LUẬN văn THẠC sĩ NHÂN tố CHỦ QUAN với VIỆC bảo đảm ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA với sự PHÁT TRIỂN nền KINH tế HÀNG hóa NHIỀU THÀNH PHẦN ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 39

2

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài:
Từ một nền kinh tế còn lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đó là biện pháp hữu hiệu, là sự
lựa chọn những bước đi phù hợp với hoàn cảnh lịch sử – cụ thể của nền
kinh tế ở nước ta. Vì nền sản xuất còn ở trình độ thấp kém, không qua bước
phát triển tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là sự lựa chọn đúng đắn "cái không thể
bỏ qua". Có như vậy chúng ta mới có đủ điều kiện phát triển lực lượng sản
xuất.
Với những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, chúng ta đã và đang từng bước khắc phục một cách có
hiệu quả những sai lầm của nhân tố chủ quan nước ta trước đây: Đó là bệnh
nóng vội, chủ quan duy ý chí mà chúng ta đã vấp phải trước thời kỳ đổi
mới. Song, sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta
cũng đã bộc lộ những khuyết tật, có nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa.
Để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế
ở những giai đoạn tiếp theo đòi hỏi phải có sự nỗ lực, phát huy tính sáng
tạo của nhân tố chủ quan ở nước ta.
Đáp ứng đòi hỏi này, chúng tôi chọn “nhân tố chủ quan với việc
bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay" làm đề tài luận văn nghiên
cứu. Vì đây vẫn còn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn chính trị nóng
bỏng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề vai trò “ nhân tố chủ quan” và “điều kiện khách quan” trong
lịc sử đã được các nhà triết học đề cập và giải thích nhiều. Ngay trong các


tháng 9.1991.


4

- “Xu hướng và các nhân tố bảo đảm định hướng XHCN của nền
kinh tế nhiều thành phần” của Nguyễn Chí Mỹ, tạp chí cộng sản số
10/5/1997.
Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây rất có giá trị , các
tác giả nghiên cứu đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của điều kiện
khách quan và nhân tố chủ quan trong quá trình phát triển xã hội nói chung
và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta nói riêng.
Tuy nhiên cho tới nay, vẫn chưa có công trình nào đi sâu vào
nghiên cứu có tính hệ thống "vai trò nhân tố chủ quan" với việc bảo đảm
định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Vì
vậy, tác giả luận văn mạnh dạn đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu vấn đề này.
Với mong muốn có những đóng góp nhất định về phương diện lý luận và
thực tiễn, góp phần vào việc xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nhân
tố chủ quan, nhằm giữ vững định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta.
3.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Luận văn có mục đích: Phân tích và làm rõ vai trò nhân tố chủ
quan ở nước ta trong việc bảo đảm dữ vững định hướng chính trị trong phát
triển nên kinh tế thị trường theo hướng XHCN. Qua đó, nhằm đưa ra một
số giải pháp nâng cao chất lượng nhân tố chủ quan ở nước ta.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
Thứ nhất: Làm rõ nội dung khái niệm “ nhân tố chủ quan”và “nhân
tố khách quan”. Vai trò của nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội nói
chung và bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành
phần ở nước ta nói riêng.

7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận các phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo. Luận văn gồm 2 chương 4 tiết.


6

Chương I
NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC
BẢO ĐẢM ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA SỰ PHÁT TRIỂN
NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1. NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN XÃ HỘI

1.1.1. Khái niệm: “Nhân tố chủ quan”, “ Điều kiện khách quan”
Khái niệm nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan được hình
thành và phát triển trong quá trình nghiên cứu hoạt động thực tiễn của con
người. Do vậy, để làm sáng tỏ nội dung của các khái niệm đó, đòi hỏi phải
đề cập tới các khái niệm có liên quan tới hoạt động của con người. Đó là
những khái niệm : "chủ thể", "khách thể"
"Nhân tố chủ quan" và "điều kiện khách quan"
- Khái niệm chủ thể và khách thể
Khái niệm "chủ thể" : trong hoạt động tác động và cải tạo thế giới
khách quan, con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh khách quan; đồng
thời là chủ thể của hoạt động cải tạo hoàn cảnh khách quan, từ đó hình
thành nên khái niệm chủ thể đây là một khái niệm đã được nhiều triết học
quan tâm nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã
đưa ra nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về nội dung của khái niệm
này như :

