A. ĐẶT VẤN ĐỀ.
Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục tiểu
học nhằm: “Hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng
đắn và lâu dài về tình cảm, trí tuệ và kỹ năng cơ bản để học tiếp lên trung học và đi
sâu vào cuộc sống lao động”.
Tiếng Việt là môn học công cụ mà trong đó tập đọc đóng vai trò khởi đầu. Đọc
giúp học sinh có khả năng hiểu biết, tiếp thu được nền văn minh của loài người.
Nhờ biết đọc các em mới có điều kiện để học và tiếp thu các môn học khác. Thông
qua môn Tập đọc học sinh mới có công cụ để học tập và giao tiếp; đọc không
những giúp học sinh phát triển tư duy mà còn bồi dưỡng những tình cảm tốt đẹp
góp phần phát triển nhân cách toàn diện - nhân cách con người mới xã hội chủ
nghĩa. Trên cơ sở đọc tốt, học sinh mới có thể viết tốt, thực hành tốt các hoạt động
của các môn học khác, góp phần hình thành và phát triển 5 mặt giáo dục. Nói cách
khác để đạt được mục đích giáo dục trong trường tiểu học, yêu cầu quan trọng đầu
tiên của học sinh là đọc tốt.
Thực tế trong dạy học tập đọc hiện nay cho thấy tìm hiểu cách thức để rèn
luyện khả năng đọc là cơ bản và cần thiết. Cụ thể đối với học sinh lớp 2, phân môn
Tập đọc cần đạt hai kỹ năng cơ bản đó là :Kỹ năng đọc đúng và kỹ năng đọc hiểu.
Đọc đúng giúp cho học sinh bồi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm, giúp các em có
thể tự học. Đọc hay, đọc tốt các em sẽ thích đọc, từ đó các em tích lũy cho mình
một vốn từ ngữ. Các em không những hiểu được từ mà còn học cách sử dụng các từ
ngữ đã biết để viết đoạn văn và trình bày tư tưởng tình cảm của mình. Vốn đó sẽ
được nâng dần và làm phong phú khi học lên các lớp trên.
Với kinh nghiệm nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp 2-3 tại trường, tôi thấy:
Đối với học sinh lớp 2 Miền núi vùng khó khăn như Tân Bình- Như Xuân, để dạy
cho các em đọc một cách trôi chảy, rõ ràng là cả một vấn đề hết sức khó khăn và
phức tạp chứ chưa nói đến đọc diễn cảm. Mặt dù ở lớp 1 các em được tiếp thu với 4
kỹ năng nghe - nói - đọc - viết mà chủ yếu là đọc, viết. Song kết quả khi học môn
Tiếng Việt rất thấp. Học sinh còn đánh vần ê-a, ngắc ngứ trong quá trình đọc. Đây
là vấn đề mà tôi băn khoăn, trăn trở.
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để giúp các em đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng
1.Thực trạng của giáo viên:
Được dự các tiết tập đọc chuyên đề của trường nói chung và của tổ nói riêng,
tôi nhận thấy phần lớn giáo viên đều đầu tư vào công tác soạn giảng cũng như
chuẩn bị đồ dùng cho tiết dạy. Phương pháp và hình thức dạy học có đổi mới, phù
hợp với đặc trưng môn học. Giáo viên có chú ý sửa lỗi phát âm cho học sinh, song
do thời gian bị hạn chế nên việc sửa lỗi do chỉ được thực hiện lướt qua khi luyện
đọc từ hoặc câu giáo viên thường chỉ cho học sinh luyện những từ và câu mà sách
2
giáo khoa yêu cầu chứ chưa chọn lọc ra những từ hoặc câu mà học sinh của mình
hay nhầm lẫn.
Khi dạy một tiết Tập đọc, nhiều giáo viên chưa thực sự chú ý rèn đọc cho học
sinh khi học sinh đọc sai. Số ít giáo viên chưa chú ý tới việc luyện cách đọc một
câu văn dài, học sinh đọc còn gặp nhiều khó khăn.
