TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
******
BÀI TẬP NHÓM
QUẢN TRỊ RỦI RO
Đề tài:
“HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH HỢP NHẤT GIỮA NH TMCP
PHƯƠNG TÂY VÀ TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN
DẦU KHÍ VIỆT NAM”
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Phan Thị Thu Hà
Thành viên nhóm:
1. Nguyễn Công Lý
2. Trịnh Đinh Mai Hồng
3. Nguyễn Thanh Chương
4. Nguyễn Hồng Hạnh
Hà Nội, tháng 05/2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
******
BÀI TẬP NHÓM
QUẢN TRỊ RỦI RO
Đề tài:
“HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH HỢP NHẤT GIỮA NH TMCP
PHƯƠNG TÂY VÀ TỔNG CÔNG TY TÀI CHÍNH CỔ PHẦN
DẦU KHÍ VIỆT NAM”
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
.......................................................................................................................................1
.......................................................................................................................................2
LỜI CẢM ƠN...............................................................................................................1
MỤC LỤC....................................................................................................................1
PHẦN MỞ ĐẦU..........................................................................................................3
1.1. Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam.........................................6
1.1.1. Cơ cấu tổ chức và hoạt động.............................................................6
1.1.2. Tình hình tài chính.............................................................................6
1.2. Ngân hàng TMCP Phương Tây.......................................................................7
1.2.1. Cơ cấu tổ chức hoạt hoạt động..........................................................7
1.2.2. Tình hình tài chính.............................................................................8
Lợi ích của việc hợp nhất......................................................................................12
Tạo ra giá trị cộng hưởng to lớn...........................................................................13
Đem lại lợi ích cho các bên hữu quan...................................................................13
2.2. Nguyên tắc.......................................................................................................13
2.3. Yêu cầu của ngân hàng PVCom Bank sau quá trình hợp nhất...................14
CHƯƠNG III..............................................................................................................16
QUÁ TRÌNH HỢP NHẤT VÀ KẾT QUẢ...............................................................16
3.1. Quá trình hợp nhất.........................................................................................16
3.2. Kết quả đạt được............................................................................................19
CHƯƠNG IV..............................................................................................................23
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG............................23
SAU HỢP NHẤT.......................................................................................................23
4.1. Giới thiệu chung..............................................................................................23
4.2. Thương hiệu PVCombank.............................................................................24
và một ngân hàng mới ra đời mang tên PVcombank mang theo nhiều kỳ vọng về sự
tăng trưởng, lớn mạnh và phát triển.
b. Mục tiêu nghiên cứu
Để hiểu rõ hơn về hoạt động M&A của các NHTM Việt Nam, những khó
khăn còn tồn đọng cũng như xu hướng phát triển M&A trong những năm tới, thông
qua hoạt động hợp nhất của WESTERNBANK và PVF. Nhóm chúng tôi xin lựa
chọn đều tài “Hiệu Quả quá trình hợp nhất giữa NH TMCP Phương Tây và
Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam”
c. Câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
1. Thực trạng của Ngân hàng TMCP Phương Tây và tổng công ty tài chính
cổ phần dầu khí Việt Nam trước khi hợp nhất.
2. Quá trình hợp nhất diễn ra như thế nào?
3. Hiệu quả sau 2 năm hợp nhất và kiến nghị những giải pháp để ngày càng
phát triển hơn ?
d. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
-
Tìm hiểu Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam
Tìm hiểu về Ngân hàng TMCP Phương Tây
Tìm hiểu về lý do, nguyên tắc, thách thức, khó khăn của việc hợp nhất
Tìm hiểu về quá trình hợp nhất
Đánh giá hiệu quả sau 2 năm hợp nhất
Đưa ra một số khuyến nghị và giải pháp
e. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài tiếp cận các vấn đề nghiên cứu từ các góc độ sau:
vào tháng 3/2000 và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 6/2000. Trụ sở công ty tại
địa chỉ 22 Ngô Quyền – Hoàn Kiếm – Hà Nội với vốn điều lệ ban đầu là 100 tỷ
đồng. PVF hoạt động theo mô hình 100% vốn nhà nước trong bối cảnh thị trường
tài chính trong nước đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ và đạt những bước
tiến nhất định, trong đó đáng chú ý là xu hướng mở rộng trên nhiều lĩnh vực theo
hướng tập đoàn kinh tế. Với mạng lưới 10 chi nhánh và 3 công ty thành viên, phạm
vi hoạt động của PVF đã phủ rộng các trung tâm kinh tế lớn của cả nước như Vũng
Tàu, TP Hồ Chí Minh. Đồng bằng Sông Cửu Long. PVF đã khẳng định từng bước
đi trên thị trường tài chính Việt Nam và có xu hướng vương ra thế giới. PVF đã nỗ
lực không ngừng và để lại những dấu ấn quan trọng như năm 2009 đạt tốp 500
doanh nghiệp và thứ 11/23 tổ chức tín dụng lớn tại Việt Nam. Năm 2010: cấp vàng
thương hiệu và nhãn hiệu. 3 năm 6ien tiếp đạt huân chương lao động hạng nhì, tốp
10 thương hiệu nổi tiếng 5 quốc gia, thương hiệu chứng khoán uy tín. Năm 2012 đạt
tốp 50 doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
1.1.2. Tình hình tài chính
Năm 2000 Tổng công ty tài chính cổ phần dầu khí Việt Nam được thành lập
với vốn điều lệ là 100 tỷ đồng. Năm 2007, PVF chuyển đổi từ công ty 100% vốn
nhà nước sang thành công ty cổ phần đại chúng,niêm yết tài sản HOSE với giá trị
vốn hóa đạt 5000 tỷ đồng. PVN là cổ đong lớn nhắt, nắm giữ 78% cổ phần, xếp sau
là NH Morgan Stanley với 10%. Năm 2012, PVF là tổ chức tín dụng phi ngân hàng
lớn nhất trên thị trường với tổng giá trị tài sản đạt 88.000 tỷ đồng và vốn điều lệ ở
mức 6.000 tỷ đồng, tương đương với một NH TMCP. Hoạt động chính của PVF là
quản lý vốn cho ngành dầu khí, với phần lớn thu nhập đến từ việc cho vay các công
ty con của PVN, thu nhập lãi thuần từ khách hàng ngoài ngành thường dưới 10%.
PVF cũng tham gia nhiều hoạt động kinh doanh phi ngân hàng như cung cấp dịch
vụ, thanh toán ngoại hội, chứng khoáng, đầu tư và góp vốn nhưng hoạt động này
hoặc là không đáng kể hoặc là thua lỗ lớn.
Có nhiều thay đổi mang tính chiến lược ở PVF trong năm 2012. Thứ nhất là
1800172881 (31/08/2010)
-
Ngành nghề kinh doanh chính
Huy động vốn ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn
Tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và phát triển của các tổ chức trong nước
Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác
- Cho vay ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn
- Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá
- Hùn vốn và 8ang doanh thep pháp luật hiện hành
- Làm dịch vụ thanh toán giữa các khách 8ang
- Kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và thanh toán quốc tế…
Mốc lịch sử
- Tiền thân là Ngân Hàng Nông thôn Cờ Đỏ, được thành lập theo giấy phép số
003366-GP/TLDN-03 do UBND T.Cần Thơ cấp ngày 15/01/1996. Ngân 8ang hoạt
động theo giấy phép số 0016/NH-GP do Thống đốc Ngân 8ang Nhà nước Việt Nam
cấp ngày 06/04/1992.
- Western Bank được chuyển đổi sang mô hình hoạt động Ngân 8ang đô thị
đầu năm 2007, đồng thời tăng vốn điều lệ lên mức 1000 tỷ đồng đầu năm 2008.
1.2.2. Tình hình tài chính
Theo sổ sách của WTB, tại thời điểm 29/02/2012, chất lượng tài sản
vẫn được đảm bảo và giá trị trích lập dự phòng thấp. Trích lập dự phòng cho
các khoản tín dụng chỉ có xấp xỉ 35 tỷ, trong khi trích lập dự phòng cho các tài
sản khác gần như không đáng kể. Hệ số đảm bảo an toàn vốn đạt mức cao
23,57%. Tỷ lệ nợ xấu chỉ có 0,67%.
Dư nợ
Tuy nhiên, theo đánh giá của Thanh tra NHNN, tình hình tài chính của
WTB thực tế có nhiều điểm đáng lưu ý.
Tiền gửi liên ngân hàng có 1.118 tỷ đã quá hạn tại 4 ngân hàng: Đệ Nhất, Sài
Gòn, Việt Nam Tín Nghĩa. Đại Tín và phải trích lập dự phòng 50%, tương đương 559
tỷ đồng.
