LỜI MỞ ĐẦU
Là sinh viên ngoại tỉnh ra Hà Nội học tập điều làm em băn khoăn
ngay từ lần đầu tiên cho đến mãi sau này: Đấy là những người hành khất
hay nói rõ hơn là người ăn xin, ở Hà Nội con số này không phải nhỏ,
trong đó khoảng 90%, có khi còn hơn thế nữa, là đồng hương với em.
Nguồn nhân lực, phải rồi nhân tố quan trọng và quyết định sự phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh, xảy ra thực trạng đáng buồn này trong tương lai
rồi Thanh Hoá sẽ ra sao?
Vậy mà chỉ 2 kỳ dành cho môn kinh tế chính trị, có lẽ thời gian
quá ít nhưng cùng với sự tận tâm dạy bảo của các thầy, em đã có thể tự
giải thích được phần nào những thắc mắc đó, trong bài tiểu luận kinh tế
"nguồn nhân lực tỉnh Thanh Hoá"này, em xin mạnh dạn đưa ra những
suy nghĩ và hiểu biết của mình .
NỘI DUNG
I.nguồn nhân lực
1.Khái niệm về nguồn nhân lực
Nhân lực là nguồn lực về con người
Theo giáo trình kinh tế phát triển cuả trường đại học kinh tế quốc
dân:"Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi theo quy định
của luật pháp đang có việc làm và chưa có việc làm nhưng có khả năng
tham gia lao động", biểu hiện trên 2 mặt:
∗ Số lượng: Là tổng số những người trong độ tuổi lao động( theo bộ
luật lao động nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi ).
∗ Chất lượng: Là trình độ chuyên môn và sức khoẻ của người lao động,
chất lượng nguồn nhân lực không chỉ phản ánh trình độ phát triển kinh
tế, mà còn phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội.
Trong nghị quyết đại hội X nêu rõ cần thiết phải:"Phát triển mạnh
Thanh Hóa có nguồn lao động dồi dào( hơn 1,8 triệu người)
nhưng chất lượng nguồn lao động chưa cao, lao động trong ngành nông
nghiệp chiếm 81,32% song trang thiết bị khoa học kỹ thuật còn thiếu
thốn, hiện tượng "nông nhàn" ở các huyện, xã vẫn chưa được giải quyết,
tài nguyên thiên nhiên tuy đa dạng nhưng không nhiều, khó khai thác,
thiếu vốn kỹ thuật, công nghệ còn lạc hậu điều này làm cho việc phát
huy thế mạnh về nguồn nhân lực ở Thanh Hoá hạn chế rất nhiều, cần phải
đánh giá lại nguồn nhân lực hiện có nhằm tìm ra chính sách đào tạo, sử
dụng hợp lý.
1.D ân số : Gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và phát triển
nguồn nhân lực. Khi dân số tăng lên thì lực lượng lao động cũng tăng.
Nguồn tài nguyên như đất đai, nước, không khí ...lại có hạn nên số lao
động trên một đơn vị diện tích đất đai ngày một nhiều( đến năm 1999
bình quân đất canh tác chỉ còn ở mức 0,175 ha/người),do đó mặc dù tổng
sản phẩm tăng nhưng sản phẩm bình quân đầu người giảm. Mặt khác,
dân số tăng nhanh không cân đối với sự phát triển kinh tế, giáo dục, y tế,
cơ sở hạ tầng...sẽ gây sức ép lớn về nhu cầu học tập, đào tạo và việc làm,
làm cho chất lượng vốn có của con người giảm xuống hoặc ở mức thấp
hoặc hầu như không cải thiện được, ví dụ như về thể lực( cân nặng, chiều
cao, sức dẻo dai), tỷ kệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi cao, tỷ lệ trẻ em dưới
5 tuổi suy dinh dưỡng đang ở mức 34%, tình trạng suy dinh dưỡng của
trẻ em hiện nay tác động xấu đến dự phát triển thể lực, sức khoẻ và hạn
chế phát triển trí tuệ, ảnh hưởng đến sức lao động hiện tại và tương lai.
Đây là nguyên nhân trực tiếp làm cho năng suất lao động giảm, tổng sản
phẩm quốc dân tăng chậm.
2.T hực trạng trình độ chuyên môn kĩ thuật: Đó là sự hiểu biết,
khả năng thực hành trên lĩnh vực, ngành nghề nào đó của người lao động.
Theo thống kê điều tra lao động -việc làm hàng năm, lực lượng lao động
có chuyên môn kỹ thuật bao gồm: những người đã tốt nghiệp các trường
đào tạo từ công nhân kỹ thuật trở lên, những người có bằng sơ cấp, chứng