ý kiến của bản
Ít tốn công chấm thi và khách quan trong chấm thi
+
để có thể sử dụng mỗi phương pháp hữu hiệu, đúng lúc, đúng chỗ.
I.3. Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan thông dụng
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chủ yếu đi sâu nghiên cứu
các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-7-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-8-
không thoả mãn khi buộc phải chọn đúng hay sai, hoặc có thể có những
I.3.1. Loại câu điền khuyết [1; 2; 4; 8; 10; 17]
Đây là loại câu hỏi đòi hỏi phải điền hay liệt kê một hay nhiều từ để hoàn
trường hợp ngoại lệ chứ không phải chỉ có hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai.
thành một câu hỏi trực tiếp hay một nhận định chưa đầy đủ. Với loại câu này
học sinh phải tìm hiểu câu trả lời đúng hơn là nhận ra câu trả lời đúng.
Ví dụ 2: Khoanh tròn Đ nếu phát biểu đúng, S nếu câu phát biểu sai
1
Đ
S
* Ưu điểm: Học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường,
phát huy óc sáng kiến. Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra,
nghĩ ra, tìm cây trả lời. Từ đó giúp học sinh luyện trí nhớ khi học. Loại này
cũng dễ soạn hơn loại câu hỏi lựa chọn.
* Nhược điểm: Khi soạn thảo loại câu hỏi này thường dễ mắc sai lầm là
trích nguyên văn các câu từ trong giáo trình. Phạm vi kiểm tra loại câu hỏi
này thường chỉ giới hạn vào các chi tiết vụn vặt. Việc chấm bài mất nhiều thời
gian và thiếu khách quan hơn loại câu hỏi nhiều lựa chọn.
I.3.3. Loại câu ghép đôi [1; 2; 4; 8; 10; 17]
Ví dụ 1: Hãy điền từ thích hợp vào chỗ trống để được câu hoàn chỉnh:
Loại câu này thường có hai dãy thông tin là câu dẫn và câu đáp, chúng
Hệ số hấp thụ phân tử là một hàm số của độ dài bước sóng, nó không
thường ghép đôi với nhau theo kiểu tương ứng một - một. Hai dãy thông tin
phụ thuộc vào................ của hợp chất màu hấp thụ ánh sáng. Hệ số hấp thụ
này không nên có số câu bằng để cho cặp ghép cuối cùng chỉ đơn giản gắn kết
phân tử đặc trưng cho ......... riêng biệt của chất nghiên cứu, nó dùng để xác
những sự kiện, vì vậy viết loại câu hỏi này tương đối dễ dàng, ít phạm lỗi,
I.3.4. Loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn [1; 2; 4; 8; 10; 17]
mang tính khách quan khi chấm.
Loại câu này thường có hình thức của một câu phát biểu không đầy đủ
* Nhược điểm: Học sinh có thể đoán mò, vì vậy có độ tin cậy thấp, dễ
hay một câu hỏi có câu dẫn được nối tiếp bằng một số câu trả lời mà học sinh
tạo điều kiện cho học sinh học thuộc lòng hơn là hiểu. Học sinh giỏi có thể
phải lựa chọn: Câu trả lời đúng, câu trả lời tốt nhất, câu trả lời kém nhất hay
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-9-
-10-
câu trả lời không có liên quan nhất; hoặc có nhiều hơn một câu trả lời thích
- Loại câu này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn
+ Câu sai: Là câu kém chính xác nhất
lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý. Hơn nữa, các câu hỏi phải đo được các
+ Câu nhiễu: Là câu trả lời có vẻ hợp lý, chúng có tác động nhiều đối với
mục tiêu ở mức năng lực nhận thức cao hơn mức biết, nhớ, hiểu.
học sinh có năng lực tốt và tác dụng thu hút đối với học sinh có năng lực kém.
- Có những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu
trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thoả mãn.
* Ưu điểm:
- Giáo viên có thể dùng loại câu này để kiểm tra - đánh giá những mục
- Các câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng
phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách
tiêu dạy học khác nhau, chẳng hạn như:
hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi trắc nghiệm tự luận soạn kỹ.
+ Xác định mối tương quan nhân quả
- Tốn kém giấy mực khi in loại câu hỏi này so với loại câu hỏi khác và
-11-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-12-
Có thể có những biến thể của loại câu hỏi nhiều lựa chọn. Các biến thể này
- Giữ cho việc đọc hiểu không quá khó khăn- Khi lên kế hoạch cho một
đòi hỏi học sinh phải tìm hiểu sâu. Một số biến thể rất nguy hiểm đối với những
câu hỏi của một câu trắc nghiệm cần chú ý sao cho một câu hỏi không cung
người soạn câu hỏi không thận trọng, phổ biến là 2 loại biến thể sau:
cấp đầu mối cho việc trả lời một hay nhiều câu hỏi khác.
a. Câu hỏi nhiều lựa chọn có nhiều câu trả lời
- Trong một bộ câu hỏi, sắp xếp các câu trả lời đúng theo cách ngẫu nhiên.
b. Câu kết hợp: Loại câu này cho phép có thể có nhiều câu trả lời đối với
- Tránh các câu hỏi mang tính chất đánh lừa, gài bẫy.
- Nên sử dụng câu hỏi này khi rõ ràng duy nhất một câu trả lời đúng.
