ỨNG DỤNG
CỘNG NGHỆ THÒNG TIN
VÀ TRUYỀN THỐNG
trong đổi mới hoạt động thư viện
T H Ô N G TIN VẢ TRU
PGS.TS. VƯƠNG TOÀN
ỨNG DỤNG
CÔNG NGHỆ THÒNG TIN
VÀ TRUYỀN THỐNG
trong đểi mới hoạt động thư viện
NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TIN VẢ TRUYỀN t h ô n g
LỜ! NHÀ XUẤT BẢN
Công nghệ thông tin đang làm biến đổi sâu sắc mọi lĩnh
vực trên phạm vi toàn cầu. Ngày nay, do những thành tựu của
cách mạng tin học mang lại nên việc đổi mới hoạt động thư viện
truyền thống là tất yếu và cấp bách. Nhờ các quá trình xử lý
thông tin và phương thức truyền thông hiện đại, hoạt động thư
viện đã và đang thay đổi về cơ bản, có thể nói rằng nó thực sự
trở thành một cuộc cách mạng trong ngành Thư viện.
Hiện nay, giá trị thư viện không còn được đánh giá là thư
viện sở hữu bao nhiêu tài nguyên thông tin, mà là thư viện đó
sử dụng công nghệ thông tin như thế nào để truy hồi thông tin
bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!
Hà Nội, tháng 8 năm 2013
NHÀ XUÁT BẢN
THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
DANH MỤC T Ừ VIẾT TẮT
CSDL
Cơ sở dữ liệu
ĐH
Đại học
GS
Giáo sư
HN
Hà Nội
KHXH
Khoa học Xã hội
NDT
TP. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
tr
trang
TS
Tiến sĩ
TSKH
Tiến sĩ khoa học
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Phần I
MỘT Số VẤN ĐỀ CHUNG
■
HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN Đổl MỚI
DO TÁC ĐỘNG
dòng, nhưng thể hiện đày đủ nhất là Trung tâm thông tin - tư liệu
- thư viện.
Trong bài “Nguồn tin và các địa chi về KH XH trên
Internet: hướng dẫn người sử dụng"(i\ Craig Mckie nhận xét
rằng từ nhiều năm trở lại đây, chúng ta đã chứng kiến nhiều thay
đổi lớn trong cách tiến hành các công trình nghiên cứu, đên mức
mà “nền kinh tế dựa trên thông tin” phát triển hơn cả nền kinh tế
công nghiệp đã có nhiều thành công trước đó. Việc phát triển
rộng rãi các công cụ nghiên cứu điện tử, đặc biệt là World Wide
Web (web) đã tạo ra một số thay đổi sau:
l ế Thay đổi trong cách phổ biến, lưu trữ, tìm kiếm, trích
thông tin và trong những bài học rút ra từ những thông tin nàyễ..
2. Thay đổi trong bản chất thông tin liên quan đến KHXH
(các thể loại mới, cách sử dụng mới) và khả năng tiếp cận với
các thông tin này dễ dàng hơn nhiều.
3. Thay đổi trong cách cung cấp các dữ liệu của các cơ
quan chức trách cho nhà nghiên cứ u...
4. Thay đổi trong cách kiểm soát thông tin của các nhà
chức trách..ế
5ắ Thay đổi trong cách trao đổi giao tiếp giữa các thành
viên trong một nhóm nghiên cứu.
(1) Các khoa học xã hội trên thế giới (Chu Tiến Ánh - Vương Toàn dịch) H
Nxb ĐHQG Hà Nội, 2007, tr. 443-456.
10
Dù quan niệm và thực tiễn có thể dẫn đến sự khác nhau về
nhận thức và cách làm, nhưng đâu đâu ta cũng thấy nói đến kết
hợp thư viện truyền thống với thư viện hiện đại, và ímg dụng
tử từ thập niên 1970 và bản đầu tiên được bán ra vào năm 1980,
phát hành đĩa CD đầu tiên vào năm 1989 và đưa lên mạng vào
năm 1994. Phiên bản trên mạng được bán với giá 70 USD cho
một năm đăng ký sử dụng. Công ty có trụ sở ở Chicago cũng cho
biết cuốn Từ điển bách khoa bàng tiếng Anh lâu đời nhất này sẽ
chỉ tập trung vào việc phát hành phiên bản trên Internet*1 Vậy
thì để NDT có thể tra cứu bộ từ điển này, thư viện hiện đại
không nhất thiết phải dành chỗ cho bộ sách mấy chục tập trong
kho chứa sách tra cứu của mình như trước đây.
