1 TÊN ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC TỈNH YÊN BÁI
Họ và tên: NGÔ VIỆT HƯNG
HÀ NỘI - 2013 2
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Người thực hiện
Ngô Việt Hưng
4
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
Chương 1: Lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực trong
quá trình phát triển kinh tế-xã hội
1.1. Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.1.1. Các quan niệm về nguồn nhân lực
1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực
1.1.3 Sự cần thiết khách quan phát triển nguồn nhân lực
11
11
12
15
15
17
18
20
26
27
27 5
1.5.2. Vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế xã hội
1.6. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về thu hút và
phát triển nguồn nhân lực…………………………………………….
1.6.1. Một số kinh nghiệm thu hút và phát triển nguồn nhân lực của
thành phố Hồ Chí Minh………………………………………………
1.6.2. Một số kinh nghiệm thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao của thành phố Hà Nội……………………………………
1.6.3. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Yên Bái trong phát triển nguồn
nhân lực……………………………………………………………….
Chương 2 : Thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân
lực tỉnh Yên Bái
38
38
38
40
44
46
47
47
52
59
60
67
70
70
71
76 6
3.1 Dự báo những nhân tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực
của tỉnh Yên Bái đến năm 2020………………………………………
3.1.1 Các nhân tố bên ngoài…………………
3.1.2 Các nhân tố trong tỉnh………………………………………
3.1.3. Dự báo về cung-cầu lao động của tỉnh Yên Bái đến năm 2020
3.2 Những quan điểm, mục tiêu và phương hướng chủ yếu phát triển
81
82
84
87
88
88
96
97
99
101
103
104
104
106
7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- Tổ chức Liên hiệp quốc: UNDP
ở Việt Nam đến năm 2020
17
5 Bảng 2.1.
GDP trên địa bàn theo giá so sánh 2010 phân
theo khu vực kinh tế
41
6 Bảng 2.2 GDP trên địa bàn theo giá hiện hành 41
7 Bảng 2.3
Giá trị sản xuất theo giá so sánh 2010 phân
theo khu vực kinh tế
43
8 Bảng 2.4 Thu nhập bình quân đầu người một tháng 44
9 Bảng 2.5
Dân số và tỷ lệ phát triển dân số theo thời kỳ
2005-2011
48
10 Bảng 2.6
Dân số và giới tính tỉnh Yên Bái giai đoạn
2000 - 2010
48
11 Bảng 2.7 Tốc độ tăng nguồn nhân lực của tỉnh Yên Bái 50
12 Bảng 2.8
Lực lượng lao động phân theo nhóm tuổi của
tỉnh Yên Bái
51 9
13 Bảng 2.9
Hệ thống trường lớp, giáo viên phổ thông của
STT Mục lục Nội dung Trang
1 Biểu đồ 2.1. Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế 42
2 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu dân số phân theo giới tính 49
3 Biểu đồ 2.3 Cơ cấu dân số phân theo khu vực 49
4 Biểu đồ 2.4
Lực lượng lao động trong độ tuổi phân theo
nhóm khu vực thành thị và nông thôn năm
2010
52
5 Biểu đồ 2.5
Cơ cấu lao động theo trình độ văn hoá của tỉnh
Yên Bái năm 2010
61
6 Biểu đồ 2.6 Tình hình lao động Yên Bái năm 2010 62
7 Biểu đồ 2.7
Số lao động đang làm việc phân theo trình độ
chuyên môn kỹ thuật
65
11
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nhân lực không chỉ là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi
quốc gia mà sự phát triển của quốc gia còn được đánh giá bằng chính bản thân trình
độ phát triển của nguồn nhân lực. Vì vậy các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng
sự phát triển của nguồn lực then chốt này. Khẳng định tầm quan trọng của nó V.I.
chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền
con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và
quyền làm chủ của nhân dân”.
Đại hội XI, Đảng ta đã xác định một trong ba khâu đột phá của chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội là: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn
nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền
giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và
ứng dụng khoa học, công nghệ”, đồng thời “nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế
của đất nước”.