Mặt khác, số ít giáo viên chưa chú ý cho học sinh cách đọc đúng nhịp điệu
thơ, đọc ngắc ngứ những câu văn dài. Trong khi tìm hiểu nội dung bài, một số giáo
viên dành nhiều thời gian để giảng giải, đàm thoại (thầy hỏi – trò suy nghĩ, sau đó
gọi 1 – 2 em lên trả lời). Vì vậy, giáo viên chưa kiểm soát được số đông học sinh
trong lớp và dành nhiều thời gian hợp lý cho các em hoạt động tự tìm kiếm, lĩnh
hội kiến thức theo khả năng của mình.
Trong giờ tập đọc giáo viên còn làm mẫu nhiều mà chưa để các em tự phát
hiện ra cách đọc. Nhất là khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú ý đến học
sinh yếu vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian, làm giảm tiến độ
của tiết dạy.
2. Thực trạng của học sinh:
Qua điều tra thực tế việc đọc của học sinh, tôi thấy thực trạng của học sinh
lớp tôi có ưu nhược điểm sau đây:
Phần đa học sinh trong lớp chăm ngoan, biết nghe lời, có đủ SGK 2 môn Toán
và Tiếng Việt. Đọc thông được văn bản và trả lời được câu hỏi trong sách giáo
HS đọc ngọng, phát
âm không chuẩn
Số HS
TL
HS đọc còn đánh vần,
ê a, ngắc ngứ
Số HS
T
L
10
40 %
8
32%
7
28%
Từ thực trạng nêu trên để khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu điểm
thực tế của học sinh. Tôi đã vận dụng những kinh nghiệm của bản thân vào công
tác giảng dạy để nâng cao hiệu quả của việc đọc ở lớp 2 như sau:
III. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
+ Người dẫn chuyện: đọc thong thả, chậm rãi.
+ Giọng cô tiên: trầm ấm, hiền từ và nhấn giọng ở các từ “ gieo hạt đào, giàu
sang, sung sướng”
+ Giọng hai anh em: cảm động tha thiết và nhấn giọng ở các từ và cụm từ
“nhớ bà, xin bà sống lại”.
Ví dụ: Khi dạy bài “ Đàn gà mới nở”
Toàn bài thơ đọc với giọng âu yếm, hồn nhiên, vui tươi và chú ý thay đổi
giọng từng khổ thơ.
+ Khổ thơ 1: giọng đọc trải dài, dịu dàng, vui tươi khi tả đàn gà con đáng yêu.
+ Khổ thơ 2: nhịp đọc dồn dập hơn khi tả sự nguy hiểm, cả đàn gà con phải
núp vào đôi cánh của gà mẹ.
+ Khổ thơ 3: trở lại nhịp đọc khoan thai vì nguy hiểm đã qua đi.
+ Khổ thơ 4-5: nhịp đọc trải dài tả vẻ đẹp của đàn gà con.
3. Hướng dẫn luyện đọc đúng:
- Đọc đúng là tái hiện âm thanh bài học cần đọc chính xác, không đọc thừa,
thiếu; sót âm, vần. Đọc đúng phải thể hiện ngữ âm chuẩn để hệ thống ngữ âm tiếng
mẹ đẻ không bị lẫn lộn.
- Đọc đúng còn có nghĩa là đọc đúng ngữ điệu, tiết tấu, ngắt nghỉ hơi đúng, thay
đổi giọng đọc phù hợp với bài đọc.
- Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh đọc đúng âm vị Tiếng Việt.
3.1: Luyện đọc đúng từ ngữ:
Phần này gồm đọc mẫu của giáo viên và hướng dẫn học sinh đọc. Vì thế giáo
viên cần đọc mẫu thật chuẩn, thể hiện đúng hệ thống chính âm. Trong quá trình
chuẩn bị bài dạy giáo viên phải chuẩn bị kỹ bài dạy, chuẩn bị tốt các bước lên lớp,
5
có sự phối hợp nhịp nhàng giữa việc làm của giáo viên và học sinh. Đồng thời giáo
viên phải dự tính cụ thể lỗi của bài hôm đó mà học sinh hay mắc để tìm cách khắc
phục cho các em trong giờ học. Đặc biệt với học sinh dân tộc không để hệ thống
chai riệu, hay chai dịu”
Tôi tiến hành phân tích cho các em về sự khác nhau giữa âm chính mà các em
đọc sai và tôi cho các em đánh vần tiếng “ nghiệp” hay “ nghịp”, “thiệp” hay
“thịp”; “ hiểu” và tiếng “ hỉu”; “rượu” và tiếng “riệu hạy dịu”. Từ đó các em đọc
đúng không đọc nhầm nữa.