Dư nợ tín dụng có nhiều khoản nằm dưới dạng ủy thác đầu tư và đặt cọc môi
giới chứng khoán. Các khoản nợ cũng được Thanh tra NHNN đánh giá phân nhóm lại
và trích lập dự phòng bổ sung, cụ thể như sau: Đơn vị tính: Tỷ đồng
Khoản đầu tư vào trái phiếu 1.800 tỷ chưa có tài sản đảm bảo. Khoản
đầu tư vào cổ phiếu KBC phải trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán xấp
xỉ 88 tỷ đồng.
Trong mục lãi dự thu có gần 51 tỷ dự thu lãi cho các khoản tiền gửi tại
4 ngân hàng: Đệ Nhất, Sài Gòn, Việt Nam Tín Nghĩa, Đại Tín. Khoản lãi dự thu
này phải xuất toán khỏi mục phải thu của WTB.
Tóm tắt các biến động trong tình hình tài chính của WTB tại 29/2/2012 theo
kết quả đánh giá của Thanh tra NHNN như sau: (Đơn vị tính: Tỷ đồng)
Chỉ tiêu
Tổng dự phòng cho vay liên
Trước khi
Điều chỉnh theo Kết
điều chỉnh
luận Thanh tra
(559)
2.310
(932)
Hệ số CAR
23,57
17,98
(5,59)
NH
Tổng dự phòng rủi ro tín
dụng
Góp vốn đầu tư dài hạn
Lãi dự thu
Tổng tài sản
Lợi nhuận chưa phân phối
-
Chênh lệch
Như vậy với kết quả trên, tổng tài sản của Ngân hàng giảm từ 16.598 tỷ còn
15.667 tỷ đồng thời gây khoản lỗ lũy kế trên hạch toán kế toán là 761 tỷ tại thời
điểm 29/2. Đồng thời, hệ số CAR của Ngân hàng còn lại là 17,98%, vẫn cao hơn so
với mức tối thiểu 9%.
khoảng 90.000 tỷ đồng nhưng là một công ty tài chính, đơn vị này không thể huy
động từ dân cư cũng như làm nghiệp vụ thanh toán. PVFC chủ yếu cho vay dự
án tài chính dài hạn mà lại không có lượng vốn huy động thường xuyên từ dân
cư, nguồn vốn chủ yếu trông chờ vào lượng tiền gửi từ các tổ chức, trong đó có
tập đoàn dầu khí hoặc đi vay trên thị trường liên ngân hàng. "Nếu làm vậy thì
không ăn thua, PVFC chẳng khác nào có tay mà không được sử dụng", một
chuyên gia về kiểm toán phân tích. Tại miền Bắc, PVFC dù là công ty tài chính
nhưng lại có ưu thế trong tài trợ vốn cho các dự án và tổ chức kinh tế, hơn nữa
công ty này cũng có thương hiệu của ngành dầu khí hỗ trợ. Bên cạnh đó, khi có
đủ công cụ như một ngân hàng, PVFC sẽ dễ dàng vươn dài mạng lưới. Mặt khác,
PVFC là đơn vị trực thuộc Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (Petro
Vietnam). Tập đoàn này đang chịu áp lực lớn phải thoái vốn ngoài ngành, trong
đó có lĩnh vực tài chính. PVFC cũng đứng trước sức ép lớn khi Thủ tướng yêu
cầu “không duy trì” Công ty tài chính PVFC trong nội dung Đề án Tái cơ cấu
Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN).
Bản thân một lãnh đạo cấp cao của PVFC cũng từng chia sẻ, công ty tài
chính này lựa chọn Western Bank là đối tác một phần vì đây là một ngân hàng nhỏ.
"Vì nhỏ nên rất dễ làm sạch nó”
Tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần cũng từng tham gia tái cơ cấu lại nhìn
nhận mối lương duyên này là câu chuyện "rổ rá cạp lại" có lợi cho hai bên. Theo
ông, một bên là ngân hàng đang khó khăn vớ được cọc, một bên là công ty tài chính
vừa bị tập đoàn chủ quản (PetroVietnam) "thúc" giảm vốn sở hữu đã vậy còn mặc
một chiếc áo quá chật. Sau "mối tình" này, lợi thế lớn nhất của ngân hàng hợp nhất
theo nhiều chuyên gia là mạng lưới hệ thống bởi một người mạnh về nghiệp vụ bán
buôn còn một bên vốn đã chuyên bán lẻ. Một chuyên gia tài chính đánh giá: PVFC
trong vai trò là "người mua" đã lấy được rất nhiều. "PVFC sẽ có được tấm giấy
phép trở thành ngân hàng, việc mà hiện nay khó như lên trời với tất cả mọi người".
