Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Nước ta là nước có tốc độ phát triển về công nghệ thông tin ở mức độ cao, tỷ lệ
tăng trưởng thuê bao điện thoại và điện thoại di động trong vài năm trở lại đây rất
nhanh chóng. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, số thuê bao điện thoại cả nước
tính đến cuối tháng 11/2011 ước tính đạt được 131,7 triệu thuê bao, gồm 15,5 triệu
thuê bao cố định và 116,2 triệu thuê bao di động.
Trong những năm qua, thị trường viễn thông Việt Nam liên tiếp có sự tham gia
của các công ty thông tin di động mới như Vietnammobile, EVN, BeeLine …..làm thị
phần của các công ty có sự thay đổi. Tuy vậy, tính đến tháng 9 năm 2011, thị phần của
ba mạng MobiFone, Viettel, Vinaphone vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thị phần viễn
thông của cả nước. Dẫn đầu về thị phần là Công ty Viettel chiếm 38,5%, tiếp đến là
Công ty MobiFone chiếm 33,32%, xếp thứ 3 là Công ty Vinaphone chiếm 28,19%.
Sự tham gia của các công ty thông tin di động mới vào thị trường làm cho cuộc
cạnh tranh giữa các nhà cung cấp mạng di động trở nên quyết liệt. Để tạo ra lợi thế
cạnh tranh cho mình các công ty thông tin di động đã đầu tư vào dịch vụ giá trị gia
tăng như dịch vụ 3G, dịch vụ nhạc chờ..,đồng thời các nhà cung cấp mạng di động
cũng rất chú trọng đến công tác chăm sóc khách hàng. Lớp trẻ - đặc biệt là sinh viêncũng là đối tượng khách hàng được các công ty thông tin di động quan tâm, bởi đây là
tầng lớp sử dụng điện thoại khá phổ biến. Theo thống kê của Nielsen năm 2010, dân số
Việt Nam nằm trong độ tuổi 15 – 24 chiếm 20% so với tổng dân số, và có đến 50%
trong số đó sử dụng điện thoại di động. Sinh viên là lực lượng có số lượng đông đảo,
độ tuổi ở vào thời kỳ hợp lý cho việc tiếp cận và sử dụng điện thoại di động. Chính vì
vậy, các Công ty Mobiphone, Viettel, Vinaphone liên tục có những chương trình nhằm
thu hút đối tượng sinh viên. Chương trình tặng sim cho tân sinh viên đầu năm học
được Mobiphone triển khai từ năm 2008, sau đó Viettel, Vinaphone cũng đã triển khai
chương trình này. Ngoài ra, các công ty thông tin di động còn sử dụng hình thức
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2012.
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
2
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm giải quyết được các mục tiêu nghiên cứu đặt ra với đề tài nghiên cứu
“Phân tích các nhân tố tác động đến việc lựa chọn nhà cung cấp mạng di động của sinh
viên trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế”, đề tài sử dụng kết hợp cả phương pháp
định tính và định lượng. Phương pháp định tính được sử dụng ở thời kỳ đầu của cuộc
nghiên cứu nhằm thu thập các tài liệu tham khảo và các thông tin phục vụ cho việc xây
dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm
điều tra, đánh giá và đo lường các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các yếu
tố đó đến sự lựa chọn của sinh viên trường Đại học Kinh tế đối với các nhà cung cấp
mạng di động.
Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu định tính dùng kỹ thuật thảo luận nhóm,
nhằm điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát đo lường các khái niệm nghiên cứu. Đầu
tiên là phỏng vấn các chuyên gia mà cụ thể ở đây là các nhân viên tại Công ty
MobiFone chi nhánh Huế. Sau đó, dựa trên kết quả đạt được sẽ tiến hành thảo luận
nhóm tiêu điểm (focus group) bao gồm một số sinh viên trong trường được lựa chọn
(mời nhóm sinh viên từ 8 đến 10 người) và từ đó xác định thông tin cần thu thập, các
nội dung cần nghiên cứu và để thiết kế bảng hỏi ở thời kỳ đầu.