- Nên nói rõ ràng, trong điều kiện thích hợp nên nói rõ những con số có ý
- Hãy tìm và loại trừ cách gây hiểu lầm mà chưa phát hiện được trong câu.
nghĩa hay phần thập phân khi cần thiết. Nếu cần các đơn vị đo lường trong
- Đừng cố gắng tăng mức độ khó của câu hỏi bằng cách diễn đạt câu hỏi
câu trả lời có con số cũng phải nói rõ.
thêm cách phức tạp hơn, trừ khi người soạn muốn kiểm tra về phần đọc hiểu.
- Tránh cung cấp những đầu mối tới câu trả lời. Thói quen xây dựng câu
trả lời đúng dài hơn câu nhiễu sẽ sớm bị phát hiện. Câu dẫn của một câu hỏi
có thể chứa thông tin cần thiết để trả lời một câu hỏi khác.
- Tránh gây ra những tác động không mong muốn về mặt giáo dục,
không khuyến khích lối học vẹt.
- Trong những câu buộc phải điền thêm chỗ trống, không nên để quá
nhiều khoảng trống làm cho các câu trở nên khó hiểu.
I.4.2.2. Câu hỏi đúng sai [7; 9; 10]
- Câu nhận định phải rõ ràng để có thể nhận xét một cách không mập mờ
về đúng - sai.
- Câu nhận định phải ngắn, ngôn ngữ phải đơn giản và tránh có hai câu
- Tránh nêu nhiều hơn một ý tưởng độc lập trong câu dẫn
- Tránh những câu hay từ đoán ra câu trả lời
phủ định cùng một lúc.
- Độ dài và mức độ phức tạp của câu nhận định không nên tạo thành đầu
để tăng tính hấp dẫn của câu lựa chọn.
- Sắp xếp các danh mục một cách rõ ràng
- Không nên đưa quá nhiều tư liệu không thích hợp vào câu dẫn
- Giải thích rõ ràng cơ sở ghép đôi.
- Tránh tạo điều kiện ghép đôi một - một vì nó tạo nên một quá trình
I.5. Quy hoạch một bài trắc nghiệm
Quy hoạch một bài trắc nghiệm là dự kiến phân bố các phần của bài trắc
loại trừ dần.
nghiệm theo mục tiêu và nội dung môn học sao cho nó có thể đo luờng chính
I.4.2.4. Câu hỏi nhiều lựa chọn [7; 9; 10]
- Dùng một câu hỏi hay một câu nhận định chưa đầy đủ làm câu dẫn,
chọn loại câu sao cho trong tình huống rõ ràng hơn và trực tiếp hơn.
- Nói chung tránh các câu dẫn mang tính phủ định. Tuy nhiên, nếu cần
câu dẫn phủ định phải chú ý gạch chân hoặc in nghiêng chữ “không”.
- Phải đảm bảo câu trả lời đúng rõ ràng là câu tốt nhất.
- Phải đảm bảo câu dẫn và câu trả lời khi gắn với nhau đúng ngữ pháp.
- Với một câu hỏi đã nêu, phải giữ cho một câu trả lời theo cùng một
dạng hành văn.
xác khả năng học tập của học sinh. Để làm được việc này đòi hỏi người soạn
thảo trắc nghiệm cần phải biết khảo sát những gì? Đặt tầm quan trọng vào
phần nào của môn học? Phải trình bày các câu hỏi dưới hình thức nào cho
Phân tích nội dung môn học bao gồm chủ yếu phân biệt bốn loại học tập sau:
- Những thông tin mang tính chất sự kiện mà học sinh phải nhớ hay nhận ra.
- Những khái niệm và ý tuởng mà học sinh phải giải thích.
- Những ý tưởng phức tạp cần phải giải nghĩa.
-15-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-16-
- Những thông tin, kỹ năng cần ứng dụng hoặc là được chuyển sang tình
huống khác.
(1) Các ý tưởng, các nguyên tắc, các mối liên hệ, các quy luật, khái quát
mà học sinh phải giải thích hoặc ghi nhớ.
Các bước phân tích nội dung môn học:
(2) Các khái niệm, ký hiệu, công thức mà học sinh phải hiểu, giải thích
- Tìm ra ý tưởng chính của môn học.
(3) Các loại thông tin, kiến thức mà học sinh phải nhớ và nhận ra.
thi có thể lên tới 120 phút hoặc nhiều hơn. Nói chung thời gian càng dài, bài
càng có nhiều câu hỏi thì điểm số có được từ bài trắc nghiệm đó càng đáng tin
cậy.
Vấn đề quan trọng hơn là các câu hỏi trong bài trắc nghiệm tiêu biểu cho
toàn bộ kiến thức mà học sinh cần phải đạt được qua mỗi bài học, môn học
hay học phần.
I.6. Đánh giá câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Dàn bài trắc nghiệm
I.6.1. Cơ sở chung [7; 17]
Đề mục:........................
Các ý tƣởng quang
Chủ đề
nghiệm thường làm trong 15 - 45 phút đối với kiểm tra lên lớp, còn trong các kỳ
trọng
Đánh giá câu trắc nghiệm khách quan là việc làm cần thiết cho người
Các khái niệm
Kiến thức
(2)
(3)
(1)
-18-
a. Cách thứ nhất [8; 17]:
I.6.3. Độ phân biệt của một câu hỏi trắc nghiệm (P) [15; 17]
- Định nghĩa: Là tỷ số của tổng số học sinh trả lời đúng câu hỏi đó trên
tổng số học sinh tham dự.