PVFC coi như có giấy phép trở thành ngân hàng và thoát khỏi việc mặc một chiếc
giảm đáng kể chi phí đầu tư, chi phí đào tạo nguồn nhân lực, chi phí vận hành và
thời gian phát triển mạng lưới;
- Tăng khả năng khai thác thị trường bán lẻ, đặc biệt tại các khu vực kinh tế
trọng điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và
khu vực Đông Nam Bộ, Miền Tây.
Đem lại lợi ích cho các bên hữu quan
-
Đối với xã hội và Nhà nước: Góp phần làm lành mạnh hóa và tăng hiệu
quả của thị trường tài chính Việt Nam.
- Đối với cổ đông: Việc hợp nhất sẽ nâng cao khả năng sinh lời từ đó đem lại
nhiều giá trị thặng dư cho cổ đông của NHSN.
- Đối với khách hàng: Tất cả các quyền lợi và nghĩa vụ với khách hàng sau
hợp nhất đều được đảm bảo và thừa hưởng bởi NHSN. Với nguồn lực vốn mạnh
hơn, NHSN có thể cung cấp dịch vụ cho khách hàng lớn hơn về quy mô và chất
lượng, đặc biệt là khả năng cung ứng vốn ra thị trường cũng được cải thiện.
- Đối với đội ngũ nhân viên: Các nhân viên được chuyển giao kiến thức mới
hiện đại và có nhiều cơ hội để cải thiện thu nhập.
2.2.
Nguyên tắc
Theo đề án công bố, hai bên sẽ hợp nhất thành ngân hàng mới nhằm giải
quyết những tồn tại của WesternBank cũng như giảm được phần vốn góp của Tập
đoàn Dầu khí (PVN) tại PVFC. Cụ thể:
Thứ nhất, việc hợp nhất Western Bank vào PVFC được thực hiện trên cơ sở
tự nguyện và do Đại hội đồng cổ đông của 2 đơn vị quyết định; hợp nhất vốn, tài
sản, công nợ theo giá trị sổ sách của Western Bank vào PVFC.
Thứ hai, đảm bảo sự kế thừa quyền, nghĩa vụ. PVFC sau hợp nhất sẽ tiếp
doanh nghiệp trong 3 năm sau khi hợp nhất và giảm 50% theo mức thuế hiện hành
trong hai năm tiếp theo để có thể tích lũy vốn sau khi tái cơ cấu.
Thứ ba, về hỗ trợ thanh khoản, xóa nợ xấu, miễn thuế, ưu tiên dự trữ bắt
buộc trong đề án hợp nhất. Cụ thể, PVFC và Western Bank xin Ngân hàng Nhà
nước và Petro Vietnam hỗ trợ tới 37.000 tỷ đồng cho việc thanh khoản và các vấn
đề sau hợp nhất. Ngoài ra, PVFC cũng muốn "xóa" hơn 2.800 tỷ đồng nợ xấu của
hai "quả đấm thép" Vinashin và Vinalines sau khi hợp nhất để dễ vận hành ngân
hàng mới sạch sẽ hơn. Bên cạnh đó, để ngân hàng mới sớm khắc phục khoản lỗ
phát sinh trước khi tái cơ cấu, xin chỉ chịu tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng một phần năm
so với quy định và được duy trì dự trữ bắt buộc 50% bằng tiền mặt, 50% bằng các
giấy tờ có giá.
2.4.
Thách thức, khó khăn
Ngoài các thuận lợi và lợi ích của việc hợp nhất như đã nêu trên, Ngân hàng
hợp nhất cũng xác định rằng các khó khăn, thách thức đối với sự thành công của
sáp nhập là không thể tránh khỏi bao gồm:
Thứ nhất: Xử lý vấn đề tài chính phát sinh từ Western Bank ảnh hưởng
đến hoạt động của Ngân hàng hợp nhất, đặc biệt lợi nhuận sẽ giảm trong ngắn
hạn và tỷ lệ nợ xấu có thể tăng, đòi hỏi phải có thời gian để tập trung giải quyết,
xử lý dứt điểm;
Thứ hai: Giải quyết xung đột về văn hóa doanh nghiệp;
Thứ ba: Ứng phó với các phản ứng tiêu cực của thị trường; và
Thứ tư: Tích hợp hệ thống kế toán và CNTT.