Nghiên cứu định lượng: được thực hiện thông qua phương thức phỏng vấn trực
tiếp các sinh viên của trường Đại học Kinh tế Huế. Nghiên cứu này nhằm đánh giá
dụng để đánh giá quá trình lựa chọn trước khi đi đến quyết định sử dụng dịch vụ thông tin
di động. Tham khảo bài viết “Nghiên cứu lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực
thông tin di động tại thị trường Việt Nam”, hai tác giả Phạm Đức Kỳ và Bùi Nguyên
Hùng đã xây dựng mô hình bao gồm hai nhóm nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành
của khách hàng, đó là “sự thỏa mãn”, “rào cản chuyển đổi”
Một nghiên cứu khác cũng liên quan đến đề tài này, đó là luận văn thạc sĩ của tác giả
Đinh Thị Hồng Thúy. Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra sáu nhân tố chính ảnh
hưởng đến việc lựa chọn nhà cung cấp mạng di động của sinh viên như sau: chất lượng
phục vụ, chất lượng kỹ thuật, dịch vụ gia tăng, sự hấp dẫn, chi phí, độ tin cậy.
Đối với dữ liệu sơ cấp, thì đây là loại dữ liệu được thu thập bằng bảng hỏi và
được sử dụng để tiến hành các kiểm định cần thiết nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên
cứu. Để tìm ra các sinh viên đưa vào mẫu, tôi áp dụng phương pháp chọn mẫu phân
tầng , kết hợp với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản.
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
Bảng 1: Phân bố số lượng mẫu cho mỗi khóa.
Số sinh viên
Tỷ lệ (%)
Số lượng mẫu
7
Tài Chính Kế Toán
387
31,24
16
Khóa 44
1167
30,98
46
Quản Trị Kinh Doanh
355
30,42
14
Kinh Tế Phát Triển
275
398
29,24
16
Kinh Tế Phát Triển
372
27,33
15
Khoa HTTTKT & KTCT
197
14,47
8
Tài Chính Kế Toán
394
28,96
15
Khóa 43 có 1239 sinh viên chiếm 32,89%, nên số mẫu tương ứng là 50 sinh viên.
Trong đó:
+ Quản Trị Kinh Doanh: 12 sinh viên
+ Kinh Tế Phát Triển: 15 sinh viên
+ Khoa HTTTKT & KTCT: 7 sinh viên
+ Tài Chính Kế Toán: 16 sinh viên
Khóa 44 có 1167 sinh viên chiếm 30,98%, nên số mẫu tương ứng là 46 sinh viên.
Trong đó:
+ Quản Trị Kinh Doanh:14 sinh viên
+ Kinh Tế Phát Triển: 11 sinh viên
+ Khoa HTTTKT & KTCT: 7 sinh viên
+ Tài Chính Kế Toán: 14 sinh viên
Khóa 45 có 1361 sinh viên chiếm 36,13%, nên số mẫu tương ứng là 54 sinh viên.
Trong đó:
+ Quản Trị Kinh Doanh: 16 sinh viên
+ Kinh Tế Phát Triển: 15 sinh viên
+ Khoa HTTTKT & KTCT: 8 sinh viên
+ Tài Chính Kế Toán: 15 sinh viên
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
6
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
Sau khi đã có số lượng sinh viên mỗi Khoa cần phải đưa vào mẫu, thì tôi áp dụng
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản để đưa các sinh viên cụ thể vào mẫu điều tra.
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
Cơ sở lý thuyết
Thang đo
sơ bộ
Nghiên cứu định tính
Khảo sát n = 20
Thang đo
chính thức
Nghiên cứu định lượng
-
Khảo sát n = 150
Mã hoá dữ liệu
Làm sạch dữ liệu
Phân tích EFA
Phân tích hồi quy bội
Kết quả nghiên cứu
Theo Lưu Văn Nghiêm (2008) dịch vụ bao gồm 4 đặc trưng cơ bản, mức độ biểu
lộ các đặc trưng sẽ khác nhau ở từng loại dịch vụ cụ thể.