Với cách hiểu và quan niệm như vậy, theo chúng tôi: Khách thể
phải được xác định tuỳ thuộc vào chủ thể tương ứng với nó và do vậy
khách thể không phải là toàn bộ hiện thực khách quan, nó chỉ là một bộ
phận của hiện thực khách quan (là các sự vật hiện tượng, quá trình ...), các
bộ phận đó chịu sự tác động của chủ thể xác định. Nói cách khác, tuỳ cung


8

cấp độ xác định về chủ thể để chúng ta xác định khách thể. Do, hiện thực
khách quan hết sức phong phú, từ đó khách thể là những bộ phận của nó
củng hết sức đa dạng. Có khách thể là những hiện tượng, quá trình thuộc
thể giới tự nhiên ; có khách thể là những hiện tượng, quá trình thuộc về lĩnh
vực đời sống xã hội. Chẳng hạn, những quan hệ kinh tế, những quan hệ
chính trị - xã hội, kể cả những quan hệ tư tưởng cũng là những khách thể
của những chủ thể tương ứng [xem ] .
Khách thể và chủ thể có liên quan mật thiết với nhau, quy định lẫn
nhau. Không thể nói tới một khách thể cụ thể, nếu không nói tới một chủ
thể xác định. Bởi vì, chủ thể và khách thể có mối quan hệ biện chứng với
nhau, chúng chỉ tồn tại với tư cách là chủ thể và khách thể khi lấy nhau làm
tiền đề. Khách thể tồn tại bên ngoài, không lệ thuộc vào chủ thể song khách
thể không đối lập trừu tượng với chủ thể. Vì nó chính là đối tượng mà chủ
thể luôn luôn hướng vào cải tạo bằng hoạt động có ý thức của mình .
- Khái niệm "Nhân tố chủ quan" và "Điều kiện khách quan"
Khi xem xét hoạt động của con người, người ta không chỉ nghiên
cứu các khái niệm chủ thể và khách thể ; mà còn quan tâm tới khái niệm
"nhân tố chủ quan "và" điều kiện khách quan. Bởi vì các khái niệm điều
kiện và nhân tố chủ quan được dùng để chỉ mối quan hệ giữa hoạt động có
ý thức của con người và hoàn cảnh mà trong đó con người hoạt động.
- Khái niệm "Nhân tố chủ quan"

chủ thể lịch sử đó đóng vai trò nhân tố chủ quan, mà là những thuộc tính,
những phẩm chất, những trạng thái của chủ thể biểu hiện trong hoạt động
đóng vai trò nhân tố chủ quan. Những thuộc tính, phẩm chất của chủ thể là
nhân tố chủ quan, là những yếu tố cần thiết để tạo ra khả năng tích cực,
sáng tạo của chủ thể. Biểu hiện sức mạnh sáng tạo đó của chủ thể phải
được thể hiện thông qua hành động thực tiển cải tạo các khách thể xác định.
Tổng hợp toàn bộ những yêu cầu đó tạo thành khái niệm nhân tố chủ quan.
Như trước đây, nhấn mạnh điều đó tác giả V.N Lavrineko cho rằng : "Nhân
tố chủ quan trong quá trình lịch sử là những khả năng khác nhau của con
người mà bằng sự tác động của mình, đã đem lại sự biến đối trong những
mặt nhất định của đời sống xã hội. Điều quan trọng nhất cấu thành nhân tố
chủ quan là ý thức và nói chung là đời sống tinh thần của con người, những
kỷ năng, kỷ xảo và thói quen của họ trong hoạt động sản xuất, kinh nghiệm
xã hội, trình độ văn hoá và đồng thời là những phẩm chất ý chí của họ:
Tính tổ chức trong hoạt động của con người có một ý nghĩa to lớn" [trích
theo ,20]" .


11

Từ những nội dung phân tích trên đây, theo chúng tôi, giữa nhân tố
chủ quan và chủ thể có sự thống nhất, nhưng không đồng nhất với nhau. Sự
thống nhất giữa khái niệm "chủ thể" và "nhân tố chủ quan" được thể hiện ở
chổ : nhân tố chủ quan về tất yếu luôn thuộc về chủ thể. Còn giữa các khái
niệm này có sự khác nhau và tính độc lập tương đối. Vì nhân tố chủ quan,
là khái niệm để chỉ những yếu tố, đặc trưng cấu thành phẩm chất của chủ
thể, được chủ thể huy động và trực tiếp tạo ra năng lực, cũng như động lực
của chủ thể nhằm để biến đổi khách thể cụ thể. Do đó:
Nhân tố chủ quan là những gì thuộc về chủ thể và tham gia trực
tiếp vào một hoạt động cụ thể của chủ thể cũng như bản thân sự hoạt

những trạng thái thuộc về năng lực thể chất của chủ thể. Tức là, khi chủ thể
được xem xét là con người cụ thể thì đó là phẩm chất thể lực. Còn khi chủ
thể được xem xét với tính cách là một tổ chức, một lực lượng xã hội thì
điều đó được xem xét dưới góc độ là tính tổ chức ; sự phối kết hợp giữa
những bộ phận cấu thành nên tổ chức hay lực lượng xã hội đó. Bởi vì, trong
quá trình lịch sử, các chủ thể lịch sử được xem xét tuỳ theo cấp độ đó là
những con người cá biệt với ý thức ý chí và khả năng hoạt động của họ...;
mặt khác còn xem xét ở cấp độ đó là những lực lượng xã hội (như giai cấp,
Đảng phái...) .
Khái niệm "Điều kiện khách quan"
Như trên đây chúng tôi đã có dịp đề cập, điều kiện khách quan là
khái niệm có quan hệ với hoạt động cải tạo thực tiễn của con người, của các
chủ thể lịch sử xã hội. Bất cứ một chủ thể lịch sử xã hội nào trong quá trình
hoạt động và tồn tại đều gắn liền với một điều kiện khách quan xác định.
Trong nghiên cứu, khi đề cập tới khái niệm điều kiện khách quan
các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau và cũng đã
đưa ra những quan niệm khác nhau về khái niệm đó, chẳng hạn :
- Những điều kiện khách quan là tất cả những gì tạo nên một hoàn
cảnh hiện thực quy định và tác động lên mọi hoạt động của chủ thể, tồn tại
không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể hoạt động [ ,19] .


13

- Điều kiện khách quan là tổng thể các mặt, các nhân tố tạo nên một
hoàn cảnh hiện thực tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể và tác động vào
hoạt động của chủ thể trong hoàn cảnh cụ thể đó [ ,12].
- Điều kiện khách quan là những yếu tố tạo nên một hoàn cảnh hiện
thực tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể đang hoạt động ở những thời
điểm cụ thể nhất định và có tham gia vào việc quy định kết quả hoạt động

lượng sản xuất ; là trình độ sản xuất đã đạt được của xã hội. Nếu như các
điều kiện vật chất bao giờ cũng là những điều kiện khách quan xét trong
mối tương quan chung với ý thức, song điều kiện khách quan được xác
định cụ thể lại không phải chỉ là những điều kiện vật chất mà còn bao gồm
cả những yếu tố thuộc lĩnh vực ý thức tư tưởng. Bởi vì, những hiện tượng
tinh thần, ý thức khi nó tồn tại khách quan đối với một chủ thể cụ thể, mà
trong đó hoạt động của chủ thể hướng tới cải tạo nó và đồng thời nó tác
động tới hoạt động của chủ thể. Do đó nó được xác định là yếu tố câu thành
điều kiện khách quan. Chẳng hạn : những tập quán, tâm lý phong kiến lạc
hậu cũng như tâm lý sản xuất nhỏ..., đang là yếu tố cấu thành điều điện
khách quan tác động đến hoạt động của các chủ thể ở nước ta, trong quá
trình xây dựng về phát triển nền sản xuất xã hội chủ nghĩa [xem thêm ] .
Như vậy những yếu tố vật chất và tinh thần tư tưởng tồn tại khách
quan với chủ thể cụ thể, cấu thành hoàn cảnh và tác động đến hoạt động
của chủ thế đó là điều kiện khách quan .
Nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan có mối liên hệ hữu cơ
với nhau. Theo nguyên tắc phương pháp luận của triết học Mác xít, trong
mối quan hệ biện chững giữa nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan,
điều kiện khách quan là tính thứ nhất, nó quyết định đối với nhân tố chủ
quan và được thể hiện trên các bình diện :
Một là : Hoạt động của chủ thể là quá trình thực hiện mục đích
nhằm để thoả mãn nhu cầu. Vai trò quyết định của điều kiện khách quan
đối với nhân tố chủ quan thể hiện ở chỗ, mục đích, mục tiêu chủ thể đặt ra


15

nhằm để thực hiện, phải xuất phát từ những điều kiện và khả năng của hiện
thực. Chỉ những mục tiêu nào của chủ thể xuất phát từ khả năng của hiện
thực, của điều kiện khách quan thì hoạt động của chủ thể mới có thành


17

Nhân tố chủ quan có vai trò to lớn trong sự phát triển của xã hội.
Do chổ : Con người ở bất kỳ hoàn cảnh nào, với tất cả sức mạnh của năng
lực hoạt động có ý thức của mình, luôn là chủ thể của lịch sử, đó là sức
mạnh và năng lực của nhân tố chủ quan. Hành động làm nên lịch sử xã hội
đầu tiên của con người, đó là con người tiến hành cải tạo thế giới tự nhiên
nhằm để đáp ứng những nhu cầu của mình. Như trước đây Lê Nin đã viết :
"Thế giới không thoả mản con người và con người quyết định biến đổi thế
giới bằng hành động của mình" [ ,229] .
Hành động cải tạo và biến đổi tự nhiên nhằm để thoả mản nhu cầu
của con người, đó là con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất .
Chính sản xuất vật chất, là cơ sở tồn tại và là động lực cơ bản thúc đẩy sự
phát triển của xã hội. Trong quá trình sản xuất vật chất, con người đồng
thời thực hiện hai mối quan hệ cơ bản, đó là, mối quan hệ giữa con người
với tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với con người . Từ việc thực
hiện các mối quan hệ cơ bản đó, đã tạo nên xã hội loài người. Vai trò của
nhân tố chủ quan đối với sự phát triển của xã hội được thể hiện trên cả hai
mối quan hệ cơ bản nêu trên.
Quá trình sản xuất vật chất, trước hết là quá trình con người nhằm
vào tự nhiên, thay đổi các kết cấu vật thể của tự nhiên, tạo ra những dạng
thể vật chất mới đáp ứng nhu cầu của con người. Thông qua hoạt động cải
tạo đó, con người làm cho tự nhiên không ngừng biến đổi. Mỗi bước biến
đổi của tự nhiên đều ghi lại và phản ánh lại những dấu ấn về vai trò hoạt
động có ý thức của con người, vai trò của nhân tố chủ quan. Biểu hiện vai
trò nhân tố chủ quan trong quá trình con người cải tạo tự nhiên, trước hết
đó là, con người dựa trên cơ sở sự hiểu biết của mình đã lợi dụng những
quy luật khách quan của tự nhiên; những điều kiện tự nhiên khách quan,
qua đó biến đổi những điều kiện khách quan hiện có của tự nhiên, nhằm

đó là vai trò của các chủ thể của lịch sử trong việc nhận thức và vận dụng
các quy luật khách quan của sự vận động của xã hội .


19

Quá trình các chủ thể lịch sử xã hội nhận thức và vận dụng các quy
luật khách quan của sự vận động xã hội là sự biểu hiện vai trò nhân tố chủ
quan trong sự phát triển xã hội. Bởi vì, tuy quy luật khách quan của quá
trình vận động của xã hội được hình thành và phát huy tác dụng thông qua
hoạt động của con người. Nhưng không phải vì thế mà con người có thể
sáng tạo ra quy luật hay xoá bỏ quy luật. Nhưng con người có thể thay đổi
hình thức và trật tự tác động của những quy luật khách quan xã hội, bằng
cách tạo ra những điều kiện khách quan mới, tạo ra những địa bàn mới cho
quy luật hoạt động [xem

,34 ].

Do vậy, vai trò nhân tố chủ quan trong sự phát triển của xã hội là ở
chổ, trên cơ sở hiểu biết những quy luật, điều kiện khách quan đã có, nhận
thức được yêu cầu tất yếu của quy luật, từ đó, cải biến những điều khách
quan hiện có, hình thành và tạo nên những điều kiện khách quan mới, trên
cơ sở đó điều chỉnh hình thức, trật tự tác động của quy luật khách quan.
Thậm chí, dựa trên cơ sở sự hiểu biết và năng lực cải tạo thực tiễn, các chủ
thể hình thành điều kiện khách quan mới, qua đó có thể làm cho các quy
luật tác động trong điều kiện cũ mất hiệu lực, nhường chổ cho quy luật mới
hình thành. Ví dụ, trong điều kiện nền kinh tế tiểu nông ở nước ta, những
năm trước đây dựa trên cơ chế tập trung thời bao cấp, có những quy luật
vận hành của nó. Song, cũng điều kiện ấy của nền kinh tế sẽ mất hiệu lực,
nhường chỗ cho các quy luật của nền sản xuất hàng hoá (nhất là quy luật

hội.
1.2. VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC BẢO ĐẢM ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ NHIỀU
THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA

Từ một nền kinh tế thuần nhất về thành phần và chế độ sở hửu
chuyển qua kinh tế nhiều thành phần và đa dạng sơ hửu ; Từ cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp chuyển quan cơ chế thị trường ; Từ một nền kinh tế
đóng cửa chuyển qua nền kinh tế mở cửa với bên ngoài - Đó là sự chuyển
hướng lớn lao, một sự thay đổi sâu sắc trong xây dựng nền kinh tế ở nước
ta. Nhưng toàn bộ sự chuyển hướng đó, không phải là chúng ta đã thay đổi
mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và thực hiện suốt
mấy thập kỷ qua. Sự thay đổi đó, chỉ là sự thay đổi về biện pháp ; về bước
đi để chúng ta càng có khả năng sớm đến với mục tiêu xã hội chủ nghĩa.


23

1.2.1. Phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa - một khả năng
khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay
- Xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là yêu cầu
khách quan đó với nước ta.
Nước ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa không phải là ý muốn
chủ quan, mà là sự nhận thức và tuân thủ lôgíc khách quan của lịc sử. Bởi
vì, về tất yếu khách quan, loài người sẽ tiến đến một xã hội văn minh, hiện
đại ; quan hệ giữa người với người là bình đẳng. Như trước đây C.Mác đã
khái quát Lôgíc vận động khách quan đó bằng học thuyết hành thái kinh tế
- xã hội, học thuyết đó đã khái quát và phác hoạ quy luật vận động tổng
quát của lịch sử. Từ học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác
đã chỉ ra rằng, về tất yếu lịch sử, chế độ kinh tế cộng sản chủ nghĩa sẽ ra

minh "sự phát triển tư bản chủ nghĩa không thể khắc phục được những mâu
thuẩn và đáp lại đòi hỏi củ lý trí loài người, mà chúng chỉ có thể khắc phục
khi loài người phát triển theo xu hướng khác, xu hướng xã hội chủ nghĩa" [
,34] .
Muốn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có lực lượng sản
xuất phát triển . Đất nước ta có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa, đó là xu hương và khả năng khách quan của thời kỳ
lịch sử hiện nay. Nhưng, chúng ta không thể bỏ qua những tiền đề kinh tế,
kỹ thuật, văn hóa, xã hội cần thiết cho sự quá độ đó. Cái thiếu của nền kinh
tế nước ta là lực lượng sản xuất chưa phát triển; quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa không thể thiết lập tràn lan trên một lực lượng sản xuất thấp kém
[xem thêm,

.9] Nên chúng ta khẳng định rằng, chỉ có phát triển nền kinh

tế nhiều thành phần, mới phù hợp với thực trạng trình độ thực tế của lực
lượng sản xuất ở nước ta ; chỉ có phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
chúng ta mới có khả năng huy động được mọi tiềm năng về vốn, kỹ thuật ;
mới có khả năng tạo thêm công ăn việc làm và phát huy nguồn lao động dồi
dào ở nước ta để đẩy nhanh sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng trưởng


25

kinh tế. [xem , 35 ]. Như vậy, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần là
nhu cầu khách quan và phù hợp với quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất
lớn xã hội chủ nghĩa đối với nước ta. Đó là con đường để tạo ra tiền đề kinh
tế kỹ thuật cần thiết cho sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Một nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường
phát triển ở một nước tiền tư bản như ở nước ta, liệu có đi lên và phát triển

,24] mà nước ta là một trong các

nước đó.
- Điều kiện khách quan nền kinh tế thế giới, tác động quá trình phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần theo hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta .
Ngày nay khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, các thành tựu khoa học do quá trình lao động sáng tạo của con người
đã nhanh chóng được con người ứng dụng vào quá trình sản xuất. Từ đó, đã
nâng lên một trình độ mới về chất quá trình sản xuất vật chất của nhân loại.
Do vậy, trật tự nền kinh tế thế giới đã có những biến đổi khác so với thời
kỳ trước. Xu thế hội nhập giữa mọi quốc gia dân tộc mở ra tốc độ nhanh,
tạo ra sự giao thoa về lợi ích kinh tế giữa các quốc giữa dân tộc, giã các khu
vực. Làm cho, toàn cầu hoá toàn bộ đời sống xã hội diễn ra nhanh chóng.
Toàn cầu hoá về bản chất chính là sự tăng cường của hoạt động
kinh tế nói chung ; toàn cầu hoá có nội dung chỉ đạo là cầu hoá về kinh tế.
Phát triển kinh tế vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình toàn cầu
hoá. Đây là nhu cầu khách quan của nền kinh tế hiện đại. Chính vì lẻ đó,
ngay ở các nước tư bản phát triển , giai cấp tư sản đã có bước điều chỉnh
lớn về quan hệ sản xuất cho phù hợp với xu thế khách quan của xu hướng
toàn cầu hoá. Các Công ty tư bản xuyên quốc gia luôn mở rộng liên kết,
đầu tư về đi kèm động thái sát nhập để đủ mạnh và tăng khả năng cạnh
tranh, thúc đẩy sự phát triển quá trình chu chuyển vốn bằng con đường đầu
tư, nhằm tăng mức thu lợi nhuận. Từ đó đã thúc đẩy quá trình quốc tế hoá
sản xuất và dịch vụ.
Do, sự phát triển nhanh và mạnh mẻ của quá trình quốc tế hoá kinh
tế. Từ đó, đã làm cho nền kinh tế thế giới có sự biến đổi, đã thúc đẩy lực
lượng sản xuất của thế giới bước vào thời kỳ phát triển cao chưa từng có,
mở rộng phân công lao động và hợp tác quốc tế về quá trình sản xuất và
dịch vụ trên phạm vi quốc tế, củng như khu vực; tạo điều kiện quan trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status