Vượt ra khỏi những cung cách phục vụ truyền thống (cho
đọc, mượn, tra cứu tại chỗ...), khi dịch vụ thông tin trờ thành nhu
cầu tất yếu của thời đại thì các thư viện và trung tâm tư liệu phải
đổi mới hoạt động cho phù hợp. số lượt bạn đọc được thống kê
hàng tuần, hàng tháng, hàng năm không còn là chỉ tiêu duy nhất
để đánh giá hoạt động của một cơ quan thông tin - thư viện, như
suốt mấy chục năm trước đây ta vẫn làm.
Với cách làm truyền thống thì những cơ sở này chỉ là nơi
lo cất giữ tài liệu là chính, vì vậy để hoạt động cũng phải sử
dụng một vài hệ thống phương tiện khai thác thủ công (tủ phiếu
tra cứu, các loại thư mục sách mới hay chuyên đề...). Thực tể
cho thấy, nhu cầu về thông tin không chỉ nảy sinh ở người có
khả năng trực tiếp đến thư viện và trung tâm tư liệu, mà nó còn
có cả nhu cầu của các nhà khoa học nước ngoài.
(1) Trung Thuần, TC. Từ điển học và Bách khoa thư, số 3, tháng 5. 2012, tr 91.
12
Nếu không tiến hành tin học hoá thì con người không thể
làm chủ được cái kho tài nguyên thông tin khổng lồ, mà trí tuệ
Ở nước ta, nhiều ngành ở cấp Trung ương và địa phương
đã xây dựng được kho lun trữ và tìm kiếm thông tin, đó là những
kho tài nguyên thông tin quản lý cán bộ, vật tư, lưu trữ văn bản,
thông tin khoa học kỹ thuật và dịch vụ... Báo chí ngoài bản giấy
lại có báo điện tử, trang tin điện tử. Đe án Chính phủ điện từ cho
phép mọi người có thể tìm hiểu và khai thác văn bản mình quan
tâm ngay trên mạng khá thuận lợi và dễ dàng.
Việc sử dụng máy tính điện tử để tin học hoá tư liệu khoa
học cho phép con người chi phí tối thiểu mà có thể sử dụng tư
liệu khoa học tối đa (nhiều lần), nhân sao dễ dàng.
Ví dụ như mới đây, Trường phổ thông trung học Việt Bắc
(Lạng Sơn) do không biết cách bảo quản tài liệu, nhà trường
mong muốn có lại bản sao một văn bản đã chụp (photocopy)
cách đây 10 năm nay đã mờ. Tuy nhiên, Tạp chí của Thư viện
Quốc gia đã có thể cập nhật rất nhanh và hết sức tiện dụng,
bàng việc gửi kèm thư điện tử bản scan toàn văn Nghị định này
(của Bộ Giáo dục ký ngày 29/5/1947). Mặc dù, cách Hà Nội gần
200 km, nhưng nhà trường cũng đã kịp thời nhận ngay được văn
bản quan trọng để kịp chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 65 năm ngày
thành lập.
Nhờ hoạt động thư viện được tin học hoá, thông tin được
trả lời nhanh, chính xác và có thể phục vụ nhiều đối tượng cùng
một lúc. Nạn “giữ tủ” tài liệu để sử dụng cho riêng mình bị chấm
dứt về cơ bản, kể cả cách xưa kia, chỉ cần xé phiếu mô tà ờ các
tủ mục lục là có thể sở hữu riêng, cho dù tài liệu này vẫn được
bảo quản rất cẩn thận tại thư viện.
14
sáng tạo. Ví như bên cạnh dòng tin kinh tế chắc hẳn cũng cân
đến các dòng tin phi kinh tế như: tâm lý học, xã hội học, sinh
học, kỹ thuật học... khi những kiến thức cùa nhân loại đã được
xã hội hóa tới trình độ cao thi những gì là "đường mòn", "cô hủ"
dễ bị phát hiện.
