ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
ĐINH THỊ NGUYỆT
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG CỦA
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU,
NGHIÊN CỨU Ở HẬU LỘC, THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
ĐINH THỊ NGUYỆT
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƢƠNG CỦA
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU,
NGHIÊN CỨU Ở HẬU LỘC, THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Phạm Văn Cự
HÀ NỘI – 2016
nuôi trồng thủy sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu................................. 12
1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới ...................................................................... 12
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam........................................................................ 15
1.4 Đặc điểm vùng nghiên cứu và các điều kiện khí hậu liên quan đến nuôi
trồng thủy sản ở Hậu Lộc - Thanh Hóa ...................................................... 18
1.4.1 Đặc điểm vùng nghiên cứu .................................................................. 18
1.4.2 Các điều kiện khí hậu liên quan đến nuôi trồng thủy sản................ 22
1.4.3 Các yếu tố liên quan đến khí hậu có ảnh hƣởng đến nuôi trồng thủy
sản ven biển Hậu Lộc .................................................................................... 27
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ
BỊ TỔN THƢƠNG CỦA NUÔI TRỒNG THỦY SẢN Ở HẬU LỘC,
THANH HÓA ................................................................................................ 33
2.1 Phƣơng pháp nghiên cứu........................................................................ 33
2.1.1 Phƣơng pháp nghiên cứu và các bƣớc đánh giá tính dễ bị tổn thƣơng
......................................................................................................................... 33
2.1.2 Phƣơng pháp chỉ số trong đánh giá TDBTT ..................................... 35
2.2 Xác định độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của nuôi
trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc, Thanh Hóa ........................................... 43
2.2.1 Tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy
sản ................................................................................................................... 43
2.2.2 Độ phơi nhiễm E của nuôi trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc .......... 44
2.2.3 Độ nhạy cảm của nuôi trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc ................ 49
2.2.4 Xác định Khả năng thích ứng của NTTS ở Hậu Lộc........................ 54
2.2.5 Áp dụng công thức tính mức độ dễ bị tổn thƣơng của NTTS Hậu Lộc
......................................................................................................................... 56
2.3 Số liệu và phƣơng pháp xử lý số liệu .................................................... 56
2.3.1 Nguồn số liệu ......................................................................................... 56
2.3.2 Phƣơng pháp xử lý số liệu ................................................................... 57
Danh mục các bảng
Bảng 1.1: Dự báo diễn biến nhiệt độ trung bình năm ở Thanh Hóa giai đoạn 20202100 ............................................................................................................................... 25
Bảng 1.2: Dự báo diễn biến lượng mưa năm ở Thanh Hóa giai đoạn 2020-2100 ........26
Bảng 1.3: Thống kê các cơn bão, ATNĐ ảnh hưởng đến Thanh Hóa từ năm 2004 –
2013 ............................................................................................................................... 27
Bảng 1.4: Diện tích các loại đất bị ngập theo kịch bản nước biển dâng B2 của huyện
Hậu Lộc .........................................................................................................................31
Bảng 2.1: Bảng sắp xếp các biến thành phần theo vùng ...............................................39
Bảng 2.2: Các công thức tính chỉ số dễ bị tổn thương ..................................................41
Bảng 2.3: Quy trình xác định tính dễ bị tổn thương theo phương pháp chỉ số .............42
Bảng 2.4: Tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản
ven biển..........................................................................................................................43
Bảng 2.5: Các chỉ số phơi nhiễm của NTTS ven biển ở Hậu Lộc Thanh Hóa .............47
Bảng 2.6: Các chỉ số nhạy cảm của NTTS ven biển ở Hậu Lộc Thanh Hóa ................52