Khi ra một câu trắc nghiệm cho một nhóm thí sinh nào đó, người ta
muốn phân biệt nhóm ấy những người có năng lực khác nhau như: giỏi, khá,
- Chỉ số khó (K): K = R/N
trung bình, kém.. Câu trắc nghiệm khách quan thực hiện được khả năng đó
Trong đó 0 K 1 hay 0% K 100% với: R là tổng số học sinh trả lời
gọi là có độ phân biệt.
Như vậy độ phân biệt của câu trắc nghiệm là chỉ số xác định khả năng
đúng và N là tổng số học sinh tham gia làm bài kiểm tra.
phân biệt giữa học sinh giỏi và học sinh kém của câu trắc nghiệm đó.
b. Cách thứ hai [17]: Chia thí sinh làm 3 nhóm:
+ Nhóm giỏi: Gồm 27% số lượng thí sinh có điểm cao nhất của kỳ kiểm
* Nhận xét: K càng lớn thì câu hỏi càng dễ, cụ thể:
+ 0 K 0,2
+ 0,21 K 0,4
+ 0,41 K 0,6
+ 0,61 K 0,8
+ 0,81 K 1
Nên dùng các câu
(nhóm giỏi hoặc nhóm kém).
Là câu hỏi rất khó
Là câu hỏi khó
Là câu hỏi trung bình
Là câu hỏi dễ
Là câu hỏi rất dễ
trắc nghiệm có độ khó K nằm trong khoảng 25% đến
75%; trong khoảng từ 10% - 25% và 75% - 90%: cẩn trọng khi dùng; Nếu K
< 10% hoặc K > 90% thì không nên dùng.
Tuy nhiên, nếu để tuyển sinh, nên thêm một số câu có K < 25% hay nếu
- Độ phân biệt của phương án mồi càng âm thì câu mồi đó càng hay vì
nhử được nhiều học sinh kém chọn. Cụ thể:
+ 0 P 0,2
+ 0,21 P 0,4
+ 0,41 P 0,6
+ 0,61 P 0,8
+ 0,81 P 1
+ P = -1
Câu hỏi
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Tổng
điểm của
bài trắc
nghiệm
A
S
Đ
S
Đ
S
S
Đ
5
Học sinh
thể chưa rõ nghĩa, ý C và D cần có điều chỉnh để tăng sức hút đối với học
sinh.
I.7. Đánh giá một bài trắc nghiệm khách quan
Nếu như phân biệt câu trắc nghiệm để giúp chúng ta sửa chữa các câu
C
Đ
S
S
S
Đ
Đ
Đ
Đ
8
giá bài trắc nghiệm sẽ giúp chúng ta thay đổi độ tin cậy và độ giá trị của bài
(Đ: Câu hỏi được trả lời đúng và S: Câu trả lời sai)
trắc nghiệm thông qua việc thay đổi và bổ sung câu hỏi.
Qua bảng trên thấy câu 1, câu 6, câu 10 là những là những câu cần chú ý.
Câu 1 là câu có độ phân biệt âm. Những học sinh có tổng điểm cao trên
toàn bài trắc nghiệm đã trả lời sai câu hỏi này, trong khi những người có điểm
thấp lại trả lời đúng. Hiệu quả làm cho điểm tổng bị cụm lại vì nó làm tăng
điểm của người đạt điểm thấp và hạ điểm của người đạt điểm cao.
Một bài trắc nghiệm khách quan tin cậy để sử dụng kiểm tra - đánh giá
khi gồm những câu hỏi tương đối đạt tiêu chuẩn dựa vào những đặc điểm sau:
* Trung bình cộng số câu đúng: X =
fi
N
A
B
C
D
E
- Độ lệch chuẩn có công thức: S = S 2
Nhóm cao
17
20
3
4
6
Độ lệch chuẩn cho ta biết mức độ khác nhau trong điểm số của một
Nhóm thấp
14
Tính chất tin cậy của bài trắc nghiệm khách quan cho chúng ta biết mức
Loại 1: Bao gồm các loại chia độ giá trị dựa trên sự phán xét chuyên
độ chính xác khi thực hiện phép đo. Có hai nguồn sai số phép đo là sai số bên
môn hay phân tích một cách chặt chẽ mặt logic, bao gồm: độ giá trị quyết
ngoài (điều kiện tiến hành làm bài kiểm tra và điều kiện chấm bài) và sai số
định, độ giá trị nội dung, độ giá trị chương trình...
bên trong (bản thân bài kiểm tra). Vì vậy, một bài trắc nghiệm khách quan có
thể chấp nhận nếu nó thoả đáng về nội dung và có độ tin cậy 0,60 R 1,00.
Như vậy, một bài trắc nghiệm khách quan hay là bài phải có giá trị, tức
Độ giá trị nội dung được quan tâm nhất trong lĩnh vực dạy học, môn học, tức
là khi câu hỏi của một bài trắc nghiệm bao trùm thoả đáng nội dung môn học thì
bài trắc nghiệm đó gọi là độ giá trị về nội dung. Các trắc nghiệm kết quả học tập ở
lớp thường được đánh giá một cách tốt nhất trên cơ sở độ giá trị về nội dung.
là nó đo được cái cần đo, định đo, muốn đo.
Bài trắc nghiệm khách quan phải có độ tin cậy, một bài trắc nghiệm khách
Loại 2: Được suy ra hay dựa trên phân tích bằng những chứng thực hay
quan hay nhưng có độ tin cậy thấp thì cũng không có ích; một bài trắc nghiệm
trong việc đạt được những mục đích xác định.