Tin học hoá góp phần đổi mới cách nghĩ và cách làm trong
lao động khoa học sáng tạo. Bởi lẽ đó, đã từng có lúc, có nơi,
không phải không có người sợ "kẻ thù nguy hiểm" này nên đã
ngấm ngầm hay công khai làm chậm trễ việc tin học hoá công
tác tư liệu khoa học, viện cớ này hoặc cớ khác (cả nguyên cớ
khó khăn thiếu thốn về kinh tể)! May thay, cái thời ấy qua rồi!
Do hoàn cảnh lịch sử, hoạt động thông tin KHXH ở nước
ta cho đến nay còn nặng về phân tán. Hiện tượng phi tập trung
hoá hoạt động thông tin - thư viện ở một cơ quan tầm cỡ lớn,
vốn có nhiều thư viện nhỏ ra đời sớm muộn khác nhau, lúc mới
ra đời thường ở những địa điểm khác nhau nên gần như độc lập
với nhau về tất cả các khâu dây chuyền tác nghiệp. Cũng bàn
đến chuẩn nghiệp vụ chung, nhưng vì không có gì là bắt buộc,
nên vẫn tùy điều kiện mà thực hiện (cho đến nay, vẫn có thư
viện chưa dùng MARC 21), ngay cả việc chọn phần mềm thư
viện cũng được quan niệm là tùy thấy "thích hợp".
Người ta chưa dành mối quan tâm xứng đáng để nó có thể
dễ dàng liên thông, nhàm đáp ứng được nhu cầu phong phú của
NDT - những nhà nghiên cứu và giảng dạy KHXH trong và
ngoài nước. Cũng vì thế, nó chưa có khả năng trả lời nhanh
chóng kịp thời và chính xác những câu hỏi mà KHXH Việt Nam
và thế giới đặt ra. Một phần bởi vì nó chưa có điều kiện tiếp cận
16
khan hiếm thông tin (Tuy nhiên, cũng còn do người có quyên
quyết định trong việc tạo lập tài nguyên thông tin có ý thức tránh
trùng hay không).
Quản lý được kho tài nguyên thông tin thì cũng quản lý
được các đề tài khoa học, kể cả các hướng nghiên cứu. Việc
tránh khỏi nghiên cứu trùng lặp còn là tiền đề cho việc hợp nhât
thời gian và trí lực của các nhà khoa học trong một hướng đề tài
nghiên cứu chung: thay cho việc cùng sáng tạo (gần như nhau),
người ta đi sâu vào những khía cạnh khác nhau của vấn đề bổ
sung hỗ trợ cho nhau. Hiện nay do hoạt động nghiên cứu phân
tán nên việc quản lý và chỉ đạo từ xa sẽ có hiệu quả kinh tế hơn
quản lý hành chính tại chỗ. Nhờ tin học hoá, nhà chỉ đạo chiến
lược nghiên cứu có thể thấy ngay hiện trạng của tình hình (ai
đang nghiên cứu đề tài gì, ở đâu, khi nào dự định hoàn thành...)
và khi đó một dự án nghiên cứu được thông qua sẽ có đủ cơ sở
khoa học để thực hiện.
Một thông tin cụ thể không nhất thiết lập tức đáp ứng nhu
cầu của nhiều NDT vì thông tin khoa học không phải là thông tin
đại chúng, dù khoa học của chúng ta mang tính đại chúng, cổt để
phục vụ quần chúng. Do vậy người ta khó thấy ngay hết hiệu
quả kinh tế của hoạt động thông tin khoa họcỗ Song xử lý thông
tin cũng tạo ra những nguồn lợi kinh tế. Người ta có thể tính
toán giá thành của nó trong tương quan với hiệu quả và lợi ích
mà nó mang lại để từ đó có một chính sách đầu tư thích đáng
cho hoạt động thông tin khoa học.
Tin học hoá công tác thư viện - tư liệu khoa học chắc chắn
sẽ mang lại những hiệu quả thiết thực cho nghiên cứu khoa học
xét từ lợi ích kinh tế của toàn xã hội.