Bảng 2.7: Các biến của khả năng thích ứng ..................................................................54
Bảng 3.1: Diện tích nuôi trồng thủy sản theo các mô hình nuôi năm 2013 ..................58
Bảng 3.2: Diện tích đất chuyển đổi sang NTTS từ 2004 - 2013 ...................................58
Bảng 3.3: Thông số đầu vào cho chỉ số độ phơi nhiễm E .............................................63
Bảng 3.4: Kết quả tính toán độ phơi nhiễm...................................................................64
Bảng 3.5: Thông số đầu vào của độ nhạy cảm .............................................................. 65
Bảng 3.6: Mối quan hệ giữa các biến của độ nhạy cản và tính dễ bị tổn thương..........67
Bảng 3.7: Kết quả tính toán độ nhạy cảm .....................................................................67
Bảng 3.8: Thông số đầu vào của Khả năng thích ứng ...................................................69
Bảng 3.9: Mối quan hệ giữa biến phụ và biến thành phần AC3 ...................................72
Bảng 3.10: Kết quả tính toán Khả năng thích ứng ........................................................72
Bảng 3.11: Kết quả tính toán mức độ tổn thương .........................................................76
Danh mục hình
Hình 1.1: Sơ đồ cách tiếp cận kết quả .............................................................................7
Biểu đồ 3.5: Biến động tỉ lệ diện tích và tỉ lệ giá trị NTTS xã Hải Lộc........................62
Biểu đô 3.6: So sánh diện tích NTTS của xã Đa Lộc và xã Hưng lộc ..........................65
Biểu đô 3.7: So sánh giá trị NTTS của xã Hải Lộc và xã Hưng lộc ............................. 68
Biểu đồ 3.8: Sản lượng NTTS của xã Hải Lộc và xã Hưng lộc ....................................68
Biểu đô 3.9: Lao động phụ thuộc vào NTTS của xã Hải Lộc và xã Hưng lộc .............69
Biểu đồ 3.10: So sánh các điều kiện xã hội của xã Minh Lộc, Hải Lộc và Hòa Lộc ....73
Biểu đồ 3.11: Các điều kiện kinh tế liên quan đến NTTS của Minh Lộc, Hải Lộc và
Hòa Lộc .........................................................................................................................74
Biểu đồ 3.12: Hạ tầng cơ bản và hạ tầng cho NTTS của Minh Lộc, Hải Lộc và Hòa
Lộc .................................................................................................................................74
Biểu đồ 3.13: So sánh các biến E, S, AC của các xã .....................................................75
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nuôi trồng thủy sản là sinh kế quan trọng ở hầu hết các vùng ven biển và chịu tác
động trực tiếp của BĐKH. Tổn thương từ NTTS do BĐKH ảnh hưởng đến kinh tế của
các hộ dân vùng ven biển, đặc biệt là hộ nghèo. Từ đó dẫn đến các tác động về mặt xã
hội như việc không được chăm sóc y tế, không được tiếp cận giáo dục.
Tác động của BĐKH đến hệ thống sản xuất nuôi trồng thủy sản rất khó đánh giá do
độ bất định liên quan đến quy mô và tỉ lệ những thay đổi được dự báo hay do hiểu biết
hạn chế về tác động lý sinh có thể có đến các hệ thống nuôi trồng thủy sản. Các nghiên
cứu tác động của BĐKH đến NTTS không phổ biến, có thể do vấn đề BĐKH không
được coi là vấn đề ưu tiên trong ngành công nghiệp này. Tuy nhiên việc hiểu cơ chế
của BĐKH tác động đến các hệ thống sản xuất NTTS là cần thiết để có quyết định phù
hợp về chính sách và chiến lược quản lý trong ngành NTTS.
Là một trong 6 huyện thị ven biển, Hậu Lộc nằm cách trung tâm thành phố Thanh
Hóa 25km về phía Đông Bắc, được bao bọc bởi sông Lèn ở phía bắc, sông Mã ở phía
tây, sông Cầu Sài và sông Trường Giang ở phía nam; phía đông giáp với biển Đông.
Hậu Lộc có ba dạng địa hình, vùng đồi núi, vùng đồng bằng chủ yếu là phù sa và vùng
thủy sản ở các xã ven biển của huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hóa. Mục tiêu được xác
định trên cơ sở xem xét bối cảnh biến đổi khí hậu trong khu vực Thanh Hóa - Bắc
Trung Bộ, khả năng tiếp cận địa bàn nghiên cứu và thu thập số liệu. Mục tiêu của luận
văn hướng tới mục đích xa hơn là góp phần tạo ra những căn cứ cho việc ra quyết định
trong chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu của địa phương.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
-
Tổng quan các phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương cho nuôi trồng thủy
sản trong bối cảnh biến đổi khí hậu đã được áp dụng trên thế giới và ở Việt Nam.
- Phân tích đặc điểm của phương pháp chỉ số.
- Đánh giá thực trạng nuôi trồng thủy sản và tác động của biến đổi khí hậu đến
nuôi trồng thủy sản ven biển Hậu Lộc, phân tích các điểm đặc trưng.