Đảm bảo tính giá trị: Một bài kiểm tra coi là giá trị khi nó phản ánh được
mục tiêu đào tạo. Tính giá trị thể hiện trong việc lựa chọn nội dung kiểm tra phải
gắn với các mức độ nhận thức khác nhau. Nếu một bài kiểm tra chỉ gồm toàn câu
hỏi để khảo sát trí nhớ ở mức độ nhận biết thì việc đánh giá kết quả là rất thấp.
Để đảm bảo tính giá trị của bài kiểm tra cần phải được quan tâm đến tính
toàn diện của nó tức là cả chất lượng và số lượng. Trong quá trình kiểm tra đánh giá tuyệt đối không được đánh giá phiến diện, riêng lẻ từng mặt một.
Theo Ebel độ giá trị chia làm hai loại:
đang được đánh giá, phản ánh được mục tiêu môn học. Độ giá trị là khái niệm về
định tính hơn là định lượng, do vậy xác định độ giá trị về nội dung cần phải được
thảo luận trong điều kiện môn học cụ thể. Đánh giá độ giá trị của nội dung cần
phải dựa trên sự phán đoán, suy xét cụ thể về mục tiêu của môn học.
I.7.3. Mối quan hệ giữa độ giá trị và độ tin cậy [9]
Độ giá trị đòi hỏi phải có độ tin cậy: Để có giá trị, một bài trắc nghiệm
phải tương đối tin cậy. Nếu một bài trắc nghiệm quá kém chính xác thì điểm
của nó không thể có giá trị. Một bài trắc nghiệm về từ ngữ quá ngắn đến nỗi
các điểm số của nó là không tin cậy được thì rõ ràng nó không thể tiên đoán
với một mức độ chấp nhận được về sự thành công trong học tập mà bài trắc
nghiệm này muốn dự báo.
Độ tin cậy không cần đảm bảo cho độ giá trị: Trong khi độ tin cậy là một
điều kiện cần thiết cho độ giá trị thì nó lại không đảm bảo gì cho độ giá trị. Có
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-23-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
dạy học. Mức độ giá trị nội dung được ước lượng bằng so sánh nội dung của
bài trắc nghiệm khách quan với nội dung của chương trình học. Điều này
được thể hiện trong quá trình xác định mục tiêu kiểm tra và bảng đặc trưng để
dụng phương pháp thống kê trong xử lý kết quả kiểm tra. Từ đó phát hiện độ
đồng đều trong kết quả kiểm tra từng lớp học.
- Cách tiến hành và phương tiện kiểm tra đơn giản, có thể sử dụng phần
mềm máy vi tính.
I.8.2. Nhược điểm
- Hạn chế phần nào tư duy sáng tạo của học sinh - sinh viên
- Người giáo viên chỉ biết kết quả suy nghĩ của học sinh - sinh viên mà
không biết quá trình suy nghĩ, nhiệt tình hứng thú của họ đối với nội dung
được kiểm tra.
- Ít góp phần phát triển ngôn ngữ nói và viết
- Khó tránh khỏi trường hợp học sinh - sinh viên trả lời một cách ngẫu
phân bố câu hỏi, lựa chọn câu hỏi.
Giá trị tiên đoán: Trong một số lĩnh vực như hướng nghiệp, tuyển chọn...
nhiên do không nắm vững kiến thức, thiếu bình tĩnh hoặc thiếu thời gian.
từ điểm số của bài trắc nghiệm khách quan của từng người, chúng ta có thể
- Không kiểm tra được kỹ năng thực hành thí nghiệm hoá học.
tiên đoán mức độ thành công trong tương lai của người đó. Muốn tính giá trị
Tuy còn có những nhược điểm nhất định, nhưng trắc nghiệm vẫn là một
tiên đoán chúng ta cần phải làm hai bài trắc nghiệm: Một bài trắc nghiệm dự
- Trắc nghiệm là một phương pháp để đánh giá, xếp loại học sinh - sinh viên
qua đó xem xét quá trình dạy học của thầy cô giáo đạt yêu cầu đến mức độ nào.
-25-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-26-
+ Kiểm tra được kiến thức trên diện rộng trong khoảng thời gian ngắn.
+ Cung cấp cho học sinh kiến thức mới và củng cố kiến thức cơ bản qua
bài kiểm tra.
Chƣơng II
CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA HỌC PHẦN MỘT SỐ PHƢƠNG PHÁP
PHÂN TÍCH VẬT LÍ VÀ HOÁ LÍ TRONG HOÁ PHÂN TÍCH
I.10. Khả năng áp dụng của bài trắc nghiệm khách quan
Phương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận đều có những ưu điểm
và nhược điểm của riêng nó. Vì vậy chúng ta cần biết kết hợp khéo léo trong
II.1. Tóm tắt cơ sở lí thuyết của phƣơng pháp phân tích điện hoá
II.1.1. Phương pháp phân tích điện thế
II.1.1.1. Đặc điểm chung của phương pháp phân tích điện thế [5; 11; 12]
(II.1)
Trong đó : E 0 ox kh thế oxi hoỏ khử tiờu chuẩn của hệ : R - hằng số khớ lý
tưởng ; T - nhiệt độ tuyệt đối ; F - hằng số Faraday ; n - số electron tham gia
trong phản ứng điện cực ; aox akh - hoạt độ cá dạng oxi hoá và dạng khử; f ox,
fkh - hệ số hoạt độ cho dạng oxi hoá và dạng khử ; [Ox], [Kh] - nồng độ các
dạng oxi hoá và dạng khử.