19
Nói cách khác, đã đến lúc cẩn có cuộc "cách mạng hóa
irons quan niệm về íhư viện" đẻ thấy hét ý nghĩa khoa học của
siai đoan nàv. thưòĩi2 được sọi là "thư viện hiện đại", với sụ
xuắr hiện cúa ĩhu viện điện tứ. thư viện so, thư viện áo. Nên
chảng sọi tên cho hợp mối là "thư viện thời cLm.
Nsành thu viện irẻn thé 21Ở1 đã vả rtano phái triển không
nsừns. Ớ Việt Nam cho đén nav. vần còn tồn tại cách hoại động
thư viện tnivển thổns (có the xen kẽ. vói nhữns mửc độ 1'hÃr
nhau) ỏ khỏna it noi. Sự chậm phái triền này còn do nhiều
nguvẻn nhản chứ khõns đom thuần là nehèo. vì trên thực te. có
nhiêu nước trên thế giỏi còn nehèo bơn nhưne npành thư viện
của họ v ln phái triẽn hơn chúna la.
Thậl vậy. lý do chinh nhiêu khi lại do chính nhrmo người
có thảm quyền đề đạt hav quvét định chi liêu cho hoạt độns thư
viện chưa quan tám hav chưa có nhận thức đíina mức về những
bước phát triẻn nsành thu viện (nhải là khi chinh họ chưa có nhu
cầu về nhữns dịch vụ ứiư viện hiện đại). Vì thế. người la dễ lầm
tuông khi đã có vài (chục) cái máv vi ảnh trans bị Dối mạng
(nhirns khá năng liên kết thi khi được, khi khỏoa. do máv hons
hoặc do đườnơ truyền)... the là đã hiện đại rồiĩ
Tỏ chức hoại độo£ điêng nn KHXH ĩron£ cá nước theo
hưónơ tin bọc hoá đẻ hình ừiảnh (ĨT002 ĩhực tiễn chứ khỏnơ phải
rrẻn dãv tờ) mộĩ bệ ỉbổD2 thóns tm KHXH quốc áa. dãi croos
—ô: liên bệ 0ICT1£ tác vói các mạng lưới tbóns tin KHXH quốc
:é. hãn sẽ lã mội nhu câu bẻt sức cãp thiẻt lúc nàv. bởi TÓ thưc
sự ir.ană nnh kinh ĩé rỏ rệt-
Chúng tôi xin chia sẻ ý kiến của GS Triết học Trân Văn
Đoàn (Đại học Quốc gia Đài Bẳc) trong buổi nói chuyện tại
Viện Thông tin KHXH (ngày 13/01/2006) cho rằng mỗi thư viện
cần chú trọng đến việc bảo tồn và xây dựng vốn tư liệu đặc thù
của mình và trọng tâm bảo tồn khiến cho thư viện khác không có
mà chỉ đây có, và một thư viện không quá nhiều trọng tâm để trờ
thành tạp hóa!
Tuy nhiên, vốn tài nguyên thông tin thu thập không chi cần
được lưu giữ tốt, mà còn cần được xử lý nhờ kỹ thuật hiện đại,
sao cho NDT dễ dàng tiếp cận nhất (chứ không phải chỉ nằm
nguyên trong kho, kể cả kho thông tin điện tử)ễ Nói cách khác là
làm sao để cả các nguồn tài nguyên thông tin này không chỉ
được thu nhận, bảo quản tốt mà chúng phải được khai thác có
hiệu quả tối đa, phục vụ cho các hoạt động xã hội như tìm hiểu
về địa phương hay công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Ở đây, xin đi sâu phân tích các nguồn tài nguyên thông tin
đặc thù ở một thư viện khoa học.
2. Ba nguồn tài nguyên thông tin đặc thù
Tài nguyên thông tin đặc thù của một thư viện có thể hình
thành từ ba nguồn chính: kế thừa, thu thập (sưu tầm, mua và trao
đổi), và các sản phẩm nội sinh.
2.1. Nguồn tài nguyên thông tin đặc thù do kế thừa
Nguồn tài nguyên đặc thù do kế thừa thì không phải thư
viện nào cũng may mắn có được. Đó là những tài liệu được
chuyển giao lại từ những tổ chức tiền thân hoặc tiếp quản.