Tuy nhiên, NHHN cũng nhận định rằng với năng lực quản lý hiện tại của
Ban Lãnh đạo Ngân hàng cùng với sự hỗ trợ tích cực của NHNN sẽ giúp cho
NHHN có thể giải quyết tốt các khó khăn và thách thức nêu trên.
CHƯƠNG III
QUÁ TRÌNH HỢP NHẤT VÀ KẾT QUẢ
3.1.
Quá trình hợp nhất
Quá trình hợp nhất diễn ra trong vòng một năm rưỡi, tính từ buổi Đại hội
cổ đồng thường niên của PVFC vào tháng 4/2012 (chưa kể thời gian 2 tổ chức
tìm hiểu nhau) đến tháng 10/2013. Quá trình hợp nhất giữa PVFC và WTB trải
qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn 1: PVFC thông báo chuyển đổi mô hình sang ngân hàng
thương mại cổ phần.
Sau 11 năm có mặt trên thị trường tài chính, tổng công ty tài chính cổ
phần dầu khí (PVFC) chuyển đổi mô hình hoạt động thành ngân hàng thương
mại cổ phần.
Ngày 1/4/2011: PVFC đã chính thức đưa hệ thống corebanking thay thế cho
phần mềm Bank 2000 nhằm cung cấp những thông tin minh bạch, nhất quán, hệ
thống tổ chức hạch toán tự động đến 95% các giao dịch, quản lý cơ sở dữ liệu tập
trung, online và toàn hệ thống chỉ sử dụng một CSDL duy nhất.
Ngày 26/04/2012, Tổng giám đốc PVFC ông Nguyễn Thiện Bảo đã đề cập
đến nội dung này ở góc độ định hướng hoạt động trong năm 2012.
Ngày 28/04/2012, trong cuộc họp đại cổ đông thường niên, PVFC đã nêu rõ
định hướng chuyển đổi mô hình hoạt động sang ngân hàng thương mại cổ phần.
Trước mắt, PVFC sẽ thành lập 3 khối tại Hội sở, gồm Khối phát triển kinh doanh,
Khối nguồn vốnvà thị trường tài chính, Khối quản trị rủi ro và việc thay đổi cấu trúc
và hoạt động trong các chi nhánh.
PVFC có vốn điều lệ 6.000 tỷ đồng, Petro Việt Nam sở hữu 78% cổ phần.
Trong năm 2012, theo phương án trong cuộc họp sẽ phát hành riêng lẻ 3.000 tỷ
cũng thoái toàn bộ 26,55 triệu CP với mức giá 10.000 VNĐ/CP, tức 265,5 tỷ, tương
đương với 9% vốn điều lệ của WTB. Như vậy với sự thoái vốn của KBC và SGT,
Tổng vốn điều lệ của WTB đã sụt giảm 15,27% so với ban đầu.
Tính đến cuối năm 2012, tổng vốn huy động dân cư và tổ chức kinh tế đạt 11
nghìn tỷ đồng, tăng 17% so với cuối tháng 6. WTB thu hút hơn 6.000 lượt mở tài
khoản, tăng mạnh so với thời điểm giữa năm 2012.
Tính đến 28/2/2013, cơ cấu tài sản thay đổi khá ngoạn mục. Tổng tài sản của
WTB tăng 6.000 tỷ đồng lên 14.000 tỷ đồng, dư nợ nhóm 2 và nhóm 5 giảm mạnh,
từ 3.333 tỷ đồng (29/2/2012) xuống còn 1.716 tỷ đồng. Đối với dư nợ cho vay các
nhóm liên quan, giảm từ 5092 tỷ đồng xuống 3.306 tỷ đồng.
Giai đoạn 3: Đàm phán và thống nhất hợp đồng hợp nhất của 2 tổ chức
tín dụng
Ngày 13/3/2013; NHNN đã phát đi thông cáo báo chí về một số thông tin
xung quanh việc hợp nhất giữa PVFC và WTB đây là lần đầu tiên sự kết hợp
giữa một công ty tài chính và một ngân hàng thương mại được xác nhận trước
báo giới.
Ngày 16/3/2013: Tại đại hội cổ đông thường niên năm 2013 tổ chức tại Cần
Thơ, các cổ đông của Ngân hàng Phương Tây quyết thông qua tờ trình phê chuẩn về
mặt nguyêntắc kế hoạch hợp nhất với PVFC.
Ngày 18/5/2013: Trong buổi họp Đại cổ đông thường niên của PVFC năm
2013, HĐQT đã đề trình và được trên 75% số cổ đông PVFC có quyền biểu quyết
thông qua đề án hợp nhất PVFC và WTB.