Thứ nhất, tính vô hình hay tính phi vật chất: Đây là đặc điểm cơ bản của dịch
vụ. Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể.
Tuy vậy, sản phẩm dịch vụ vẫn mang nặng tính vật chất. Tính không hiện hữu được
biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ. Nhờ đó người ta xác định được mức độ
sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức độ trung gian giữa dịch vụ và
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
9
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
hàng hóa hiện hữu.
Thứ hai, dịch vụ có tính không đồng nhất: Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn
hóa được. Trước hết do hoạt động cung ứng. Các nhân viên cung cấp dịch vụ không
thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau. Hơn nữa
khách hàng tiêu dùng là những người quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận
của họ. Trong những thời gian khác nhau thì cảm nhận cũng khác nhau, những khách
hàng khác nhau cũng có sự cảm nhận khác nhau. Sản phẩm dịch vụ sẽ có giá trị cao
khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng. Về căn bản tính biến thiên trong dịch
vụ cũng dễ xảy ra và xảy ra thường xuyên hơn so với sự không phù hợp của các sản
phẩm hữu hình, bởi dịch vụ có mức độ tương tác con người cao. Đặc điểm này làm
cho việc chuẩn hóa dịch vụ trở nên khó thực hiện hơn.
Thứ ba, dịch vụ có tính không tách rời: Tính không tách rời của dịch vụ ở đây
muốn nói tới việc khó khăn trong phân biệt giữa việc tạo thành một dịch vụ và việc sử
dụng dịch vụ như là hai công việc riêng biệt hoặc hai quá trình riêng biệt. Một dịch vụ
- Tính đồng thời, sản xuất gắn liền tiêu thụ.
- Không đồng nhất.
Ta thấy dịch vụ được cung cấp ngay khi khách hàng kết nối, nghĩa là không chỉ
có nhà cung cấp mà cả khách hàng tham gia vào quá trình tạo ra sự giao dịch, như vậy
nó không được sản xuất trước và lưu trữ như hàng hóa thông thường khác. Ta không
nhìn thấy được sự kết nối, chất lượng của dịch vụ điện thoại thông thường được đánh
giá thông qua các tiêu chí như: sự đón tiếp, sự thân thiện của nhân viên giao dịch, khả
năng kết nối cuộc gọi nhanh, chất lượng của cuộc đàm thoại….. Do các yếu tố chất
lượng dịch vụ là vô hình, nên xảy ra hiện tượng kết quả của chất lượng dịch vụ là khác
nhau tùy từng thời điểm, nơi chốn, công cụ và người tạo ra sản phẩm. Các nhà cung
cấp dịch vụ cần nắm rõ các yếu tố này để cung cấp dịch vụ cho hiệu quả.
1.2.2 Phân loại dịch vụ điện thoại di động
Ngày nay với những công nghệ mới về truyền dữ liệu tốc độ cao, di động đa
phương tiện, các dịch vụ di động được chia thành 4 nhóm (Sự phát triển của các dịch
vụ di động 2007):
Dịch vụ cuộc gọi: Bên cạnh những hình thức gọi truyền thống giữa các điện
thoại, dịch vụ cuộc gọi di động còn có nhiều hình thức mới và phong phú khác:
o VoiceIP
o Cuộc gọi truyền hình
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
11
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
o Cuộc gọi bằng hội nghị Internet
o Mobile internet
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
Chất lượng viễn thông nói chung và chất lượng viễn thông di động nói riêng
trước đây được hiểu đơn giản ở 2 khía cạnh:
- Chất lượng dịch vụ thể hiện qua các chỉ tiêu như tốc độ truyền đưa tin tức, độ
chính xác, trung thực của việc truyền đưa và khôi phục tin tức, độ hoạt động ổn định
của các phương tiện thông tin : vùng phủ sóng, thời gian kết nối cuộc gọi, chất lượng
đàm thoại.