Với giả thiết cỏc dung dịch loóng cú hệ số hoạt độ của các dạng gần
bằng 1 và hoạt độ của các dạng là gần bằng nồng độ, ta có thể viết phương
trỡnh Nernst ở dạng nồng độ :
Ex = E0 +
RT Ox
ln
nF Kh
(II.2)
Thay các giá trị R, F và chọn T = 298,15K thỡ
Ex = E0 +
0,059 Ox
lg
Kh
n
(II.3)
Đối với các hệ oxi hoá khử là thanh kim loại Me (Ag, Zn, Cu, Cd, Hg,
(II.4)
Điện cực bạc - bạc clorua làm bằng một dây bạc phủ một lớp AgCl bằng
Nếu phép đo tiến hành với các dung dịch chứa các ion của cùng một kim
loại nhưng ở các mức độ oxi hoá khử khác nhau. Thí dụ Mm+ và Mn+ và
m > n ta có thể viết phương trỡnh Nernst dưới dạng.
E
M n
E 0 M n
M
M
m
0,059 M
lg
m-n
M n
* Điện cực bạc - bạc clorua (Ag, AgCl) [12]
K
RT
RT
ln(Ag ) E 0 Ag
ln S
F
F
Ag
(Cl )
(II.6)
'
RT
RT
RT
lnKSP
ln(Cl ) E 0 Ag
ln(Cl- )
F
F
F
Ag
(II.7)
RT
lnK S
F
chung của chỳng là một bỡnh hoặc bầu thuỷ tinh, trong chứa thuỷ ngõn và
Cách thứ hai là phương pháp chuẩn độ điện thế.
một lượng nhỏ calomen (Hg2Cl2), một dây platin cắm trực tiếp vào thuỷ ngân
dùng làm tiếp diện. Toàn bộ được đặt trong dung dịch KCl. Đầu mút dung
II.1.1.2. Thế điện cực [12]
Việc đo thế điện cực trong quỏ trỡnh phõn tớch đo điện thế được thực
dịch KCl thường nút bằng thuỷ tinh xốp, xứ xốp hoặc bằng than tinh khiết.
Hg Hg 2Cl 2 KCl
hiện bằng cách đo sức điện động của một pin galvanic có hai điện cực :
1- Điện cực chỉ thị là điện cực mà thế của nó trực tiếp hoặc gián tiếp phụ
Phản ứng điện hoá :
thuộc nồng độ chất nghiên cứu.
Hg2Cl2 + 2e 2Hg + 2Cl-
2- Điện cực so sánh là điện cực thứ hai có điện thế ổn định, và đó biết giỏ
Phương trỡnh Nernst :
trị thế. Đây là điện cực dùng so sánh để đo thế điện cực của điện cực chỉ thị.
E
a. Điện cực so sánh [12]
RT
RT RT
lnK sp
(Cl ) E 0 Hg22
ln(Cl - )
2F
F
F
Hg
Hg
Hg
Trong đó: E 0'
Hg 2 2
E 0 Hg2Cl2
Hg
Hg
E 0 Hg 22
Hg
RT
Điện cực chỉ thị là điện cực mà thế của nó trực tiếp hay gián tiếp phụ
Cả hai phương pháp đo điện thế trực tiếp và chuẩn độ điện thế đều cú
ứng dụng rộng rói trong thực tế phõn tớch.
thuộc vào nồng độ chất nghiên cứu.
Phương pháp đo điện thế trực tiếp quan trọng nhất và hay gặp nhất là
Yêu cầu của điện cực chỉ thị :
+ Thế điện cực phải lặp lại và thiết lập nhanh, điện cực phải làm việc
việc xác định pH của các dung dịch bằng điện cực thuỷ tinh cũng như việc
xác định một số ion khác nhờ điện cực chọn lọc ion để xác định Cu 2+, Ag+,
thuận nghịch với chất nghiên cứu.
+ Điện cực phải có độ bền hoá học để không tác dụng với các cấu tử
khác trong dung dịch nghiên cứu.
Trong phương pháp điện thế người ta dùng điện cực kim loại và điện cực
màng chọn lọc làm điện cực chỉ thị.
Ca2+, Na+, Cl-, F-, S2-… và đó ứng dụng thành cụng cỏc điện cực này trong
các đối tượng công nghiệp và sản phẩm môi trường. Người ta cũng đó thiết kế
bộ cảm biến thớch hợp cho việc theo dừi, kiểm tra, điều khiển một số quỏ
trỡnh sản xuất cụng nghiệp.
Thí dụ : Đo pH của dung dịch
* Điện cực kim loại loại một :
Dùng dây hay bản kim loại nhúng trong dung dịch muối tan của kim loại
đó. Ag, Hg, Cd… là các điện cực thuận nghịch và lặp lại. Cr, Co, Al… là các
Vật liệu chế tạo điện cực là màng chất rắn hay màng chất lỏng có chứa
dịch chuẩn có pH đó được biết chính xác. Biết a, b và giá trị đo Ex ta có thể dễ
ion cần xác định. Điện cực này làm việc không phải do phản ứng điện hoá có
sự vận chuyển ion mà do hiệu số điện thế xuất hiện trên bề mặt ngăn cách pha
dàng tính pHx.