Yên Bái là một địa phương không có nhiều lợi thế so sánh, các nguồn lực
dành cho phát triển hết sức khan hiếm. Trong điều kiện như vậy, Yên Bái đã xác
định nguồn lực con người sẽ là nguồn lực phát triển giữ vai trò then chốt. Nghị
quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVII đã xác định: "Đẩy
mạnh đào tạo, sử dụng và thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cho phát triển
kinh tế - xã hội. Mở rộng đào tạo chuyên nghiệp và đào tạo nghề, đáp ứng cơ bản
nguồn lao động tại chỗ có chất lượng cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Thực hiện có hiệu quả chính sách sử dụng, thu hút người tài. Tập trung phát
triển, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực, khoa
học - công nghệ và các lĩnh vực văn hoá - xã hội."
Do vậy, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội của
tỉnh Yên Bái trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn đang là
những vấn đề cấp bách. Với ý nghĩa như vậy, đề tài “Thực trạng và giải pháp phát
triển nguồn nhân lực tỉnh Yên Bái” sẽ là đề tài có nhiều ý nghĩa thực tiễn và cấp
thiết; góp phần thiết thực vào việcphân tích, đánh giá, dự báo, đề xuất một số mục 13
tiêu, phương hướng và giải pháp phát triển nhân lực của tỉnh Yên Bái, đáp ứng yêu
cầu phát triển của địa phương trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực để tìm giải
pháp, chính sách phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của
tỉnh Yên Bái.
3.2. Nhiệm vụ:
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và phát
triển nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh Yên Bái thông qua các chỉ số phát triển trên các mặt: số
lượng, chất lượng gắn với cơ sở vật chất năng lực đào tạo, mức độ đáp ứng… Trên
cơ sở đó rút ra những thành tựu và hạn chế còn tồn tại, nguyên nhân của những hạn
chế đó trong việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Yên Bái.
Ba là, đưa ra những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển
nguồn nhân lực để thực hiện mục tiêu chiến lược kinh tế-xã hội của tỉnh đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về nguồn nhân lực nói
chung và nguồn nhân lực tỉnh Yên Bái nói riêng. Tuy nhiên, đây là một lĩnh vực rất
rộng liên quan đến tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, nên luận văn chỉ đi
vào những nội dung cơ bản về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình phát triển
kinh tế-xã hội của tỉnh Yên Bái.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu về Phát triển nguồn nhân lực trong quá
trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Yên Bái từ năm 2000 đến 2020 và các giải pháp
để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu, phương pháp nghiên cứu: 15
5.1. Cơ sở lý luận:
Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
1.1. Khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực.
1.1.1. Các quan niệm về nguồn nhân lực.
Hiện nay, có nhiều cách hiểu về nguồn nhân lực. Theo Thuyết lao động xã hội
thì nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là
nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho
sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình
thường (trừ những người bị dị tật bẩm sinh). Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là khả
năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các
nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có tham gia vào nền sản xuất xã hội tức là toàn bộ
các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí
lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, thì nguồn nhân lực chính là nguồn lực
chủ yếu tạo động lực cho sự phát triển. Vì vậy việc cung ứng đầy đủ và kịp thời
nguồn nhân lực theo yêu cầu của nền kinh tế là yếu tố đóng vai trò quyết định đảm
bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội. Do đó, bất cứ hiện tượng thiếu hoặc thừa sức
lao động đều gây ra những khó khăn cho sản xuất xã hội và ảnh hưởng trực tiếp tới tốc
độ tăng trưởng kinh tế.
Nếu xét theo nghĩa rộng, toàn bộ tổng thể nền kinh tế được coi là một nguồn
lực thì nguồn lực con người là một bộ phận của các nguồn lực trong nền sản xuất xã
hội. Chẳng hạn nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính…
Theo UNDP, thì nguồn nhân lực là tổng thể những năng lực (cơ năng và trí
năng) của con người được huy động vào quá trình sản xuất, nguồn năng lực-nội lực
đó của con người cũng chính là nội lực xã hội của một quốc gia. Đối với những 17
nước đang phát triển như Việt Nam, với dân số đông, nguồn nhân lực dồi dào đang
trở thành một trong những nguồn nội lực quan trọng nhất và nếu biết khai thác
cũng cần phải nói tới kinh nghiệm sống, năng lực hiểu biết thực tiễn, đạo đức và nhân
cách của con người.
1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực.