- Chất lượng phục vụ thể hiện qua các tiêu chí như mức độ phổ cập của các
phương tiện thông tin, mức độ thỏa mãn nhu cầu xã hội về dịch vụ thông tin, khả năng
của mạng lưới giao dịch, thái độ của nhân viên giao dịch, đảm bảo bí mật thông tin
khách hàng.
Tuy nhiên cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công
nghệ hiện đại, của ngành quản trị kinh doanh, marketing và chăm sóc khách hàng,
theo đó các kỳ vọng đòi hỏi của khách hàng về chất lượng dịch vụ cao hơn, mở rộng
sang một số khía cạnh khác: giá dịch vụ, dịch vụ giá trị gia tăng, độ tin cậy, đạt tiêu
chuẩn chất lượng ngành..., làm cho việc đánh giá và quản lý chất lượng dịch vụ trở
nên khó khăn. Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu cố gắng định nghĩa và đưa ra các mô
hình cũng như thang đo để đo lường chất lượng dịch vụ. Chẳng hạn, vào năm 1988
Parasuraman và các cộng sự đã xây dựng thang đo Servqual rất nổi tiếng đo lường
chất lượng dịch vụ thông qua năm thành phần chính là sự tin cậy, sự đảm bảo, các yếu
tố hữu hình, sự đáp ứng, sự đồng cảm. Tuy nhiên đã có một số khó khăn trong việc đo
lường kỳ vọng của khách hàng khi sử dụng thang đo này, nên vào năm 1992 Cronin
và Taylor đưa ra một biến thể của thang đo Servqual là thang đo Servperf. Thang đo
Servperf được đưa ra để khắc phục những khó khăn của thang đo Servqual cũng với 5
nhân tố của chất lượng dịch vụ: độ tin cậy, độ phản hồi, sự thông cảm, sự bảo đảm và
tính hữu hình. Ngoài ra, việc đánh giá chất lượng dịch vụ còn được nhà nghiên cứu
Gronroos đo lường thông qua hai thành phần của chất lượng dịch vụ gồm chất lượng
Nhận biết
nhu cầu
Đánh giá
Quyết
Đánh giá
các
định
sau khi
phương án
mua
mau
Tìm kiếm
thông tin
Hình 2: Sơ đồ quá trình quyết định mua
Nhận biết nhu cầu: Là sự nhận biết về một nhu cầu muốn được thõa mãn của
người tiêu dùng, là cảm giác của người tiêu dùng về một sự khác biệt giữa trạng thái
hiện có với trạng thái họ mong muốn. Nhu cầu có thể phát sinh do kích thích bên trong
(các quy luật sinh học, tâm lý…) hoặc bên ngoài (kích thích của marketing) hoặc cả
Nguồn thông tin thương mại: quảng cáo, triển lãm, hội chợ…
Nguồn thông tin cá nhân: bạn bè, gia đình, đồng nghiệp, những người xung quanh…
Nguồn thông tin từ kinh nghiệm thực tế: qua tiếp xúc, dùng thử, nghiên cứu sản phẩm.
Nguồn thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng
Đánh giá các phương án: Giai đoạn tiếp theo của quá trình quyết định mua,
người tiêu dùng sẽ xử lý các thông tin để đánh giá các thương hiệu có khả năng thay
thế nhau, nhằm tìm kiếm được thương hiệu mà người tiêu dùng cho là hấp dẫn nhất.
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
15
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
Dự đoán đươc cách thức đánh giá của người tiêu dùng giúp doanh nghiệp chủ động
hơn, đưa ra sản phẩm đáp ứng được các điều kiện mà khách hàng mong muốn.
Sinh viên căn cứ vào các thuộc tính, đặc điểm của dịch vụ và lợi ích do từng nhà
cung cấp mang lại, mà họ đánh giá các nhà cung cấp theo nhiều tiêu chí và theo cách
riêng của mình, tùy thuộc vào sở thích, nhu cầu, quan niệm và khả năng của từng người.