- Tính mức độ dễ bị tổn thương của nuôi trồng thủy sản ở các xã ven biển Hậu Lộc
theo phương pháp chỉ số.
- Thể hiện kết quả trên bản đồ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nuôi trồng thủy sản ven biển trong bối cảnh
biến đổi khí hậu.
2
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn 5 xã ven biển của
huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa, trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2013. Nghiên cứu
không sử dụng các kịch bản biến đổi khí hậu để đánh giá cho tương lai, chỉ xem xét
đối tượng nghiên cứu trong phạm vi thời gian xác định.
5. Giới thiệu về kết cấu của luận văn:
Kết cấu của luận văn ngoài những phần không thể thiếu như phần mở đầu, kết luận,
tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn có 3 chương chính:
1.1.2 Khái niệm tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu
Theo khái niệm của UNFCCC đưa ra BĐKH được cho là trực tiếp hay gián tiếp
do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng
góp thêm vào BĐKH tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được. BĐKH là sự
khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu,
trong đó trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài
thập kỷ, thậm chí thế kỷ (Ví dụ: ấm lên, lạnh đi...). Sự biến động của khí hậu dài hạn
sẽ dẫn tới BĐKH.
Các biểu hiện của BĐKH đã được xác định là (i) nhiệt độ trung bình của trái đất
tăng lên kéo theo hiện tượng tan băng ở hai bán cầu làm cho mực nước biển dâng; (ii)
4
lượng mưa thay đổi ở các vùng trên trái đất; (iii) các hiện tượng thời tiết cực đoan như
bão lũ, hạn hán, nắng nóng, rét đậm rét hại, phân bố dị thường về nhiệt độ gia tăng.
Định nghĩa dễ bị tổn thương liên quan đến biến đổi khí hậu có xu hướng chia
làm hai loại, xem dễ bị tổn thương (i) là thuật ngữ chỉ số lượng (tiềm năng) gây thiệt
hại cho hệ thống do một sự kiện hoặc hiểm họa đặc biệt liên quan đến khí hậu, hoặc
(ii) như là một tình trạng đã tồn tại trong hệ thống trước khi nó gặp một sự kiện gây
nguy hiểm [22]. Xu hướng đầu tiên xuất phát từ cách tiếp cận dựa trên đánh giá tác
động của hiểm họa mà không chú trọng đến vai trò của con người trong việc giảm
thiểu thiệt hại do hiểm họa. Xu hướng này xem tính dễ bị tổn thương của hệ thống con
người được quyết định do hiểm họa tự nhiên mà nó tiếp xúc cũng như tần suất xảy ra
các hiểm họa [22]. Liên quan đến xu hướng này, Fuesell, 2007 cũng đưa ra bốn khía
cạnh cần thiết để miêu tả một tình trạng dễ bị tổn thương, đó là: bản thân hệ thống, các
yếu tố quan trọng của hệ thống đang bị đe doạ do tiếp xúc với một hiểm họa, bản thân
mối hiểm họa và khoảng thời gian xem xét tính dễ bị tổn thương [25]. Xu hướng thứ
hai coi tính dễ bị tổn thương là một tình trạng tồn tại trong nội bộ hệ thống, độc lập với
hiểm họa bên ngoài [22]. Xu hướng này được minh họa rõ qua các nghiên cứu về tổn
thương xã hội, thường để xác định các nhóm đối tượng trong xã hội hay các vùng địa
thương cũng phản ánh một thực tế là các định nghĩa và khung khái niệm về hiểm họa,
phơi nhiễm, tính dễ bị tổn thương, rủi ro và thích ứng trong bối cảnh biến đổi khí hậu
rất đa dạng, chồng chéo và thường gây tranh cãi trong thời gian trước [30]. Trong báo
cáo WG II, AR5 Chapter19, 2013, IPCC đã xây dựng và phát triển các tiêu chí để xác
định tính dễ bị tổn thương và rủi ro quan trọng nhằm phân biệt các khía cạnh có ảnh
hướng lẫn nhau này. Có năm tiêu chí được sử dụng, đó là : (i) Tiếp xúc của một xã hội,
cộng đồng, hoặc hệ thống xã hội - sinh thái với căng thẳng/áp lực khí hậu; (ii) Tầm
quan trọng của hệ thống dễ bị tổn thương ; (iii) Khả năng hạn chế của xã hội, cộng
đồng hoặc các hệ thống xã hội - sinh thái để ứng phó và xây dựng năng lực thích ứng
nhằm giảm thiểu hoặc hạn chế các tác động xấu của các mối nguy hiểm liên quan đến
khí hậu; (iv) Mức độ lâu bền của các điều kiện dễ bị tổn thương và mức độ thuận
nghịch của những hậu quả. TDBTT được xem là quan trọng khi nó dai dẳng và khó
thay đổi; (v) Sự hiện diện của các điều kiện làm cho xã hội bị căng thẳng tích lũy trong
các hệ thống phức tạp và nhiều tương tác [30].