Việc ứng dụng đo điện thế của dung dịch phân tích để xác định điểm
tương đương trong phân tích thể tích (chuẩn độ điện thế) được ứng dụng rộng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-31-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-32-
rói trong cỏc quỏ trỡnh định phân axit, bazơ, các muối theo phương pháp
Ea = E 0 a
trung hoà, oxi hoá khử, tạo kết tủa, chuẩn độ phức chất. Phương pháp chuẩn
độ điện thế sử dụng điện cực màng chọn lọc ion có thể xác định điểm tương
cực một điện thế: U >Ec - Ea.
II.1.2.2. Thế phân huỷ và quá thế
Thế phân huỷ là hiệu điện thế bé nhất của nguồn ngoài cần đặt vào hai
cực của bỡnh điện phân để sự điện phân xảy ra trong điều kiện nào đó.
Thế phân huỷ phải lớn hơn sức điện động của pin galvanic thuận nghịch
G
do hệ thống điện cực bỡnh điện phân tạo ra. Theo định luật Om, ta có:
Giữa các điện cực và dung dịch có
I=
lớp điện kép ngăn cách như một tụ
điện mà dũng một chiều không thể
E 'ch E N
R
Hay E’ch = IR + EN
Trong đó: I - Cường độ dũng (A)
qua được.
R - điện trở của bỡnh điện phân ()
Bởi vậy, muốn dũng điện đi qua
E’ch - điện thế chung đặt vào hai cực bỡnh điện phân (V)
Quá thế phụ thuộc bản chất của điện cực, các thành phần của phản ứng
điện cực, trạng thái bề mặt của điện cực, điều kiện tiến hành điện phân (mật
cần phải lớn hơn điện thế cân bằng của điện cực.
độ dũng, nhiệt độ) hay Ech = (Ea + a) - (Ec + c) + IR
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-33-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-34-
(*)
như Cu2+ hay Ag+ có thể thực hiện trong môi trường rất axit mà không xuất hiện
Trong đó: Ea - thế anot; Ec - thế catot
một khó khăn nào. Với ion Ni2+ hay Cd2+ cần môi trường trung tính hay kiềm.
a, c - quá thế anot và quá thế canot
Ta có thể tính Ea theo phương trỡnh Nernst. Dựa vào (*) ta có thể tính
Việc khống chế pH một cách cẩn thận có thể cho phép tiến hành phân
bộ điện trở R và bỡnh điện phân như
cần phải quan tâm để ngăn ngừa sự tách ra khi hiđro bằng cách khống chế
hỡnh bờn:
catot hay bằng cách chống phân cực.
A
R
B
V
Bằng cách thay đổi điện trở R có
- Mật độ dũng: Sự kết tủa điện phân cũng giống như sự kết tủa hoá học,
ở đây kích thước tinh thể giảm đi với sự tăng lên của tốc độ tạo ra các trung
Pt
thể giữ cho cường độ dũng điện
không đổi trong quá trỡnh điện phân
Pt
Hỡnh 2: Thiết bị điện phân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-35-
kết tủa kim loại trở lại. Sau đó sấy khô rồi cân và tính khối lượng kết tủa
kim loại đó tỏch ra.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-36-
Việc tách Cu được xem là hoàn toàn nếu nồng độ ion Cu 2+ cũn lại
b, Điện phân khi khống chế thế
trong dung dịch là 10 -6 mol.l-1 hoặc bé hơn. Thế catot cần thiết để tách
Phương pháp điện phân khi cường
thiếu chọn lọc bởi vỡ khi tăng điện
hoàn toàn Cu sẽ là:
B
độ dũng khụng đổi có nhược điểm là
khống chế thế
lg[Cu2+] =
0,059
lg[Cu2+]
2
0,7935 0,337
= -38,3 nghĩa là
0,0295
[Cu2+] = 10-38,3 (mol/l)
Điều đó khẳng định đó tỏch được hai kim loại ra khỏi nhau:
thế
c, Điện phân với catot thuỷ ngân
Thiết bị điện phân về cơ bản giống như sơ đồ thiết bị điện phân khi cường độ
Nét đặc biệt của quỏ trỡnh điện phân với catot thuỷ ngân là có quá thế
dũng khụng đổi, chỉ có khác là trong dung dịch điện phân người ta lắp thêm một
hiđro lớn và có thể tạo hỗn hỗng với nhiều kim loại. Quá thế hiđro trên điện
điện cực so sánh S và nối điện cực này với điện cực chính qua một điện thế kế.
cực thuỷ ngân vượt quỏ 1V, vỡ vậy mà khi điện phân với catot có thể thoát ra
V, Ti và một số nguyên tố khác. Điều đó cho phép làm đơn giản và phân tích
Zn
Để có thể tách Cu ra khỏi dung dịch bằng phương pháp điện phân ta cần
0,059
có thế catot là: Ec = E Cu 2 +
lg (0,1) = 0,3075 (V)
Cu
2
Trong phương pháp nội điện phân (hay điện phân bên trong) không cần
Và để tách Zn ta có thế catot:
Ec = E 0
Zn 2
+
Zn
nhanh một số đối tượng khoáng vật, hợp kim...
d, Phương pháp nội điện phân
0
dùng nguồn điện ngoài. Ở đây người ta cho kim loại có thế điện cực dương
0,059
lg (0,1) = -0,7935 (V)
Thớ dụ nếu dựng Pb làm anot thỡ trờn catot platin chỉ thoỏt ra cỏc kim
2+
Thiết bị để đo cực phổ rất đơn giản: Nó bao gồm một nguồn điện một
loại cú thế tiêu chuẩn dương hơn thế tiêu chuẩn của cặp Pb /Pb. Bằng cách
chiều 4V đến 6V, một dây trở rất chính xác, một vôn kế đo thế và một điện kế
thay đổi anot, người ta có thể tách ra kim loại có thế tiêu chuẩn gần nhau. Một
nhạy đến 10-9 A.