Quyết định mua: Sau khi đánh giá xong các phương án, người tiêu dùng có một
“bộ nhãn hiệu lựa chọn” được sắp xếp theo thứ tự trong ý định mua. Song, ý định mua
chưa phải là chỉ báo đáng tin cậy cho quyết định mua cuối cùng. Từ ý định mua đến
quyết định mua còn chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố kìm hãm như: gia đình, bạn bè,
dư luận, rủi ro đột xuất, sự sẵn có, thiếu hụt của sản phẩm……Nghiên cứu ở bước này
giúp các nhà marketing tháo gỡ ảnh hưởng của các yếu tố kìm hãm giúp tạo điều kiện
cho quyết định mua được suôn sẻ.
Sau khi đánh giá các lựa chọn, phân tích điểm được và mất của từng phương án,
lượng, tính kinh tế, hay giá trị về đẳng cấp hay không.
Mọi cân nhắc khi chọn lựa mạng đều phụ thuộc vào sự đánh giá tính phù hợp của
các dịch vụ mạng so với sở thích cá nhân; nên sự lựa chọn này phụ thuộc vào nhận thức
của người tiêu dùng về các dịch vụ hay sản phẩm đó. Do vậy, quảng cáo, khuyến mãi, ý
kiến bạn bè người thân, hay bất kỳ thông tin nào tác động tới nhận thức của người tiêu
dùng, đều ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn của họ. Họ càng đánh giá cao thông tin từ
quảng cáo hay khuyến mãi, thì càng chứng tỏ những thông tin đó là bổ ích cho việc ra
quyết định của người tiêu dùng. Tùy thuộc vào những đánh giá này, chúng ta có thể
nhận biết được giá trị thương hiệu của từng nhà cung cấp dịch vụ mạng. Và có thể đánh
giá được ảnh hưởng của những nhận thức đó tới quyết định thuê bao của họ.
Một cách khái quát, giá trị thương hiệu của mỗi mạng di động phụ thuộc chủ yếu
vào chất lượng sóng và các tiện ích mạng. Mạng càng có uy tín cao, thì càng có thể đòi
hỏi mức giá cước cao hơn. Ngược lại, những mạng chưa tạo được giá trị thương hiệu
thì buộc phải đưa ra mức giá cước thấp để thu hút lớp người tiêu dùng, mà tính kinh tế
là yếu tố quan trọng trong quyết định thuê bao của họ.
1.3.3 Các nhóm lợi ích của dịch vụ điện thoại di động
Các công ty viễn thông cung cấp dịch vụ điện thoại di động, khách hàng mua
dịch vụ và cái họ cần ở đây là những lợi ích mà dịch vụ điện thoại di động đem lại.
Chính những lợi ích này tạo ra giá trị dịch vụ khác nhau của từng nhà cung cấp và thỏa
mãn các nhu cầu của khách hàng. Có thể phân ra ba nhóm lợi ích như sau:
Lợi ích chức năng: đó là sự thỏa mãn nhu cầu kết nối thông tin khi cần liên lạc
với người khác vào mọi lúc, mọi nơi. Khi khách hàng muốn nói chuyện với bạn bè,
khách hàng thực hiện kết nối và họ đàm thoại, khi khách hàng muốn thông tin cho
người thân biết về một vấn đề, họ soạn tin nhắn và gửi đi, người thân nhận tin nhắn và
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
17
Khóa luận tốt nghiệp
18
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
CHƯƠNG 2 - PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC
LỰA CHỌN NHÀ CUNG CẤP MẠNG DI ĐỘNG CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC HUẾ
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Cùng với sự phát triển chung của ngành viễn thông Việt Nam, năm 2010 cũng là
năm đánh dấu sự sự phát triển mạnh mẽ của ngành Viễn Thông tại Thừa Thiên Huế.
Hiện nay thì trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế có nhiều doanh nghiêp kinh doanh dịch
vụ viễn thông, tuy nhiên trong đó VNPT và Viettel vẫn đóng vai trò chủ đạo.
● Cơ sở hạ tầng và tốc độ trạm phát sóng điện thoại di động (BTS) tăng nhanh.