Thực chất phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng về số lượng và nâng cao
về chất lượng nguồn nhân lực nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu ngày càng phù hợp với
nhu cầu về nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế xã
hội. Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực luôn gắn bó với nhau và ảnh hưởng lẫn
nhau. Về mặt số lượng là tăng nguồn lao động (con người). Chất lượng bao gồm sức
khoẻ, trình độ chuyên môn kỹ thuật và các phẩm chất cá nhân. Khi nói đến phát triển
nguồn nhân lực hiện nay ở Việt Nam chủ yếu là nói đến nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực.
Phát triển nguồn nhân lực được xem xét trên hai mặt chất và lượng. Về chất
phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách,
phát triển trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực
phát triển; về lượng là gia tăng số lượng nguồn nhân lực, điều này tùy thuộc vào
nhiều nhân tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản.
Bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao
động và tư liệu lao động. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư vào các
các yếu tố của quá trình sản xuất. Cần lưu ý rằng trong tất cả các yếu tố đầu tư thì
đầu tư vào con người, đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư quan trọng nhất. Đầu tư
cho con người được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn: giáo dục tại
nhà trường, đào tạo nghề nghiệp tại chỗ, chăm sóc y tế….
Phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ của một đất nước là quá trình tạo
dựng một lực lượng lao động năng động, thể lực và sức lực tốt, có trình độ lao động
cao, có kỹ năng sử dụng, lao động có hiệu quả. Việc phát triển nguồn nhân lực là
việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao
năng suất lao động. Tổng thể phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng 19
20
tăng của xã hội; nghĩa là lực lượng tham gia vào các hoạt động của nền sản xuất xã
hội phải ngày càng nhiều, chất lượng lao động phải ngày càng nâng lên, phải nâng
cao trình độ trí tuệ và sức sáng tạo của con người hay nói cách khác phải nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực để tạo ra một đội ngũ lao động có trình độ ngày càng cao
mới đáp ứng được yêu cầu đó.
Sự cần thiết phải nâng cao trình độ sức lao động còn cần thiết ở chỗ từ nhu
cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Khi kinh tế phát triển mạnh hơn,
xã hội trở nên văn minh hơn thì con người luôn luôn được hoàn thiện ở cấp độ cao
hơn. Đến lượt nó đòi hỏi việc nâng cao trình độ tri thức của người lao động; nghĩa
là không phải chỉ do yêu cầu thực tiễn của sản xuất mà do yêu cầu đòi hỏi từ chính
bản thân con người, hay nói cách khác, chất lượng của nguồn nhân lực sẽ tăng lên là
điều tất yếu trong tiến trình phát triển của nền sản xuất xã hội.
Sự phát triển của nguồn nhân lực còn là một tất yếu do tiến trình phát triển
của nền sản xuất xã hội, đặc biệt là sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công
nghệ, yêu cầu khoa học của tính đồng bộ trong tiến trình phát triển. Đối với Việt
Nam đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, chất lượng nguồn
nhân lực tăng lên không chỉ có ý nghĩa để sử dụng các thành tựu mới của khoa học
công nghệ mà còn có điều kiện để sáng tạo ra các tư liệu lao động mới. Hơn thế quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa yêu cầu nguồn nhân lực phải có sự chuyển biến
về chất từ lao động thủ công sang lao động cơ khí và lao động trí tuệ.
Sự phân tích trên cho thấy nguồn nhân lực có vai trò rất quan trọng, việc
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một tất yếu
khách quan, là xu thế phát triển của thời đại là yêu cầu tất yếu của quá trình công
nghiệp hóa hiện đại hoá là sự cần thiết khách quan đối với Việt Nam nói chung và
tỉnh Yên Bái nói riêng. Một nguồn nhân lực chất lượng cao là tiền đề, là cơ sở
quyết định sự thành bại trong công cuộc xậy dựng và phát triển đất nước. Hơn nữa
nguồn nhân lực chất lượng cao còn là nhân tố khắc phục được những hạn chế của
đất nước về tài nguyên thiên nhiên, môi trường, vị trí địa lý… và là cách duy nhất
Trung Quốc 73,2 6.819 21
Vi
ệt Nam
75,0
2.875
113
Nguồn: Báo cáo phát triển nguồn nhân lực, UNDP năm 2010.
Từ số liệu trên cho thấy, trình độ phát triển kinh tế-xã hội góp phần quan
trọng vào việc nâng cao mức sống có điều kiện chăm sóc sức khỏe nâng cao thể lực,
trí lực, nâng cao tuổi thọ của người lao động. Trình độ kinh tế-xã hội càng phát
triển, càng có điều kiện nâng cao chất lượng NNL.