ưu điểm khác của phương pháp là thiết bị dùng cho việc tách hết sức đơn
P - Nguồn điện (pin hay ăcqui)
giản, cú thể thực hiện ở bất kỳ phũng thớ nghiệm nào.
AB- dây điện trở chính xác
Sau khi tách được kim loại, người ta có thể cân catot platin để tính hàm
P
V
V- vôn kế
II.1.3. Phương pháp phân tích cực phổ
đường kính trong khoảng 0,05mm đến 0,06mm và một bầu thuỷ ngân. Chiều
II.1.3.1. Nguyên tắc của phương pháp cực phổ [5 ; 11 ; 12]
cao cột thuỷ ngân tính từ mặt thoáng chất lỏng đến đầu mút mao quản.
Cực phổ là một phương pháp điện phân trong những điều kiện đặc biệt:
-3
-6
- Chất bị điện phân có nồng độ rất nhỏ, từ 10 đến 10 mol/l, trong đó
Thường người ta có thể điều chỉnh được chiều cao cột thuỷ ngân để được chu
kỳ giọt từ 3-5 giây/giọt...
cần có mặt chất điện li trơ ở nồng độ lớn ít nhất là 100 lần nồng độ chất bị
Điện cực giọt thuỷ ngân rất tinh khiết đảm bảo bề mặt giọt đồng nhất
điện phân. Điều đó đảm bảo cho quỏ trỡnh khuếch tán của chất điện phân tới
một cỏch lý tưởng. Trong quỏ trỡnh đo phổ bề mặt giọt luôn luôn đổi mới do
điện cực làm việc.
các giọt xuống liên tiếp nhau.
-40-
đưa vào hai cực của bỡnh điện phân đạt đến giá trị thế khử của ion nghiên cứu
sẽ xảy ra quỏ trỡnh khử của ion kim loại trên điện cực giọt thuỷ ngân và tạo
Mối liên hệ giữa cường độ dũng giới hạn Id với nồng độ ion kim loại CM
và các đại lượng khác được mô tả bằng phương trỡnh Inkovitch:
Id = 0,627n.F.CM.D1/2m2/3t1/6
thành hỗn hống.
Mn+ + ne + Hg M(Hg)
Trong đó:
n - số electron trao đổi khi điện phân
Điện thế của điện cực giọt thuỷ ngõn khi xảy ra quỏ trỡnh thuận nghịch
m - khối lượng thuỷ ngân từ mao quản tách ra trong 1s
ở trờn được tính theo phương trỡnh Nernst:
E = E0 +
F - số Faraday (96500)
D- hệ số khuếch tán có thứ nguyên cm2.s-1
II.1.3.5. Thế bán sóng E1/2 và phân tích cực phổ định tính
II.1.3.3. Cỏc loại dũng trong phõn tớch cực phổ [11; 12]
Trong thành phần dũng điện chạy qua bỡnh điện phõn, dũng sinh ra do
sự khuếch tỏn ion kim loại đến sát bề mặt điện cực và gây phản ứng điện cực
Thế bán sóng E1/2 là đặc trưng định tính của chất nghiên cứu. Thường
người ta xác định điện thế bán sóng bằng phương pháp đồ thị
Đại lượng lg
- người ta gọi đú là dũng khuếch tỏn.
Thành phần dũng điện sinh ra do sự dịch chuyển các ion đến các điện
cực do tác dụng của điện trường - người ta gọi dũng điện sinh ra do sự dịch
chuyển cỏc ion khụng tham gia quỏ trỡnh điện cực là dũng dư. Dũng dũng dư
cản trở việc đo thành phần dũng khuếch tỏn (đặc trưng cho ion nghiên cứu)
nên người ta phải tỡm cỏch loại bỏ dũng dịch chuyển khi phõn tớch theo
phương pháp cực phổ. Để làm giảm và đi đến loại bỏ dũng dư, người ta đưa
vào dung dịch phân tích một lượng chất điện li trơ (không tham gia phản ứng
điện cực) có nồng độ lớn hơn nồng độ ion nghiên cứu nhiều lần. Người ta gọi
đây là nền hoặc phông.