22
Chẳng hạn như vốn sách báo, tư liệu khoa học về Phương
kinh tế qua các thời kỳ, về giáo dục ở Việt Nam xưa và sự tiếp
nhận học thức phương Tây ở nước ta đầu thế kỷ XX, đã có
những khảo cứu rất công phu về lịch sử, khảo cổ học, pháp luật
và luật lệ làng xã, về văn hoá vật thể: trang phục, nhà ở,... và
văn hoá phi vật thể: phong tục, tập quán, lễ hội, nghi lễ tôn giáo,
về địa lý y học, về quân sự, bao gồm cả nhật ký chiến sự, về
nhân học và dân tộc học, và ngôn ngữ các tộc người miền Bấc
như: Mường, Tày, Nùng, Thái, Mèo (H’mong),... và các tộc
người ở Tây Nguyên như: Ba Na, Ê Đê, Kơ Ho, M ’nong...
Có thể xem đây như tài nguyên thông tin đặc thù vì đó là
những tài liệu ít nơi còn lưu giữ được, nếu không nói có những
tài liệu thuộc loại là độc nhất vô nhị, do vậy không chỉ bạn đọc
là các nhà nghiên cứu trong nước mà bạn đọc nước ngoài như
Nhật Bản, Pháp, Thụy Điển, Nga, Mỹ, Hàn Quốc... cũng đã
từng tìm đến khai thác (theo tư liệu của Phòng Công tác bạn đọc,
từ đâu 04/3/2003 đên 30/01/2007, đã có 466 tài liệu về lịch sử,
văn học cổ cận đại, ngôn ngữ, tôn giáo,.ắ. thuộc hai kho này
được đưa ra phục vụ bạn đọc tại chỗ).
2.2ẽ Nguồn tài nguyên thông tin đặc thù do thu nhập
Nguồn tài nguyên thông tin đặc thù này là do nhiều cách
thu thập: sun tầm, mua được bằng việc sử dụng nguồn kinh phí
được cấp, và trao đổi hoặc biếu tặng mà có, bao gồm cả những
địa chỉ truy cập miễn phí hay có thu phí, chẳng hạn như tai
httpỄ
-//www. issi■goV. vn/, bạn đọc có thể tra cứu các CSDL và tap
chí trực tuyến dưới đây:
24
• Cơ sở dữ liệu trực tuyến EBSCO (Chương trình PERI)
cho thấy ràng việc tiếp cận và triển khai thực hiện để sao cho có
được đày đủ - và kịp thời - các bộ sưu tập - bàng giây hay điện
tử - cần sở hữu không phải lúc nào cũng dễ dàng, cho dù có đủ
nguồn tài chính, một khi người chăm lo “đầu vào” lại không có
những hiểu biết tối thiểu về những tài nguyên thông tin khoa học
chuyên ngành nhất thiết cần bổ sung cho được, và/hoặc thiếu
lòng yêu nghề.
Do biết tập trung theo một chiến lược bổ sung phục vụ tối
ưu cho nghiên cứu và đào tạo, vốn tài nguyên thông tin ở một số
thư viện chuyên ngành thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam
không những phong phú, mà còn sở hữu không ít tài liệu quý
hiếm, kể cả tài liệu xuất bản ngay trong nước, trong khi hai thư
viện lớn nhất của Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam - trong đó có
Thư viện KHXH - lẽ ra cần có mà lại không có được. Theo dõi
vốn tài liệu thông qua CSDL sách mới nhập về các thư viện
thuộc Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam (được xây dựng từ 1998
đến nay đã tích hợp được hom 100 ngàn biểu ghi) thì thấy ngay
điều này.
Tuy nhiên, về nguồn tài nguyên đặc thù chủ yếu là do trao
đổi và biếu tặng, như kho sách tiếng Nga ở Thư viện KHXH - là
nguồn bổ sung chính và mỗi năm một tăng, trong khoảng thời
gian từ 1970 đến 1989. Ngoài các tác phẩm kinh điển chủ nghĩa
Mác - Lênin cần cho tham khảo là những nghiên cứu khoa học
tổng hợp, chuyên khảo về một bộ môn khoa học riêng biệt, tuyển
tập các công trình nghiên cứu. Và theo khảo sát của Đào Duy
Tân, nguồn tài nguyên này “cho chúng ta thây bức tranh toàn
cảnh về hệ thống các cơ quan nghiên cứu khoa học, các trường
26
số tháng 8/2007, tr. 39-44.
27