Như vậy, để luyện cho các em đọc đúng tiếng, từ, cụm từ thì trước tiên ta phải
luyện âm một cách chính xác và có hiệu quả.
Không chỉ luyện đọc đúng từ trong giờ tập đọc mà trong các tiết tăng cường
Tiếng Việt tôi cũng luôn đưa ra những bài tập phân biệt phụ âm đầu và vần để giúp
các em phát âm tốt hơn.
Ví dụ: Dạng bài tập điền phụ âm đầu.
+ Bài tập 1: Điền l hay n..
….o…..ắng ; …o…ê ; ….í….ẽ ; ….áo…ức
+ Bài tập 2: Điền r, d, gi.
… ộn….ã , …..ập ….ờn ,
tháng…..iêng
+ Bài tập 3: Điền s, x
…ản …uất ; …anh….anh
; …o….ánh
…ung phong ;
….ừng…ững
Sau khi học sinh điền xong giáo viên phải yêu cầu và kiểm tra các em đọc.
Nếu các em đọc sai tôi phải kịp thời uốn nắn ngay. Phần luyện đọc từ nếu giáo viên
làm tốt, hướng dẫn học sinh đọc kỹ sẽ giúp cho các em đọc trơn bài đọc tốt hơn.
3.2: Luyện đọc câu:
Sau khi luyện đọc tiếng, từ, cụm từ tôi chuyển sang luyện đọc câu. Trong quá
trình học sinh đọc, tôi thấy học sinh ngắt, nghỉ hơi một cách tuỳ tiện. Để hướng dẫn
học sinh đọc đúng, tôi thực hiện như sau: Đầu tiên tôi chép câu khó lên bảng, sau
đó tôi đọc cả câu cho học sinh lắng nghe phát hiện xem cô ngắt hơi, nghỉ hơi ở chỗ
nào? Rồi tôi dùng phấn kẻ một nét xiên ( / ) ngắt hơi và 2 nét xiên ( // ) nghỉ hơi, “
Thực tế học hay đọc ngắt nhịp 3/3 ở hai câu trên.
3.3: Luyện đọc tốc độ:
Hướng dẫn học sinh đọc giữ tốc độ không đọc ê-a, không đọc quá nhanh hoặc
qúa nhỏ, giáo viên điều chỉnh tốc độ bằng việc giữ nhịp đọc. Ngoài ra việc đọc
nhẩm còn có sự kiểm tra của thầy và bạn. Để điều chỉnh tốc độ bằng cách trước khi
dạy, giáo viên đếm trong bài có bao nhiêu tiếng rồi dự kiến bao nhiêu phút.
3.4: Đọc diễn cảm:
8
Đọc diễn cảm là một yêu cầu đặt ra khi đọc một tác phẩm có tính chất văn
chương. Đó là thể hiện kỹ năng làm chủ ngữ điệu để biểu đạt ý nghĩa và tình cảm
mà tác giả gửi gắm trong bài. Đọc diễn cảm trên cơ sở đọc đúng tốc độ. Đọc diễn
cảm ở lớp 2 cũng chưa phải là yêu cầu nhất thiết với tất cả học sinh mà riêng đối
với một số học sinh có trình độ khá, giáo viên nên khuyến khích, giúp học sinh
bước đầu có ý thức đọc diễn cảm.
Thực tế trong quá trình luyện đọc tôi thấy học sinh đọc đúng, to, lưu loát
nhưng để đọc diễn cảm thì chưa được, học sinh chưa biết làm chủ được ngữ điệu,
đọc chưa đúng tốc độ và chưa biết nhấn giọng ở một số từ : “chìa khóa”. Theo tôi,
đối với học sinh lớp 2 đọc diễn cảm với yêu cầu cụ thể là:
-Thể hiện giọng điệu của từng nhân vật.
- Thể hiện tình cảm của người viết. Đọc diễn cảm là biết làm chủ ngữ điệu,
đọc đúng tốc độ và nhấn giọng ở một từ “ chìa khóa ”.