Tổng số các trạm điện thoại di động đã phát sóng trên địa bàn tính đến hết tháng
7 năm 2010 là: 859/764 trạm BTS (có 95 trạm BTS dùng chung). Trong đó
Vinaphone: 150 trạm; MobiFone: 255; Viettel: 283, EVN Telecom: 52, Sfone: 15,
VietnamMobile: 60 trạm, Gtel: 44 trạm. Các trạm BTS này được phân chia theo khu
vực: Huyện A Lưới: 52 trạm; Huyện Nam Đông: 30 trạm; Huyện Hương Trà: 87 trạm;
Huyện Phong Điền: 100 trạm; Huyện Phú Lộc: 103 trạm; Huyện Phú Vang: 104 trạm;
Huyện Quảng Điền: 48 trạm; Thị xã Hương Thủy: 80 trạm; Thành phố Huế: 258/240
trạm BTS (18 trạm BTS dùng chung).
300
250
Mobifone
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
19
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
(Nguồn: Báo cáo Bưu Chính - Viễn thông năm 2010)
Số lượng các trạm BTS tăng nhanh là một dấu hiệu tốt, nâng cao chất lượng dịch
vụ tốt hơn. Tuy nhiên nếu lắp đặt nhiều trạm BTS nhưng không tối ưu hóa và nâng cấp
mạng lưới thì sẽ dẫn đến nhiều trường hợp sóng di động không ổn định, làm giảm chất
lượng cuộc gọi của các mạng.
● Thị phần trên thị trường viễn thông Thừa Thiên Huế có sự thay đổi.
Trong nhiều năm qua thì ngành viễn thông di động Thừa Thiên Huế luôn bị
khống chế bởi ba công ty thông tin di động lớn là Mobifone, Vinaphone, Viettel. Năm
2009 tình thế thị trường đã có sự thay đổi và bị đảo lộn bởi sự tham gia của một số
gương mặt mới như Vietnammobile, EVN, BeeLine…đã làm cho sự cạnh tranh tại thị
trường Huế có phần quyết liệt và năng động hơn. Tính tới thời điểm tháng 9 / 2011 thì
thị phần của 3 Công ty MobiFone, Viettel và Vinaphone tại thị trường Huế vẫn chiếm
thị phần lớn.
Hình 4: Thị phần viễn thông di động ThừaThiên Huế đầu năm 2011
(Nguồn: Trích từ số liệu Thị phần đầu năm 2011 của phòng Kế hoạch Bán hàng
và Marketing chi nhánh VMS Huế ).
Cùng với sự phát triển chung của kinh tế xã hội Thừa Thiên Huế, thị trường viễn
thông di động đã có những bước phát triển vượt bậc. Mặc dù chưa thật sự gây tiếng
vang, nhưng đã đóng góp không nhỏ cho ngành viễn thông của nước nhà.
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
2006: Thành lập Trung tâm Thông tin di động Khu vực IV
2008: Thành lập Trung tâm thông tin di động Khu vực V. Kỷ niệm 15 năm thành
lập Công ty thông tin di động. Thành lập Trung tâm Dịch vụ Giá trị Gia tăng.
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
21
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
2009: Nhận giải Mạng di động xuất sắc nhất năm 2008 do Bộ Thông tin và
Truyền thông trao tặng; VMS - MobiFone chính thức cung cấp dịch vụ 3G; Thành lập
Trung tâm Tính cước và Thanh khoản.
2010: Chuyển đổi thành Công ty TNHH 1 thành viên do Nhà nước làm chủ sở
hữu. Thành lập Trung tâm thông tin di động Khu vực VI.
2.2.1.2 Chi nhánh MobiFone Huế
Sự thành lập
Chi nhánh Thông tin di động Bình Trị Thiên thành lập vào ngày 12 tháng 10 năm
2007. Hiện nay có 45 nhân viên, giám đốc chi nhánh là đồng chí Nguyễn Đức Quân.
Chi nhánh Thông tin di động BTT là đơn vị hoạch toán trực thuộc Công ty Thông tin
di động, có con dấu riêng, hoạt động theo quy chế được tập đoàn BC – VT Việt Nam
và Công ty Thông tin di động phê duyệt. Thống kê năm 2011, MobiFone là doanh
nghiệp chiếm thị phần thứ nhất (43,69%) so với các nhà cung cấp di động khác trên thị
trường Huế.
