TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG – XÃ HỘI (CSII)
KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
-----------------------------
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN
LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP
Giảng viên hƣớng dẫn: T.S Đinh Kiệm
Sinh viên: Nguyễn Hữu Ngọc
Lớp: ĐH13NL2
Số báo danh: 158
MSSV: 1313404040994
TP. HCM, tháng 10 năm 2016
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
2. CMKT:
Chuyên môn kĩ thuật
3. LLLĐ:
Lực lượng lao động
4. THPT:
Trung học phổ thông
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP ............................. 10
3.1. Giải pháp về giáo dục ................................................................................................... 10
3.2. Giải pháp về công nghệ ................................................................................................ 11
3.3. Giải pháp về chính sách sử dụng .................................................................................. 11
3.4. Giải pháp về chính sách quản lý ................................................................................... 12
PHẦN KẾT LUẬN ................................................................................................................ 14
Nguồn:
1. Lê Thanh Hà (2009), Giáo trình Quản trị nhân lực (Tập II). NXB trường Đại học
Lao Động – Xã hội (CSII).
2. TS. Đinh Kiệm (2015). “Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam – Nhận định những
cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập sâu rộng kinh tế Quốc tế”. Kỷ yếu hội thảo
khoa học quốc gia chủ đề Nhận diện cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế - Phân tích từ thị trường lao động. Liên hiệp các hội khoa học
và kỹ thuật tỉnh Bình Thuận – Đại học Lao động – Xã hội (CSII)
3. PGS. TS. Nguyễn Tiệp – Đại học Lao động Xã hội (2010), Giáo trình Thị trường
lao động, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội.
4. PGS.TS Đức Vượng (2012). Thực trạng và giải pháp về phát triển nhân lực Việt
Nam
5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2016). Bản tin cập nhật thị trường lao
động số 8 năm 2015 và 9 năm 2016.
6. Tổng Cục Thống kê (2015). Báo cáo Điều tra Lao động việc làm 2015
7. Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động Thành phố Hồ
Chí Minh (2015). Thị trường lao động năm 2015 Dự báo nhu cầu nhân lực năm 2016 tại
Thành phố Hồ Chí Minh.
PHẦN MỞ ĐẦU
giải pháp khuyến nghị để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố, em
quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập” làm nội dung nghiên cứu cho
bài tiểu luận kết thúc học phần môn Thị trường lao động.
1
2. Phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu phạm vi không gian là Nguồn nhân lực chất
lượng cao Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian là trong bối cảnh hội nhập.
Phương pháp nghiên cứu: Sưu tầm tài liệu từ sách, báo, internet.. từ đó phân tích và
tổng hợp.
3. Kết cấu đề tài
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận
Chƣơng 2: Thực trạng nguồn nhân lực chất lƣợng cao thành phố Hồ Chí Minh
trong thời kỳ hội nhập
Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao tại thành phố Hồ
Chí Minh trong thời kỳ hội nhập
2
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Một số lý luận về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lƣợng cao
Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh.
Nguồn nhân lực bao gồm: lực lượng lao động và thất nghiệp. Vì thế có thể nói nguồn nhân lực là
lực lượng cung cấp sức lao động chính cho xã hội ở hiện tại và trong tương lai.
Cũng giống như các nguồn lực khác, số lượng và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực đóng
cụ của con người, như một tài nguyên, một nguồn vốn và một nguồn động lực trong quá
trình phát triển.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng gắn với phát triển nguồn nhân lực
của xã hội nhưng tập trung khai thác nguồn nhân lực ở khía cạnh lao động chất xám, với
trình độ tay nghề cao, có khả năng đáp ứng được yêu cầu cho việc hội nhập.
1.3. Yêu cầu đối với phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao trong hội nhập kinh
tế quốc tế
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sự ra đời và phát triển nhanh chóng công
nghệ kỹ thuật hiện đại đã nảy sinh các phân chia mới về các ngành kinh tế. Ngoài nông
nghiệp, công nghiệp, dịch vụ theo các chia truyền thống, còn có ngành kinh tế thứ 4 là
công nghệ kỹ thuật cao. Đây là ngành kinh tế trụ cột của kinh tế tri thức, sự tồn tại và phát
triển của nó quyết định tới trình độ phát triển kinh tế tri thức của mỗi quốc gia. Chính sự
phân chia mới về các ngành kinh tế, trong đó có sự xuất hiện ngành công nghệ kỹ thuật
cao đã đặt ra nhu cầu rất lớn về tri thức và trí lực, hay nói một các chính xác hơn là nhu
cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao (lao động kỹ thuật, chuyên môn giỏi).