Để học sinh đọc diễn cảm tôi thường thực hiện như sau:
Ví dụ: Dạy bài “Mùa xuân đến”
+ Đầu tiên tôi viết đoạn văn cần luyện đọc lên bảng.
“Hoa mận vừa tàn thì mùa xuân đến. Bầu trời ngày thêm xanh. Nắng vàng ngày
càng rực rỡ. Vườn cây lại đâm chồi nảy lộc.”
+ Hỏi học sinh: Câu văn nào cho thấy sự thay đổi khi mùa xuân về?
(Bầu trời ngày thêm xanh. Nắng vàng ngày càng rực rỡ. Vườn cây lại đâm chồi nảy
HS đọc đúng văn HS đọc ngọng, phát HS đọc còn đánh
bản ( lưu loát)
âm không chuẩn
vần, ê a, ngắc ngứ
Số HS
Tỷ lệ
Số HS
10
40 %
8
19
75%
5
TL
Số HS
TL
32%
hợp để làm sao đạt kết quả cao nhất trong giờ tập đọc. Đồng thời người giáo viên
phải thực sự năng động, sáng tạo, luôn trăn trở tìm tòi suy nghĩ, hình thức tổ chức
dạy học. Trong quá trình dạy học Tập đọc phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của
học sinh. Học sinh lớp 2, các em thích được động viên, khuyến khích, thích được
chiều chuộng, gần gũi. Để thực hiện mỗi tiết dạy, giáo viên cần hiểu thật rõ, nắm
vững nội dung, yêu cầu của từng tiết, toàn bài phải đọc giọng điệu chung như thế
nào, tốc độ, cường độ, chỗ nào phải nhấn giọng, hạ giọng, từ nào, câu nào học sinh
hay đọc sai, đọc lẫn… để giờ dạy có hiệu quả.
II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM..
Để giờ dạy tập đọc đạt kết quả cao giáo viên cần áp dụng linh hoạt các biện
pháp trong phần luyện đọc đúng. Nắm chắc đặc trưng của phân môn Tập đọc 2,
trong giờ học, tôi phân bố thời gian theo trình tự giáo án nhưng chú trọng các yếu
tố như:
Đọc mẫu của giáo viên: Đọc mẫu nhằm giới thiệu, tạo hứng thú và tâm thế
học tập.
Nếu giáo viên đọc mẫu cho học sinh tốt cũng đã dạy cho học sinh được rất
nhiều. Đọc câu, đoạn nhằm minh họa, hướng dẫn, gợi ý giúp học sinh tự tìm cách
đọc.
Phân môn Tập đọc có nhiệm vụ là rèn luyện cho học sinh các kỹ năng đọc,
nghe và nói. Đọc là quá trình tiếp nhận thông tin; do đó các kỹ năng đọc, nghe và
nói có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự tạo thành các kỹ năng này giúp học sinh
đạt kết quả cao trong giao tiếp.
Giáo viên cần nắm chắc đặc trưng của phân môn Tập đọc 2, trong giờ học, tôi
phân bố thời gian theo trình tự giáo án nhưng chú trọng đến yếu tố: “ Đọc mẫu của
giáo viên” Đọc mẫu nhằm giới thiệu, tạo hứng thú và tâm thế học tập.
Nếu giáo viên đọc mẫu cho học sinh tốt cũng đã dạy cho học sinh được rất
nhiều. Đọc câu, đoạn nhằm minh họa, hướng dẫn, gợi ý giúp học sinh tự tìm cách
đọc. Muốn có kết quả cao thì cả thầy lẫn trò đều phải cố gắng, phải kiên trì trong
quá trình rèn đọc. Muốn vậy giáo viên phải luôn luôn cố gắng đọc đúng, đọc chuẩn,
III. Các biện pháp thực hiện.
1. Giúp học sinh chuẩn bị tốt các điều kiện cho việc đọc
2. Giáo viên đọc mẫu
3. Hướng dẫn luyện đọc đúng
IV. Kết quả thực hiện
C. Kết luận và bài học kinh nghiệm
1. Kết luận
2. Bài học kinh nghiệm
TRANG
1
2
2
2
4
4
4
5-10
10
11
11
12
13