Ngày 14/6/2013: NHNN đã chấp thuận nguyên tắc hợp nhất PVFC và WTB.
Đây là một bước đi quan trọng trong quá trình hợp nhất hai tổ chức tín dụng.
Giai đoạn 4: Hoàn tất quá trình hợp nhất và ra mắt PVcombank
Ngày 8/9/2013: Đại hội cổ đông hợp nhất giữa PVFC và WTB đã được tổ
chức thành công PVFC .
Ngày 12/09/2013: NHNN Việt Nam đã có quyết định 2018 v/v chấp thuận
Ngân hàng TMCP Phương Tây và Tổng công ty tài chính cổ phần Dầu khí
Việt Nam có trách nhiệm bàn giao toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp
pháp cho Ngân hàng hợp nhất.
Ngân hàng hợp nhất có tên gọi là Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam,
Tên giao dịch tiếng Anh là Vietnam Public Bank, tên viết tắt là PVcomBank. Tại
thời điểm hợp nhất, PVcomBank có
• Quy mô tài sản trên 100,000 tỷ đồng , trong đó cổ đông lớn là Tập đoàn
dầu khí Việt Nam chiếm 52% và 6.7% vốn điều lệ thuộc cổ đông chiến lược
Morgan Stanley.
• Trước đó tổng vốn điều lệ của WTB là 2.310 tỷ đồng ( thiếu 690 tỷ so với quy
định của NHNN), Vốn điều lệ của PVFC là 6.000 tỷ đồng ( vốn chủ sở hữu 6.788 tỷ
đồng). Như vậy, Ngân hàng sau hợp nhất PVcomBank có vốn điều lệ 9,000 tỷ đồng được
duy trì trong 2 năm 2013 và 2014; dự kiến ngân hàng sẽ tiếp tục tăng vốn lên 12,000 tỷ
đồng trong năm 2015 để đảm bảo sự phát triển liên tục và đạt tỷ lệ an toàn vốn tối ưu.
• Mạng lưới hoạt động của PVcomBank sẽ được khai thác sâu rộng với 102
điểm giao dịch (01 Hội sở, 30 chi nhánh, 67 phòng giao dịch, 04 quỹ tiết kiệm) tại
các tỉnh thành trọng điểm của cả nước trên cơ sở kế thừa và phát triển các chi
nhánh, điểm giao dịch của PVFvà WEB.
PVcomBank sẽ cung cấp đầy đủ các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng
thương mại: huy động vốn cá nhân, dịch vụ thanh toán, mảng dịch vụ ngân hàng
bán lẻ, thu xếp vốn cho các dự án trọng điểm…
• Vê Hội đồng quản trị: Đại hội đồng đã tiến hành biếu quyết và bầu thành
viên HĐQT chi tiết cụ thể như sau:
-
Nội cấp.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Chúng Việt Nam - PVcomBank có tổng
tài sản đạt gần 100.000 tỷ đồng, vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng, trong đó cổ đông lớn là
Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (chiếm 52%) và cổ đông chiến lược Morgan Stanley
(6,7%). Với mạng lưới 113 điểm giao dịch tại các tỉnh thành trọng điểm trên toàn
quốc; nguồn nhân lực chất lượng cao và bề dày kinh nghiệm trong cung cấp các
dịch vụ cho các doanh nghiệp trong ngành Dầu khí, năng lượng, hạ tầng;
PVcomBank cung cấp các sản phẩm dịch vụ đa dạng đáp ứng đầy đủ các nhu cầu
của khách hàng tổ chức và cá nhân.
Với khẩu hiệu hành động “Ngân hàng không khoảng cách”, PVcomBank
hướng tới việc xây dựng hình ảnh một Ngân hàng gần gũi, thân thiện, tận tụy, vì sự
thành công của khách hàng. Chúng tôi cam kết sẽ phấn đấu trở thành Ngân hàng
chuẩn mực trong cung cấp dịch vụ; với phong cách thân thiện, lấy lợi ích của khách
hàng – đối tác làm mục tiêu hành động, xây dựng thương hiệu PVcomBank luôn
gắn với phương châm hành động xuyên suốt: Ngân hàng không khoảng cách!
PVcomBank đang từng bước khẳng định uy tín và thương hiệu trên thị
trường tài chính tiền tệ, cung cấp các dịch vụ chất lượng cao, tạo ra sự khác biệt
trong phong cách phục vụ; đồng thời thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh