LUẬN án TIẾN sĩ PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH với VIỆC KHAI THÁC tài NGUYÊN DU LỊCH các VÙNG PHỤ cận - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay trên phạm vi thế giới du lịch đã trở thành một nhu cầu
không thể thiếu được trong đời sống kinh tế - xã hội và phát triển với tốc độ
ngày càng nhanh. Nếu như năm 1950 số lượng khách du lịch quốc tế chỉ mới
đạt
25 triệu lượt khách, thì đến năm 2001 con số này là 693 triệu lượt khách và
năm 2010 là 1.046 triệu lượt khách. Đồng thời nguồn thu nhập ngoại tệ từ du
lịch quốc tế của nhiều nước trên thế giới ngày càng tăng, nếu như năm 1950
doanh thu du lịch trên toàn thế giới là 2,5 tỉ USD, năm 2001 con số này là
462 tỷ USD.
Chính vì nguồn lợi kinh tế to lớn và hiệu quả xã hội nhiều mặt mà
ngành du lịch mang lại, nên nhiều quốc gia đã xem du lịch như là một ngành
kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mình.
Ở Việt Nam, thời gian qua với chính sách đổi mới của Đảng và Nhà
nước, đặc biệt là chính sách đổi mới về kinh tế đối ngoại và hội nhập quốc tế
nên ngành du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển rõ nét. Trong năm
2002 số lượng khách quốc tế đến Việt Nam đã đạt con số trên 2.627.000 lượt.
Thành phố Hồ Chí Minh ở vị trí địa lý hội tụ được nhiều điều kiện
thuận lợi cho phát triển kinh tế. Ngay từ buổi sơ khai, Sài Gòn đã là địa bàn
chiến lược quan trọng nhất ở phía khu vực Nam, và cũng từ rất sớm Sài Gòn
- Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế - văn hóa
của cả vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ, là cửa ngõ và đầu mối giao lưu quốc
tế. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế nói
chung và du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng mà còn đối với cả khu
vực phía Nam.





3

Từ lâu các nhà địa lý trên thế giới đã xác định việc phân tích và đánh
giá tài nguyên phục vụ du lịch là một hướng ứng dụng quan trọng trong địa
lý. Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô (trước
đây) xác định các vùng thích hợp cho mục đích nghỉ dưỡng, đánh giá tài
nguyên theo lãnh thổ cho việc khai thác phục vụ du lịch nghỉ ngơi giải trí;
các nhà địa lý Anh, Mỹ cũng có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá và sử
dụng các tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích giải trí du lịch.
Ở Việt Nam, trước những năm 90 của thế kỷ XX các công trình
nghiên cứu về địa lý du lịch nói chung chưa nhiều, đặc biệt là những vấn đề
về tổ chức lãnh thổ không gian du lịch cũng như về cơ sở lý luận và phương
pháp nghiên cứu. Chỉ bước vào những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX
khi hoạt động du lịch Việt Nam bắt đầu có những bước chuyển biến, nhiều
công trình nghiên cứu làm cơ sở cho phát triển du lịch đã được thực hiện
trong đó tài nguyên du lịch là đối tượng nghiên cứu của nhiều tác giả. Những
công trình nghiên cứu này đã làm sáng tỏ được nhiều vấn đề từ cơ sở lý luận
đến thực tiễn trong nghiên cứu tài nguyên và sử dụng lãnh thổ du lịch, từ qui
mô lãnh thổ cấp huyện, tỉnh, vùng đến cả nước.
Những công trình tiêu biểu có ý nghĩa quan trọng phải kể đến là các
đề án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 1995 - 2010;
Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đồng bằng sông Cửu Long và Đông
Nam Bộ; Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh,
Khánh Hòa, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Vĩnh Long, được
nghiên cứu từ năm 1993. Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh
vực này đã được thực hiện. Tiêu biểu là: Đề tài "Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt
Nam" do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì nghiên cứu (1991); "Xây dựng các cảnh quan
văn hóa phục vụ du lịch", "Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên

4. Giới hạn nghiên cứu
- Với chức năng đã được xác định là trung tâm của vùng du lịch số 3
(vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ) và nằm trong Á vùng du lịch Nam
Bộ, đồng thời Thành phố Hồ Chí Minh cũng là trung tâm của địa bàn kinh tế
trọng điểm phía Nam. Không gian nghiên cứu cũng giới hạn ở địa bàn này


6

với phạm vi ranh giới bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh và 5 tỉnh Đông Nam
Bộ (Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu) và 2
tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Long An và Tiền Giang), như vậy không
gian của vùng được tính từ trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh đến bán kính
khoảng 150 km.
- Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là tài nguyên du lịch tự nhiên, tài
nguyên du lịch nhân văn với nội dung là các định hướng phát triển theo
ngành, đặc biệt là các định hướng sản phẩm du lịch, định hướng thị trường và
định hướng phát triển không gian du lịch bao gồm định hướng các điểm du
lịch, cụm du lịch, cũng như định hướng xây dựng các tuyến, tour du lịch làm
sơ sở cho các hãng lữ hành và công ty du lịch trên địa bàn thành phố khai
thác hợp lý.
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
Cơ sở lý luận nghiên cứu của đề tài dựa vào lý luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng. Trong nghiên cứu địa lý, cơ sở lý luận đã được thể hiện
qua những quan điểm cụ thể như sau:
Quan điểm hệ thống:
Hệ thống lãnh thổ du lịch được quan niệm là một hệ thống mở, trong
cấu trúc của hệ thống đó tài nguyên du lịch được xác định như một phân hệ,
là một bộ phận không thể thiếu, có mối quan hệ chặt chẽ và có tác động hữu

đã được áp dụng.
Phương pháp khảo sát thực địa:
Quá trình thực hiện luận án đòi hỏi phải tiến hành nhiều đợt thực địa,
khảo sát các đối tượng nghiên cứu trên địa bàn để kiểm tra, đánh giá xác thực
và có tầm nhìn đầy đủ về các đối tượng nghiên cứu. Mặc dù địa bàn nghiên


8

cứu rộng lớn nhưng chúng tôi đã tiến hành nhiều đợt khảo sát ở 7 tỉnh: Long
An, Tiền Giang, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu đến tận các điểm tài nguyên du lịch đang được khai thác và những
điểm tài nguyên du lịch còn ở dạng tiềm năng; đã gặp gỡ và làm việc với các
cơ quan quản lý các điểm tài nguyên du lịch và lãnh đạo ngành du lịch,
thương mại du lịch trên địa bàn nghiên cứu.
Phương pháp phân tích - tổng hợp:
Phương pháp này được sử dụng để phân tích và xử lý số liệu, tài liệu
đã điều tra, tiến hành việc thống kê và nghiên cứu, đồng thời vận dụng
phương pháp này là cách tốt nhất để đảm bảo việc kế thừa các công trình
nghiên cứu trước và cũng trên cơ sở phân tích tổng hợp để xây dựng hệ
thống bản đồ và xây dựng các định hướng về không gian du lịch trên địa bàn
nghiên cứu.
Phương pháp đối chiếu - so sánh:
Phương pháp này được vận dụng nhằm đối chiếu và so sánh lợi thế
tiềm năng của tài nguyên du lịch trên hai địa bàn nghiên cứu (Thành phố Hồ
Chí Minh và vùng phụ cận) vận dụng phương pháp này có ý nghĩa khi
nghiên cứu xác định điểm tài nguyên du lịch phục vụ cho việc định hướng và
khai thác tài nguyên du lịch có hiệu quả.
Phương pháp bản đồ:
Vận dụng phương pháp này để khai thác thông tin trên hệ thống bản
đồ đã được xây dựng, đặc biệt là các thông tin về không gian nghiên cứu,

Tàu và vừa là trung tâm của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam và là trung
tâm du lịch của vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
- Việc khai thác cần kết hợp với việc đầu tư, tôn tạo các danh thắng
cũng như bảo vệ được môi trường du lịch (cả môi trường tự nhiên lẫn môi
trường văn hóa xã hội) mới có thể phát triển bền vững du lịch ở Thành phố
Hồ Chí Minh.


10

7. Những đóng góp chính của luận án
- Tổng quan chọn lọc và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tài
nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ du lịch, trên
cơ sở đó vận dụng vào việc nghiên cứu cụ thể trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh và vùng phụ cận.
- Đánh giá thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch Thành
phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận, xác định những hạn chế cơ bản về tài
nguyên du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến sự phát triển du
lịch của Thành phố và những thế mạnh nổi trội về tài nguyên du lịch vùng
phụ cận có thể bổ sung cho sản phẩm du lịch Thành phố Hồ Chí Minh.
- Xác định mối quan hệ giữa Thành phố Hồ Chí Minh và các địa
phương vùng phụ cận trong việc hợp tác phát triển khai thác tài nguyên du
lịch.
- Sử dụng kết quả đánh giá thực trạng khai thác tài nguyên du lịch
làm cơ sở cho việc định hướng theo ngành và định hướng phát triển không
gian lãnh thổ du lịch của toàn vùng bằng việc xác định các điểm, cụm, tuyến
du lịch với các sản phẩm du lịch phù hợp của từng địa phương; đồng thời đề
xuất một số giải pháp tổ chức hoạt động du lịch nhằm bảo đảm việc khai thác
bền vững tài nguyên du lịch của Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận.
8. Kết cấu của luận án

tái tạo và tài nguyên không tái tạo.
Tài nguyên tái tạo là những tài nguyên dựa vào nguồn gốc từ năng
lượng được cung cấp hầu như liên tục và vô tận từ vũ trụ đến Trái đất, dựa
vào các quy luật tự nhiên đã hình thành để tiếp tục tồn tại, phát triển và chỉ
mất đi khi không còn nguồn năng lượng và thông tin. Tài nguyên tái tạo cũng
có thể là những tài nguyên có thể tự duy trì hoạt động hoặc tự bổ sung một
cách liên tục nếu được khai thác và quản lý tốt. Năng lượng bức xạ mặt trời,
năng lượng nước, gió, tài nguyên sinh học... cũng được xem là những tài
nguyên tái tạo.
Tài nguyên không tái tạo tồn tại một cách hữu hạn có thể bị mất đi
hoặc bị biến đổi, không còn giữ được tính chất ban đầu sau quá trình khai
thác sử dụng. Phần lớn các loại tài nguyên khoáng sản, nhiên liệu khoáng đã
được sử dụng, các thông tin di truyền bị biến đổi không giữ lại được cho đời
sau... được xem là những tài nguyên không tái tạo được.
1.1.2. Tài nguyên du lịch


13

Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung.
Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch.
Khái niệm tài nguyên du lịch dùng để chỉ những đối tượng cụ thể, có
giá trị kinh tế đối với ngành công nghiệp du lịch [118].
Tại Điều 10, khoản 3, chương I của Pháp lệnh Du lịch Việt Nam
(được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam khóa X thông qua ngày 8/2/1999) về khái niệm tài nguyên du lịch được
xác định như sau: "Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch
sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con
người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch; là yếu tố căn bản
để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch".

vào sự đầu tư, vào các sáng kiến và sở thích của con người. Như trước đây,
ánh nắng mặt trời không được xem là tài nguyên du lịch, nhưng khi du lịch
biển phát triển thí mặt trời cùng với biển, bãi cát được xem là tài nguyên du
lịch quan trọng, nhưng vai trò của nó cũng dần bị hạn chế khi y học phát
hiện có mối liên hệ giữa tia cực tím với căn bệnh ung thư da.
Tóm lại, khái niệm tài nguyên du lịch có thể được xác định như sau:
tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử cùng các thành phần
của chúng được khai thác nhằm góp phần khôi phục khả năng lao động và
sức khỏe con người, phát triển thể lực và trí lực, những tài nguyên du lịch này
được sử dụng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp cho việc tạo ra các dịch vụ du
lịch.
Khi đánh giá tài nguyên du lịch và định hướng khai thác cần phải tính
đến những thay đổi trong tương lai về nhu cầu cũng như khả năng kinh tế kỹ thuật khai thác các loại tài nguyên du lịch mới [102].
1.1.3. Những đặc điểm cơ bản của tài nguyên du lịch
1.1.3.1. Tính phong phú, đa dạng của tài nguyên du lịch


15

Khác với các loại tài nguyên khác, tài nguyên du lịch rất phong phú,
đa dạng trong đó có nhiều tài nguyên đặc sắc và độc đáo là cơ sở để xây
dựng các sản phẩm du lịch hấp dẫn thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du
lịch. Thí dụ đối với loại hình nghỉ mát chữa bệnh nhằm mục đích phục hồi
sức khỏe thì tài nguyên du lịch có thể khai thác là các bãi biển ở Vũng Tàu,
Long Hải hay suối nước khoáng nóng Bình Châu, Hồ Cốc... hoặc đối với loại
hình du lịch văn hóa, tôn giáo nhằm phục vụ cho tín ngưỡng và nâng cao
nhận thức thì tài nguyên du lịch có thể đáp ứng là lễ hội Núi Bà (Tây Ninh),
lễ hội Chùa Bà (Bình Dương), lễ hội Nghinh Ông Cần Giờ (Thành phố Hồ
Chí Minh) hoặc hệ thống đình chùa ở Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ
cận... Đặc biệt, nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc và độc đáo có sức hấp dẫn

thác thích hợp nhất là vào mùa hè có khí hậu nóng bức. Mặc dù điều kiện
thời tiết của Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận ít chịu ảnh hưởng của
không khí lạnh nhưng hoạt động du lịch biển ở Vũng Tàu tấp nập nhất vẫn
vào mùa hè, còn vào thời gian các tháng 10, 11, 12 rất vắng khách du lịch
biển... Đối với các lễ hội, bên cạnh các tập quán dân gian là các nghi lễ tôn
giáo, cũng đã được ấn định vào các thời kỳ cụ thể trong năm. Vì thế hoạt
động du lịch cũng lệ thuộc rất lớn vào thời gian diễn ra các lễ hội đó: như lễ
hội Chùa Bà diễn ra vào rằm tháng Giêng hàng năm, lễ hội Nghinh Ông Cần
Giờ (Thành phố Hồ Chí Minh) vào rằm tháng Tám âm lịch, Hội xuân Núi Bà
Tây Ninh chỉ diễn ra trong tháng Giêng âm lịch...
Do tài nguyên du lịch có tính thời gian khai thác khác nhau đã quyết
định tính chất mùa vụ của hoạt động du lịch. Các địa phương, các nhà quản
lý, điều hành và tổ chức các loại hình hoạt động du lịch cũng như du khách
đều phải quan tâm đến tính chất này để có biện pháp chủ động điều tiết thích
hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh. (Ví dụ
như tổ chức các sự kiện, hội nghị, hội thảo trong những tháng thấp điểm).
1.1.3.4. Tài nguyên du lịch được khai thác tạo ra các sản phẩm tiêu
thụ tại chỗ


17

Khác với các dạng tài nguyên khác có thể được khai thác vận chuyển
đến tay người tiêu thụ, đối với sản phẩm du lịch được xây dựng từ tài nguyên
du lịch thì du khách phải đến tận nơi để sử dụng và thưởng thức. Đây là một
đặc điểm đồng thời là thế mạnh đặc trưng của từng địa phương khi có những
sản phẩm du lịch đặc thù.
Chính vì khách du lịch phải đến tận các điểm du lịch, nơi có tài nguyên
du lịch, do đó trong quá trình tổ chức, xây dựng sản phẩm du lịch, khai thác
tài nguyên du lịch cần phải quan tâm đến cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ

đổi thay do con người gây nên. Từ đó có định hướng lâu dài và các biện pháp
cụ thể để khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch; không ngừng bảo
vệ, tôn tạo và hoàn thiện tài nguyên nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển du
lịch và kéo dài được vòng đời của sản phẩm du lịch.
Đây cũng chính là điều sống còn của mỗi điểm du lịch, mỗi khu du
lịch nhằm thực hiện phương hướng chiến lược phát triển du lịch bền vững
mới đảm bảo nguồn tài nguyên du lịch ít bị tổn hại, mỗi điểm du lịch, mỗi
khu du lịch ngày càng trở nên hấp dẫn hơn, không những thỏa mãn các nhu
cầu phát triển du lịch hiện tại mà còn sẵn sàng để đáp ứng yêu cầu phát triển
của du lịch trong tương lai.
1.1.4. Phân loại tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch vốn rất phong phú và đa dạng, vì vậy để có cơ sở
đánh giá và khai thác, sử dụng có hiệu quả, việc phân loại tài nguyên du lịch
không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn. Hiện nay có
nhiều cách phân loại tài nguyên du lịch, nhưng phổ biến nhất là phân loại tài
nguyên du lịch theo nguồn gốc phát sinh và phân loại tài nguyên du lịch theo
mục đích sử dụng. Mỗi cách phân loại đều có những ưu điểm và những hạn
chế nhất định.
Đối với cách phân loại tài nguyên du lịch theo mục đích sử dụng thì
ưu điểm nổi bật là người sử dụng (khách du lịch) dễ lựa chọn các đối tượng


19

tài nguyên du lịch theo nhu cầu của mình cũng như có được những thông tin
về tài nguyên du lịch một cách cụ thể. Bên cạnh những ưu điểm nổi bật trên,
việc phân loại theo mục đích sử dụng cũng có một số hạn chế như có sự
trùng lắp về phân loại tài nguyên đối với những loại hình du lịch khác nhau.
Ví dụ: một vườn quốc gia hoặc một khu rừng có thể được sử dụng để phát
triển nhiều loại hình du lịch khác nhau như du lịch sinh thái, du lịch tham

trọng trong việc tổ chức kinh doanh và hoạt động du lịch
Địa hình
Địa hình là thành phần quan trọng của tự nhiên, là nơi diễn ra mọi
hoạt động của con người. Đối với hoạt động du lịch điều quan trọng nhất là
đặc điểm hình thái địa hình, đó là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các
dạng đặc biệt của địa hình tạo nên sự hấp dẫn đối với khai thác du lịch. Các
đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được
phân biệt bởi độ chênh lệch của địa hình. Tâm lý và sở thích chung của
khách du lịch là muốn đến những nơi có cảnh quan xinh đẹp, có những kiểu
địa hình khác lạ so với nơi họ đang sống.
- Địa hình miền núi thường có nhiều ưu thế hơn đối với hoạt động du
lịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện được vẻ đẹp hùng
vĩ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ không khí trong lành.
ở miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch. Đó là các sông, suối,
thác nước, hang động, rừng cây với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong
phú. Miền núi còn là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người với đời
sống và nền văn hóa rất đa dạng đặc sắc. Địa hình miền núi có ý nghĩa rất
lớn đối với du lịch, đặc biệt là các khu vực thuận lợi do việc tổ chức các loại
hình du lịch nghỉ dưỡng, thể thao, khám phá, mạo hiểm.
- Địa hình đồng bằng thường đơn điệu về hình thái, ít gây những
hứng thú nhất định cho khách tham quan du lịch. Song do đồng bằng là nơi
thuận lợi cho hoạt động kinh tế, cho canh tác nông nghiệp nên từ lâu ở đây là


21

nơi quần cư đông đúc và là nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa. Thông qua
các hoạt động nông nghiệp, văn hóa của con người địa hình đồng bằng cũng
có ảnh hưởng rất quan trọng đến du lịch.
- Địa hình vùng đồi thường tạo ra một không gian thoáng đãng bao la.

Nhiều nhà nghiên cứu khí hậu trên thế giới đã sử dụng những chỉ tiêu
khí hậu - sinh học để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con
người.
Nhìn chung, những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du
lịch ưa thích. Nhiều cuộc thăm dò cho thấy khách du lịch thường tránh
những nơi quá lạnh, quá ẩm, hoặc quá nóng, quá khô. Những nơi có nhiều gió
cũng không thích hợp cho sự phát triển của du lịch. Mỗi loại hình du lịch đòi
hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau.
Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du
lịch hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch. ở mức độ nhất định cần phải lưu ý tới
những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch du lịch như
những sự cố thời tiết đáng kể ở Việt Nam là bão trên các vùng biển và duyên
hải, hải đảo, gió mùa Đông Bắc, gió bụi trong mùa khô, lũ lụt trong mùa mưa.
Tính mùa của du lịch chịu tác động chủ yếu của yếu tố khí hậu. Các
vùng khác nhau có tính mùa du lịch không như nhau do ảnh hưởng của các
thành phần khí hậu.
Mặt khác, yếu tố khí hậu cũng có ảnh hưởng đến độ bền của nguồn
tài nguyên du lịch: độ ẩm lớn, nhiệt độ cao và biên độ nhiệt lớn sẽ góp phần
làm phong hóa nhanh các công trình, nhất là các di tích lịch sử - văn hóa cổ
và các yếu tố như bão, lốc, lũ lụt sẽ phá hủy rất nhanh các công trình kiến
trúc cũng như cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch.
Không chỉ đối với các công trình của tài nguyên du lịch nhân văn mà còn của
tài nguyên du lịch tự nhiên cũng chịu sự tác động của các yếu tố khí hậu, thời
tiết. Chúng thúc đẩy phát triển sự phá hủy hoặc làm thay đổi diện mạo của


23

cảnh quan tự nhiên ở một số điểm du lịch như hiện tượng sụt lở, xâm thực
của nhiều khu vực dọc theo bờ sông và duyên hải.

phát triển rừng phòng hộ, các quần thể thực vật ven sông, hồ ở vùng đồng
bằng và thung lũng bởi vì chúng rất có giá trị đối với hoạt động du lịch cuối
tuần. Đối với khách du lịch, những loại thực vật đặc hữu không có ở đất nước
họ, thường có sức hấp dẫn rất lớn. Chẳng thế mà khách du lịch Châu Âu
thường thích đến nơi có rừng rậm nhiệt đới, nhiều cây to và cao và có dây
leo chằng chịt.
Thực vật gắn liền với môi trường sống tự nhiên của đại đa số động
vật cạn. Khi phân tích và đánh giá lớp phủ thực vật phải xem xét cả thế giới
động vật, nhiều địa phương và quốc gia trên thế giới nhờ vào một vài loại
động vật đặc hữu đã hấp dẫn thu hút đông đảo khách du lịch. Do đó việc khai
thác các loài động vật đặc hữu phục vụ cho nhu cầu tham quan đã bước đầu
thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng khách du lịch về mặt nhận thức.
Tài nguyên thực - động vật có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của
ngành du lịch, cần phát hiện, tổ chức bảo vệ các khu bảo tồn tự nhiên, các
vườn quốc gia để phục vụ du lịch.
Các di sản thiên nhiên thế giới
Các di sản thiên nhiên thế giới là một dạng tài nguyên du lịch tự
nhiên đặc sắc nhất. Tháng 11/1972, Ban Di sản thế giới của tổ chức
UNESCO đã được thành lập. Hàng năm tổ chức này tuyển chọn những công
trình thiên nhiên, văn hóa và hỗn hợp do các nước đề nghị.
Đối với các địa điểm được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới
phải có những đặc điểm tự nhiên hết sức nổi bật, những cảnh quan tuyệt đẹp,
những tổ hợp đặc sắc của các yếu tố thiên nhiên hay các hệ sinh thái quan
trọng mà nơi đó vẫn còn tồn tại và sống sót những loại thực vật và động vật
có giá trị toàn cầu đang bị đe dọa, đặc biệt về mặt khoa học và bảo tồn nguồn
gen quý hiếm.


25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status