Cùng với hai xu hướng định nghĩa khác nhau nêu trên là hai kiểu phương pháp
tiếp cận khác nhau được áp dụng trong các nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương. Đó là
phương pháp tiếp cận dựa trên kết quả hay điểm cuối (Outcome Vulnerability) và tiếp
cận dựa trên bối cảnh hay điểm bắt đầu (Contextual Vulnerability) [35, 43]. Phương
6
pháp tiếp cận dựa trên kết quả coi tính dễ bị tổn thương là điểm cuối của phân tích, cho
rằng tính dễ bị tổn thương là tác động còn lại của biến đổi khí hậu trên một đối tượng
phơi nhiễm sau khi đã thực hiện các biện pháp thích ứng. Cách tiếp cận này kết hợp
thông tin về tác động tự nhiên tiềm năng của khí hậu với thông tin về khả năng kinh tế
- xã hội của con người để đối phó và thích ứng. Vì thế, tính dễ bị tổn thương được xác
định bởi khả năng thích ứng của hệ thống. Tuy nhiên, khả năng thích ứng lại được
nhấn mạnh vào các yếu tố tự nhiên mà không coi trọng vai trò của các yếu tố kinh tế xã hội trong việc điều chỉnh các tác động của biến đổi khí hậu [25, 36]. Định nghĩa
tính dễ bị tổn thương của IPCC 2007 tương ứng với cách tiếp cận kết quả, coi tính dễ
bị tổn thương là điểm cuối [26]. Cách tiếp cận kết quả tập trung vào tính dễ bị tổn
bối cảnh diễn ra biến đổi khí hậu làm tăng khả năng thích ứng của các nhóm với sự
thay đổi của các tác nhân khí hậu [17, 37]. Phương pháp tiếp cận bối cảnh chú trọng
đến tính dễ bị tổn thương về kinh tế - xã hội nên cách tiếp cận thông tin về chính sách
thích ứng theo phương pháp từ dưới lên (bottom – up). Cách tiếp cận thông tin từ dưới
lên đặc biệt liên quan đến dân số và các bên tham gia của hệ thống trong việc xác định
áp lực, tác động của biến đổi khí hậu và chiến lược thích ứng [43].
Cấu trúc thể chế, chính
trị và sự thay đổi cấu
trúc
Dao động và biến
đổi khí hậu
Cấu trúc kinh tế, xã
hội và sự thay đổi cấu
trúc
Các điều kiện của bối cảnh
Thể chế
Bối cảnh: Tính dễ
bị tổn thƣơng
Kinh tế - Xã hội
Quá trình lý sinh học
Công nghệ
Khả năng thích ứng
nghiên cứu tính dễ bị tổn thương cần sử dụng cách tiếp cận tổng hợp hay đa phương
diện để có thể hiểu toàn bộ về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu. Như đã trình
bày ở trên, có hai xu hướng về định nghĩa tính dễ bị tổn thương cùng với hai cách tiếp
cận tương ứng nhưng rõ ràng chúng không tách biệt hoàn toàn trong các nghiên cứu và
nên được sử dụng để bổ sung cho nhau.
Từ việc phân tích các khái niệm về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu,
các cách tiếp cận khác nhau trong các nghiên cứu đã được thực hiện, học viên nhận
thấy việc lựa chọn cách tiếp cận kết quả để đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi
trồng thủy sản trong đề tài của mình là phù hợp và kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng
vào thực tế tốt hơn.
1.2 Các phƣơng pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng
9
Do xu hướng khác nhau về định nghĩa, khung khái niệm hay cách tiếp cận dẫn
đến các phương pháp và công cụ đánh giá tính dễ bị tổn thương cũng khác nhau. Các
phương pháp đánh giá thường gắn với khung khái niệm hay cách tiếp cận. Vệc tránh
nhầm lẫn giữa định nghĩa tính dễ bị tổn thương và khung khái niệm là rất cần thiết.
Định nghĩa TDBTT miêu tả các hợp phần của nó thì khung khái niệm cung cấp
phương tiện để xác định tính dễ bị tổn thương [43]. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu
của mình, các tổ chức đã đưa ra nhiều khung khái niệm, phương pháp đánh giá khác
nhau.
Khung đánh giá TDBTT của IPCC đưa ra năm 1991, là kết hợp đánh giá của
các chuyên gia với việc phân tích các dữ liệu về kinh tế - xã hội và các đặc trưng về
mặt vật lý để đánh giá toàn diện tác động của nước biển dâng trong đó bao gồm cả
đánh giá TDBTT. Phạm vi của phương pháp được sử dụng linh hoạt tại nhiều cấp độ
khác nhau như đánh giá cho vùng ven biển, cho tiểu vùng, cho cấp quốc gia và toàn
cầu. Phương pháp này yêu cầu các thông số đầu vào là thông tin, số liệu về kinh tế xã
hội và đặc điểm vật lý của vùng nghiên cứu. Đầu ra của việc đánh giá là các yếu tố dễ
bị tổn thương, danh mục các chính sách trong tương lai nhằm thích ứng cả về mặt vật
10
các bảng câu hỏi riêng. Việc đánh giá TDBTT trong tương lai được xác định bằng việc
áp dụng các kịch bản như kịch bản phát triển kinh tế xã hội, kịch bản nước biển dâng,
kịch bản nhiệt độ lượng mưa, để đưa ra các đánh giá. Các ma trận tác động được sử
dụng để đánh giá trong hoạt động này. Cuối cùng là sự liên kết giữa các đánh giá
TDBTT hiện tại và tương lai với các chính sách giảm thiểu, các chiến lược phát triển
và định hướng trong tương lai đối với vấn đề BĐKH.
Có ba phương pháp thường được dùng để ước lượng tính dễ bị tổn thương của
nuôi trồng thủy sản (i) phương pháp dựa vào chỉ số, (ii) phương pháp dựa vào mô hình
và GIS, (iii) phương pháp các bên tham gia [43]. Phương pháp dựa trên chỉ số thường
được sử dụng như một phương tiện định lượng tính dễ bị tổn thương và có thể tạo ra
các kết quả có thể đo lường được. Tuy nhiên, phương pháp này có những hạn chế và
thách thức như thiếu dữ liệu đồng nhất, không sẵn có dữ liệu, quy mô có thể áp dụng
số liệu và sự phức tạp của tính dễ tổn thương có thể không dễ dàng được thể hiện bằng
việc sử dụng các chỉ số [39]. Tuy nhiên, ngay cả với những thách thức này, phương
pháp chỉ số vẫn cung cấp một trong những phương pháp ưu thế để đo tính dễ bị tổn
thương.
Phương pháp mô hình có xu hướng tập trung vào một tác nhân hoặc nhóm thay
đổi cụ thể khi đo lường tính dễ bị tổn thương. Phương pháp này áp dụng các biện pháp
thống kê và công nghệ bản đồ để hiển thị mức độ bị tổn thương. Phương pháp mô hình
và GIS thường được kết hợp với các phương pháp khác như phương pháp chỉ số hay
phương pháp chuyên gia, khi đánh giá tổn thương [42].
Phương pháp các bên tham gia đánh giá tính dễ bị tổn thương nhấn mạnh tầm
quan trọng của bối cảnh cụ thể và tăng đối thoại trong cộng đồng, đặc biệt là ở quy mô
địa phương hay quốc gia. Phương pháp có sự tham gia của các bên nhìn chung thường
cho kết quả dễ chấp nhận hơn với cộng đồng, đặc biệt thích hợp để xác định và lập kế
hoạch thích ứng. Các chính sách thích ứng được đưa ra theo phương pháp có sự tham
gia của các bên thường dễ có khả năng được thực hiện. Mức độ tham gia của các bên
và vùng lãnh thổ ở Thái Bình Dương bằng phương pháp xác định chỉ số tác động tiềm
năng (PI) và khả năng thích ứng (AC) [20]; hay nghiên cứu của Gonza’lz E. đánh giá
tính dễ bị tổn thương của ngành nuôi trồng thủy sản và cho bốn loài thủy sản chính của
Chile bằng cách xác định các chỉ số độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích
ứng [27].
Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương bằng mô hình thường được kết
hợp với các phương pháp khác như phương pháp chỉ số, GIS, phương pháp chuyên
gia. Trong nghiên cứu của Handisyde NT. đã đánh giá tính dễ bị tổn thương của nuôi
12
trồng thủy sản ở cấp quốc gia bằng phương pháp chỉ số kết hợp với GIS, đưa ra bản đồ
tính dễ bị tổn thương về tầm quan trọng kinh tế của nuôi trồng thủy sản, khả năng
thích ứng, tính dễ bị tổn thương về nuôi trồng thủy sản nước ngọt với ngập lụt và hạn
hán, nuôi trồng thủy sản nước lợ và nuôi thủy sản trên biển với lốc xoáy [29]. Mỗi một
hợp phần (độ nhạy cảm, độ phơi nhiễm và khả năng thích ứng) được trình bày như một
mô hình thành phần, có thể sử dụng để đánh giá tác động riêng lẻ của biến đổi khí hậu,
sau đó được kết hợp vào mô hình chính để đưa ra chỉ số tổng hợp của tính dễ bị tổn
thương. Các hợp phần trong các mô hình thành phần bao gồm (hoặc không bao gồm)
và kết hợp với các trọng số khác nhau có yêu cầu khác nhau về số liệu. Việc sử dụng
dữ liệu không gia và GIS sẽ cho các chỉ số của các vùng bị tác động trong phạm vi
quốc gia và các vấn đề đặc biệt liên quan, vượt xa khả năng một chỉ số bằng số có thể
thể hiện, nhưng phải lưu ý đây vẫn là công cụ biểu thị. Hạn chế về kết quả đạt được
phụ thuộc rất lớn vào khả năng sẵn có, chất lượng và cách xử lý số liệu. Nghiên cứu
này đưa ra sơ đồ tổng hợp cách đánh giá tính dễ bị tổn thương như hình dưới đây.
13
Tỉ lệ sản lượng NTTS / tổng sản lượng
Rủi ro do lũ lụt
Chỉ số cuộc sống mong
đợi
Mật độ dân số năm 2000
Rủi ro do hạn hán
Chỉ số hoạt động của
chính phủ
Phơi nhiễm với xu hướng
thay đổi khí hậu
Phơi nhiễm với các
hiện tượng khí hậu cực
đoan
lượng thủy sản nước mặn / tổng sản
Tỉ Tỉ
lệ lệ
sảnsản
lượng
thủy sản nước mặn / tổng
lượng thủy sản
sản lượng thủy sản
Tỉ lệ sản lượng thủy sản nước mặn / tổng sản
lượng thủy sản
Loài
Nhiệt độ
Lượng mưa
Độ phơi
nhiễm
Mực nước
biển dâng
Axít hóa đại
dương
Bão
Tác động
tiềm
năng
Khả năng
thích ứng
Độ nhạy
cảm
Tính dễ bị tổn
thương
Thay đổi
môi trường
sống
sinh thái của vùng nuôi – cần thời gian dài mới có thể phục hồi. So với sự thay đổi
nhiệt độ, bão và áp thấp nhiệt đới thường khó có thể dự đoán, ngược lại mức độ ảnh
hưởng của nó ảnh hưởng nghiêm trọng hơn rất nhiều.
Mực nước biển dâng: có những ảnh hưởng khá lớn đến nuôi trồng thủy sản
nhưng chủ yếu là nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng cửa sông. Khi mực nước biển
dâng sẽ làm biến đổi cấu trúc hệ sinh thái, các vùng nuôi tôm cua ven rừng ngập mặn;
khu vực nuôi ngao trên bãi triều sẽ bị thu hẹp; khu vực nuôi lồng bè, nuôi hầu ở khu
vực cửa sông bị thu hẹp hoặc ảnh hưởng đến sinh trưởng của loài nuôi.
Các yếu tố nói trên của biến dổi khí hậu sẽ làm thay đổi điều kiện thủy lý và
thủy hóa, ảnh hưởng đến chất lượng sống và tốc độ phát triển của thủy sinh. Nhiệt độ
tăng cao sẽ làm hàm lượng ô xy trong nước giảm nhanh, tốc độ sinh trưởng của thủy
16