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và kinh doanh của chi nhánh.
Chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh.
Giám đốc chi nhánh.
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
+ Kế hoạch bán hàng và marketing.
+ Thanh toán cước phí và chăm sóc khách hàng.
+ Lao động – Hành chính- Tổng hợp.
Bộ phận Kế toán – Thống kê – Tài chính.
-
Quản lý tiền, hàng hóa, tài sản.. thuộc phạm vi Chi nhánh quản lý.
-
Thực hiện đầy đủ các ngiệp vụ kế toán tài chính đúng quy định để theo dõi các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh và tình hình tài chính tại các đơn vị của Chi nhánh.
-
Thực hiện đối chiếu công nợ định kỳ với các đơn vị của Chi nhánh và các đại
lý, đối tác thu cước trên địa bàn quản lý.
-
Xây dựng kế hoạch chi phí hàng tháng trình lãnh đạo trung tâm phê duyệt.
-
Thực hiện công tác quyết toán với Trung tâm III.
-
Thực hiện các chương trình khuyến mại, quảng bá… của Công ty, Trung tâm,
Chi nhánh và đánh giá kết quả thực hiện các chương trình.
Bộ phận thanh toán cước phí và chăm sóc khách hàng.
-
Tổ chức thực hiện công tác thu cước, xử lý nợ đọng và các nghiệp vụ thanh
toán cước phí khác trên địa bàn theo quy định.
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
23
Khóa luận tốt nghiệp
-
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
Phối hợp, đôn đốc và hỗ trợ thanh toán cước tại Quảng Bình, Quảng Trị trong
công tác thanh toán cước.
-
Hoàn thiện hồ sơ thuê bao nợ cước không có khả năng thu hồi và xử lý xóa nợ
theo quy định.
-
Khuếch trương thế mạnh của VMS trong công tác chăm sóc khách hàng trên địa
-
Hoàn thiện hồ sơ liên quan đến công tác ký kết và chấm dứt hợp đồng lao động
trên cơ sở đề xuất của các đơn vị thuộc Chi nhánh đã được Giám đốc Chi nhánh
thông qua.
-
Quản lý và theo dõi các hoạt động xe công phục vụ các hoạt động tại Chi
nhánh.
-
Thực hiện tổng hợp công tác kế hoạch và báo cáo hoạt động kinh doanh của các
trung tâm giao dịch, bộ phận thuộc Chi nhánh.
2.2.2. Công ty Vinaphone
2.2.2.1 Giới thiệu về VinaPhone
Là đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, năm 1999
VinaPhone là mạng đầu tiên phủ sóng trên 100% các tỉnh, thành phố, sau đó 7 năm,
tháng 6 năm 2006, VinaPhone lại một lần nữa là mạng di động đầu tiên thực hiện phủ
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
24
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Th.S. Hoàng Thị Diệu Thúy
Trong đó, VinaPhone đang nắm giữ quán quân về hai chỉ tiêu quan trọng nhất
là điểm chất lượng thoại và tỷ lệ thiết lập cuộc gọi thành công.
-
Năm 2010: VinaPhone vinh dự nhận Giải thưởng CNTT - TT Việt Nam 2009 ICT Award giải thưởng có uy tín và quy mô quốc gia do Bộ Thông tin Truyền
thông tổ chức, VinaPhone tự hào được nhận hai giải thưởng xuất sắc nhất: Giải
thưởng Doanh nghiệp viễn thông di động cung cấp dịch vụ trả sau xuất sắc nhất và
Giải thưởng Doanh nghiệp viễn thông di động cung cấp dịch vụ mới xuất sắc nhất.
2.2.3 Công ty Viettel
2.2.3.1 Giới thiệu về Viettel
SV: Huỳnh Tý – K42 Marketing
25