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các ngành truyền thống (nông nghiệp,
công nghiệp, dịch vụ) cũng được cải tạo bằng khoa học, công nghệ cao để đáp ứng yêu
cầu ở trình độ kinh tế tri thức. Như vậy, hội nhập kinh tế kéo theo sự dịch chuyển cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại và sự phát triển vượt bậc về trình độ áp dụng khoa học – công
nghệ hiện đại của các ngành truyền thống trong nền kinh tế hội nhập sẽ làm tăng nhu cầu
lao động trong khu vực công nghệ kỹ thuật cao. Do vậy, cần phải có một đội ngũ lao động
có chất lượng cao nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu của thị trường trong quá trình
chuyển dịch.
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế không những mở rộng thị trường ra nước ngoài
mà còn mở rộng thị trường trong nước do nền kinh tế có cơ hội phát triển mạnh mẽ. Trên
thực tế sẽ diễn ra cạnh tranh gay gắt giữa hàng hóa Việt Nam và các nước. Như vậy về lâu
dài chúng ta cần có một đội ngũ chuyên gia không chỉ biết ứng dụng mà còn sáng tạo ra
những sản phẩm công nghệ cao. Sáng tạo là yêu cầu cao nhất đối với nguồn nhân lực
2015
Tổng số người trong độ tuổi lao động
5.734.206
5.810.565
5.898.134
Lực lượng lao động
4.122.300
4.190.525
4.243.578
Tổng số lao động có việc làm
4.024.000
4.048.000
4.081.255
Lao động được giải quyết việc làm
293.228
Lao động chưa qua đào tạo
38,52
35,70
33,46
30,07
27,67
Sơ cấp nghề
23,68
25,69
24,49
25,05
25,59
Công nhân kỹ thuật lành
nghề
13,44
13,89
17,00
16,90
17,80
18,91
19,81
Đại học trở lên
(Nguồn: Số liệu điều tra lao động việc làm của Tổng cục thống kê và tính toán của
Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP.HCM.).
TP.HCM hiện nay có 67 trường đại học, cao đẳng và học viện, góp phần quan trọng
trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng các yêu cầu phát triển của thành
phố. Tuy nhiên, một trong những thách thức trong đảm bảo đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao hiện nay của thành phố là thiếu hụt tài chính cho đầu tư giáo dục đại học, đầu
tư chiều sâu cho các ngành khoa học mũi nhọn. Trong liên kết, hợp tác với các trường đại
học hàng đầu thế giới, các tổ chức nghiên cứu đỉnh cao để chuyển giao khoa học và công
nghệ cho Việt Nam và đào tạo ra những nhà khoa học xuất sắc cũng thiếu hụt tài chính.
Do đó, khó có thể cạnh tranh bằng cơ chế đãi ngộ và trả lương cao với các nhà khoa học
hàng đầu thế giới so với các trường đại học nước ngoài.
Vì vậy, việc tham gia đồng bộ của các ngành, doanh nghiệp, trường đào tạo và xã
hội là điều cần thiết hiện nay để từng bước nâng cao nguồn nhân lực có chất lượng và hạn
chế sự nghịch lý. Trước hết, thành phố cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về thúc
đẩy phát triển nguồn nhân lực. Các cơ quan thẩm quyền thực hiện nhanh lộ trình sắp xếp
hệ thống trường chuyên về từng cấp đào tạo đại học, cao đẳng và trung cấp. Bên cạnh đó,
thành phố cần định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đối với hoạt động của
cao chất lượng lao động. Việc đào tạo đội ngũ doanh nhân cũng được chú trọng. Từ năm
2011 đến nay, thành phố đã tổ chức được gần 448 lớp học cho trên 20.000 lượt học viên,
nếu tính cả những khóa đào tạo sử dụng phí được huy động từ các nguồn lực xã hội thì số
lớp học đã được tổ chức là 1.035 lớp với khoảng gần 52.000 học viên.
Sự mong muốn học Đại học vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất 87,36%, bậc cao đẳng 8,71%
và trung cấp chiếm 3,93%. Các chương trình hướng nghiệp tại thành phố đã tác động đến
sự định hướng chọn nghề của học sinh, trên 70% học sinh đã tự định hướng và chọn lựa
ngành học phù hợp theo năng lực nhu cầu điều kiện của bản thân. Tuy vậy, công tác
hướng nghiệp cần tiếp tục được đầu tư và đẩy mạnh hơn nữa để đạt được hiệu quả tối đa
hướng đến đào tạo nhân lực theo nhu cầu xã hội.
5
Bảng 3: Xu hƣớng chọn bậc học của học sinh THPT trên địa bàn TP HCM 2015
Bậc học
2015
Đại học
87,36
Cao đẳng
8,71
Trung cấp
3,93
2
Cao đẳng chuyên nghiệp
25
25
25
26
3
Cao đẳng nghề
11
10
12
13
4
Trung cấp chuyên nghiệp
32
sở dạy nghề tại thành phố thường xuyên đào tạo ngắn hạn được 350.000 lượt
người/năm.
6
2.1.4. Tình trạng thất nghiệp nguồn nhân lực chất lƣợng cao tại TP.HCM
Theo thống kê, số người thất nghiệp theo trình độ chuyên môn đại học và sau đại học
tăng khoảng 16.000 so với cùng kỳ năm 2014.
Ngày 20/7, Viện Khoa học Lao động và Xã hội công bố bản tin cập nhật thị trường
lao động quý I/2015. Bản tin ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm đều gia
tăng.
Theo đó, trong 3 tháng đầu năm, cả nước có hơn 1,1 triệu người thất nghiệp, tăng
114.000 người so với cùng kỳ năm 2014. Số lao động trình độ đại học, sau đại học thất
nghiệp tăng từ hơn 162.000 lên gần 178.000 người; lao động tốt nghiệp cao đẳng thất
nghiệp tăng từ 79.000 người lên hơn 100.000; lao động không có bằng cấp từ gần 630.000
lên 726.000.
Tính theo trình độ chuyên môn, tỷ lệ thất nghiệp cao nhất nằm ở nhóm có trình độ cao
đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng nghề, tương ứng là 7,2% và gần 6,9%. Nhóm không có
bằng cấp, chứng chỉ có tỷ lệ thấp nhất ở mức 1,97%. Nhìn chung, tỷ lệ thất nghiệp trong
độ tuổi lao động của cả nước là 2,43%, tăng 0,22% so với cùng kỳ năm 2014.
2.2. Chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao giai đoạn 2016 –
2020
Tại Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ X nhiệm kỳ 2015-2020 diễn ra vào tháng
10/2015 đã xác định chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong 7
chương trình đột phá của TP.HCM: giai đoạn 2016-2020 xác định rõ: TP.HCM tiếp tục có
nhiều chính sách, giải pháp dồn sức cho việc nâng cao chất lượng tăng trưởng gắn với
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát… Kinh
tế xã hội thành phố phát triển và hội nhập là điều kiện phát triển thị trường lao động thành
phải cao hơn tỷ lệ chung giữa các nước. Có như vậy thành phố mới có thể khẳng địnhvà
thành công trong quá trình hội nhập.
Chất lượng lao động nói chung và lao động chất lượng cao nói riêng còn thấp. Đây
là một thực tế đáng lo ngại đang diễn ra phổ biến ở thành phố, đó là tình trạng người lao
động sau khi tốt nghiệp các cơ sở đào tạo (đặc biệt là sinh viên tốt nghiệp các trường đại
học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp) không thể đáp ứng được yêu cầu nhà tuyển
dụng. Hiện tại, hơn 50% sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng đều phải được
nhà tuyển dụng đào tạo lại vì không đáp ứng được yêu cầu chuyên môn. Trong khi đó,
TP.HCM là địa phương dẫn đầu về số lượng cũng như chất lượng giáo dục đại học. Tình
trạng này vừa gây ra lãng phí rất lớn cho xã hội về chi phí đào tạo, về thời gian và cơ hội
nghề nghiệp.
Mặc dù nền kinh tế đang thiếu hụt về đội ngũ công nhân kỹ thuật đặc biệt là đội ngũ
công nhân lành nghề thì xu hướng của thị trường lại dư thừa lao động được đào tạo từ các
trường cao đẳng, đại học và xu thế thanh niên muốn vào các trường cao đẳng, đại học hơn
là vào các trường đào tạo nghề. Nguyên nhân của hiện tường này là do chính sách sử
dụng nhân lực còn hạn chế, chưa có chế độ khuyến khích đúng về vật chất, tinh thần, về
vị trí của đội ngũ công nhân lành nghề. Trong khi ở các nước công nghiệp phát triển đội
ngũ công nhân lành nghề được coi là những kỹ sư thực hành, vị trí và chính sách của họ
8
như các kỹ sư, đôi chỗ còn có vị trí cao hơn kỹ sư lý thuyết về phương diện sử dụng và trả
công lao đọng.
2.3.2. Vấn đề đào tạo và sử dụng thiếu đồng bộ
Vấn đề đào tạo và sử dụng lao động còn thiếu đồng bộ, nhiều bât cập. Doanh nghiệp
và cơ sở đào tạo không kết nối được đầu vào và đầu ra, dẫn đến lãng phí nhân lực, tài lực,
vật lực vì đào tạo không đáp ứng nhu cầu sử dụng.
Hiện tại sinh viên ra trường phần lớn đều phải được đào tạo lại nghiệp vụ tại các
doanh nghiệp, trong khi các trường lại đào tạo cái nhà trường có chứ không đào tạo cái xã
hội cần và cho dù thời gian gần đây xu thế xã hội hóa giáo dục, các trường dần dần đào
Tình trạng sử dụng nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật không đúng với ngành nghề
được đào tạo hoặc dưới khả năng đào tạo còn phổ biến.
Thứ ba, tình trạng phân bố nhân lực không đồng đều giữa các khu vực kinh tế,
ngành kinh tế mất cân đố nhu cầu nhân lực và nhu cầu việc làm. Điều đáng quan tâm là
khu vực kinh tế phi chính thức chiếm tỷ lệ 45% và đang có xu hướng tăng với đa dạng
ngành nghề, nhiều chỗ làm việc mới thu hút ngược lại khu vực kinh tế chính thức.
Thứ tư, những hạn chế về công tác quản lý nhà nước về nguồn nhân lực chất lượng
cao, đặc biệt chưa tổ chức hệ thống dự báo nhu cầu như lực, thông tin thị trường lao động,
dịch vụ giao dịch thị trường lao động (tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động) có
hiệu quả.
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƢỢNG CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ HỘI
NHẬP
3.1. Giải pháp về giáo dục
Đổi mới chương trình đào tạo.
Xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo nghề phải đảm bảo sự quản lý,
điều phối và sử dụng của Nhà nước, đảm bảo yêu cầu thực tiễn của sản xuất và thị trường
lao động. Việc xây dụng chương trình đào tạo sát hơn với yêu cầu thực tiễn của nền sản
xuất hiện đại sẽ làm cho chất lượng đào tạo nghề được đánh giá cao hơn. Để đạt được
điều đó, cần có sự liên kết, phối hợp giữa nhà trường, doanh nghiệp, cơ quan quản lý đào
tạo và cả người học nghề trong quá trình xây dựng chương trình đào tạo. Chương trình
đào tạo cần được điều chỉnh sao cho các môn tiếng Anh và tin học đối với các ngành học
không chuyên phải đạt yêu cầu sử dụng để tiếp cận những tài liệu mới nhất bằng tiếng
Anh, ứng dụng những thành tựu mới nhất của công nghệ thông tin và truyền thông cho
quá trình học tập và lao động.
Phân luồng đào tạo và liên thông đào tạo
Phân luồng đào tạo: Bên cạnh sự đổi mới mạnh mẽ giáo dục và đào tạo nghề, phải
có sự tuyên truyền để thực sự đổi mới trong tư duy của phụ huynh, vì sau khi tốt nghiệp
trung học phổ thông, phụ huynh thường không muốn cho con em mình thi vào các trường
Thực hiện đồng bộ ba nhiệm vụ chủ yếu để phát triển khoa học – công nghê: Nâng
cao trình độ nghiên cứu và năng lực sang tạo khoa học – công nghệ; Đổi mới mạnh mẽ cơ
chế quản lý; Đẩy mạnh và phát triển công nghệ cao. Tăng đầu tư ngân sách hàng năm bên
cạnh việc hình thành và khai thác có hiệu quả các quỹ phát triền khoa học – công nghệ.