II.1.3.4. Phương trỡnh Inkovitch
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
(*)
Từ phương trỡnh (*) ta thấy cường độ dũng giới hạn I d phụ thuộc tuyến
bằng đồ thị
II.1.3.6. Các phương pháp phân tích cực phổ [11; 12]
a, Phương pháp mẫu chuẩn
-41-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-42-
Dùng một dung dịch chuẩn: Ghi cực phổ đồ của dung dịch chuẩn (có
Đây là một cải tiến phương pháp đo trong cực phổ dũng một chiều nhằm
nồng độ đó biết chớnh xỏc) và của dung dịch phõn tớch trong cựng điều kiện
tăng độ chọn lọc của phương pháp phân tích cực phổ. Trong phương pháp đo
thực nghiệm như sau: Cx = Cch
hx
h ch
này thay cho việc đo theo đường cong I - E người ta dùng đường cong
Thêm vào dung dịch nghiên cứu một lượng dung dịch chuẩn có nồng độ
Cch, ta lại ghi dũng cực phổ Ix+ch : Ix+ch = K(Cx+Cch)
f, Phương pháp chuẩn độ ampe [6 ; 11 ; 12]
Cố định thế đặt vào ứng với thế khử của ion kim loại. Cho dần thuốc thử vào
(***).
dung dịch chuẩn độ (thực hiện phản ứng chuẩn độ) và sau mỗi lần chuẩn độ lại
Từ (**) và (***) ta có:
Cx = Cch
Thực chất của phương phỏp cực phổ dũng xoay chiều là bờn cạnh nguồn
ghi cực phổ đồ để xác định Id rồi vẽ đồ thị phụ thuộc Id - thể tích dung dịch chuẩn.
Ix
I x ch - I x
Trên đồ thị có hai có hại đoạn thẳng. Điểm cắt nhau của chúng tương
c, Phương pháp đường chuẩn
ứng với điểm tương đương của phép chuẩn độ.
h
Xác định độ cao sóng cực phổ của
Cường độ dũng I d kCPb
2
Lúc bắt đầu chuẩn độ Id rất lớn, càng chuẩn độ C Pb càng giảm dần. Bởi
2
2-
h b
tham số a, b của phương trỡnh đường chuẩn rồi tính.: Cx = x
a
vỡ ion SO4 không bị khử nên sau điểm tương đương (khi có dư SO 42-) thỡ
đường chuẩn độ gần như nằm ngang.
Trong các phương pháp chuẩn ampe người ta hay dùng phản ứng tạo kết tủa,
d, Phương pháp đo vi phân
phản ứng tạo phức chất và phản ứng oxi hoá khử làm phản ứng định phân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-43-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-44-
H
Zn
2
H 2O
2
H 2O
II.2. Phƣơng pháp tách chiết và sắc kí
R đặc trưng cho khả năng tách ZnDZ ra khỏi tướng nước
II.2.1. Tách bằng phương pháp chiết [6,11,12,14]
* Hiệu suất chiết hay phần trăm chiết (E%) biểu diễn bằng tỉ số giữa số
2
II.2.1.1. Một số khái niệm chung
phân tử bị chiết và tổng số phân tử có trong dung dịch ban đầu.
* Chất A tan được trong hai dung môi 1 và 2 không trộn lẫn với nhau.
Chất A sẽ phân bố giữa hai dung môi tới khi đạt tới cân bằng:
Cựng một thể tớch V nếu chiết 1 lần thỡ lượng chất cần chiết cũn lại sẽ
nhiều hơn so với việc chia nhỏ thể tích V đó ra n lần rồi chiết.
D
Ahc
A
O
C6H5
N
N
N
Pb/2
C6H5
Đồng II Salixilat
Chỡ II Dithizonat
(phức vũng 6 cạnh)
(phức vũng 6 cạnh)
b, Chiết các hợp chất phức ion liên hợp
H 2O
Cu/2
Ví dụ:
Theo định luật tác dụng khối lượng áp dụng cho cân bằng trên ta có:
H
N
ZnDZ 2
+
2H+
cation kim loại với các phân tử như: halogen, thioxianat.
Ví dụ: HFeCl4, HSbCl6, HInBr4, H2Hg(SCN)4..
+ Các muối phức sonvat hoá bởi dung môi dùng để chiết
Ví dụ: UO2-(NO3)2 - 2TBT, EuCl5- 3TBT (TBT: Tri butyl photphat)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-46-
và được kí hiệu là R(-) – H(+)
+ Anionit là loại nhựa có khả năng trao đổi các anion – là các hợp chất
kim loại) với ion kim loại MII thành phức MIIAm.... Phức này được chiết bằng
cao phân tử mà trong thành phần có chứa các nhóm amin: -NH2, NH3-N-....
dung môi hữu cơ. Tách tướng hữu cơ sau đó thêm vào dung dịch M I để xảy ra
b, Hấp dung của ionit
phản ứng trao đổi:
mMI
+
(H2O)
Mỗi loại ionit có khả năng hấp thụ một lượng nhất định các ion. Giá trị
nMIIAm
mMIAn
(hữu cơ)
(hữu cơ)
+
Sắc kí giấy được dựng khỏ rộng rói để tách các chất hữu cơ và vô cơ.
Khi giải chiết, người ta thường dùng tướng nước có thành phần (pH,
chất tạo phức....) khác với thành phần trong tướng nước của dung dịch đó
Giấy dùng trong sắc kí giấy là loại giấy đặc biệt, trước khi dùng nó được tẩm
và chế hoá bằng các dung dịch muối khác nhau như: KNO3, NH4NO3....
dựng để chiết.
Sắc kí giấy có thể tiến hành theo một trong các phương pháp sau:
II.2.2. Tách bằng sắc kí [6; 11; 12]
+ Sắc kí giấy đi lên, sắc kí giấy đi xuống
II.2.2.1. Sắc kí trao đổi ion
+ Sắc kí giấy một chiều, sắc kí giấy hai chiều
II.3. Tóm tắt cơ sở lý thuyết của phƣơng pháp đo quang [3; 5; 11; 12; 13]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-47-
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-48-