Trình độ phát triển kinh tế- xã hội cao càng có điều kiện đầu tư cho giáo dục và
đào tạo, khi giáo dục đào tạo phát triển lại góp phần quyết định trực tiếp vào việc tạo ra
nguồn nhân lực chất lượng cao. Do đó, trình độ phát triển kinh tế xã hội và nguồn nhân 22
lực chất lượng cao có mối quan hệ biện chứng với nhau và tác động qua lại lẫn nhau.
Hay nói cách khác, kinh tế là nền tảng của phát triển xã hội, của con người, trong đó có
NNL chất lượng cao và đến lượt nó nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực thúc
đẩy sự phát triển kinh tế.
Đối với Việt Nam, do trình độ kinh tế- xã hội còn ở mức thấp nên chất lượng
nguồn nhân lực chưa cao, do đó việc phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế là khâu đột phá nhằm thực hiện thắng lợi các
mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ 2010-2020 và tạo ra bước phát
triển mới trong những năm tiếp theo.
sáng tạo của người học. Đề án cũng chỉ rõ, cần có mạng lưới các cơ sở giáo dục đại
học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực
quốc gia; phát triển một số trường ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ
sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phong phú về công nghệ và trình độ phát triển của các
lĩnh vực, ngành nghề, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao phục vụ cho phát triển kinh tế
- xã hội.
Ngày nay, khi khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là
yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, thì vai trò của
nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng trở nên quan trọng.
Nếu tính tỷ lệ trong GDP thì nước đầu tư vào giáo dục cao nhất là Cộng hòa
Kiribati 17,9% GDP, thứ nhì là Cuba 13,6%GDP, còn nước đầu tư thấp nhất vào
giáo dục là Các tiểu Vương quốc Ả rập thống nhất 0,9%GDP. Các nước có nền kinh
tế phát triển, đầu tư nhiều vào giáo dục là Đan Mạch, đầu tư vào giáo dục
7,9%GDP. Nước ta đầu tư khoảng 5,9%GDP. 24
Bảng 1.2: Đầu tư cho giáo dục và chỉ số giáo dục
Tên nước
GDP đầu
người PPP
(USD)
Đầu t
ư cho giáo
dục (% GDP)
Tỷ lệ người lớn
biết chữ
Chỉ số giáo
dục
Campuchia 1.968 2,6 77,6 0.520
tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học; đáp ứng nhu cầu nhân lực, nhất là
nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và
xây dựng nền kinh tế tri thức”.
1.2.3. Trình độ phát triển khoa học công nghệ.
Cơ cấu nòng cốt của đội ngũ lao động là đội ngũ trí thức, với cơ cấu đồng bộ
trong các lĩnh vực khoa học-công nghệ, quản lý kinh tế-xã hội…là lực lương nòng
cốt trong nguồn nhân lực có chất lượng cao. Cũng chính từ đội ngũ này mà đào tạo,
bồi dưỡng thu hút các tài năng trẻ, tạo nên một thế hệ đội ngũ chuyên gia, nhà khoa
học giỏi và những cán bộ có năng lực công nghệ giỏi cho sự nghiệp CNH-HĐH.
Việt Nam đang diễn ra quá trình đổi mới khoa học, công nghệ. Quá trình này diễn
ra rộng khắp, từ các doanh nghiệp, các ngành, địa phương và chính quá trình này
kéo theo sự đổi mới về nguồn nhân lực. Trong lịch sử phát triển của loài người, bao
giờ các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ cũng dẫn đến sự biến đổi có tính cách
mạng, sự biến đổi về chất của lực lượng sản xuất xã hội; trong đó con người là một
thành phần chủ chốt của lực lượng sản xuất ấy. Trường hợp của Việt Nam cũng thế,
sự đổi mới khoa học công nghệ đang và sẽ tác động ngày càng mạnh đến nguồn
nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
1.2.4. Phát triển dân số có kế hoạch tạo điều kiện nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực.
Tăng trưởng dân số có tác động trực tiếp tới số lượng và chất lượng NNL.
Theo kết quả của các nhà nghiên cứu, cứ tăng dân số 1% thì yêu cầu tăng GDP phải
ít nhất là 3% thì mới đảm bảo được sự phát triển kinh tế-xã hội bình thường, tức là theo