3.3. Giải pháp về chính sách sử dụng
Tạo nhiều việc làm cho người lao động
Sức mạnh của nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế phụ thuộc
không chỉ số lượng và cơ cấu nguồn lao động mà còn ở chỗ nguồn lao động đó được khai
thác, sử dụng như thế nào. Vấn đề này bao gồm nhiều yếu tố, từ việc tạo việc làm cho
11
người lao động đến việc tổ chức, quản lý lao động xã hội, điều kiện môi trường lao động
cũng như động lực kích thích tính tích cực của người lao động. Thực hiện chính sách kinh
tế nhiều thành phần, thúc đẩy phát triển là điều kiện tiên quyết giải quyết việc làm. Chú
trọng tạo việc làm cho lao động đã qua đào tạo, nhất là đối với lao động trí tuệ, tăng vốn
đầu tư tạo việc làm, phát triển thị trường lao động.
Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động chất xám
Phải có chiến lược đúng đắn trong việc sử dụng nguồn lao động chất xám. Trước hết
cần phải điều tra, nắm chắc thực trạng sử dụng nguồn lao động ở các doanh nghiệp, phát
hiện những bất hợp lý về quy mơ, cơ cấu, việc làm, để có sự điều chỉnh kịp thời, bố trí
đúng người, đúng việc. Đồng thời mở rộng phân công lao động xã hội, gắn phân công lao
động địa phương với quốc gia và quốc tế, phát triển các ngành nghề mới, sử dụng một các
có hiệu quả cao nguồn lao động chất xám hiện có ở TP.HCM. Phát triển mạnh mẽ thị
trường lao động, cung cấp đầy đủ thông tin cho người sử dụng lao động và người lao
động để họ có thể gặp nhau, đáp ứng cả nhu cầu công việc lẫn nhu cầu làm việc.
Thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài
Cần có một có chế hợp lý để thu hút trí thức Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở
nước ngoài đến TP.HCM làm việc bằng những việc làm cụ thể như: tạo môi trường làm
hội nhập ở TP.HCM.
Xây dựng hệ thống chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Quản lý thành phố về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chính là sự chuẩn bị,
cung cấp và sử dụng các chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một
cách có hiệu quả nhất. Hệ thống các chính sách như: giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe,
văn hóa, dân số, chính sách khoa học công nghệ, chính sách tuyển dụng, sử dụng, đánh
giá đối với đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Thông qua việc ban hành các chính sách mà
nhà nước sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các giai đoạn hình thành, phát triển đội
ngũ nhân lực chất lượng cao hướng vào mục tiêu định hướng xã hội.
13
PHẦN KẾT LUẬN
Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố có ảnh hướng quyết định đến sự phát triển
kinh tế xã hội của TP.HCM và các nước trong quá trình hội nhập quốc tế. Chính vì vậy,
bài viết chú trọng vào vấn đề đào tạo, tìm hiểu rõ về thực trạng phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao ở TPHCM hiện nay.
Từ những số liệu, nhận định trong quá trình tìm hiểu nguyên nhân thì hệ thống đào
tạo chuyên nghiệp trên địa bàn thành phố vừa thiếu định hướng, vừa mất cân đối giữa các
hệ đào tạo cao đẳng, đại học và công nhân kỹ thuật. Tình trạng trọng bằng cấp, thừa thầy
thiếu thợ làm cho nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp
thiếu hụt nghiêm trọng, nhất là đối với những ngành kỹ thuật sử dụng công nghệ cao. Bên
canh đó, chính sách sử dụng và trọng dụng nhân tài của thành phố chưa thật sự có hiệu
quả, chính sách phát triển khoa học công nghệ chưa tạo động lực thúc đảy cho đội ngũ
nhân lực chất lượng cao phát triển. Để giải quyết vấn đề này, cần nhanh chóng và thực
hiện đồng bộ các giải pháp về giáo dục đào tạo, chính sách sử dụng và thu hút nhân tài
song song với sự phát triển của khoa học công nghê. Như vậy, làn sống toàn cầu hóa đòi
hỏi giáo dục đào tạo phải bổ sung vào sứ mệnh của mình thêm một tiêu chí là học để
chung sống bên cạnh ba tiêu chí cũ là học để hiểu biết, để thực hành và để thành người.