1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mục đích của hoạt động điều tra vụ án là chứng minh sự thật khách
quan của vụ án, chứng minh tội phạm trước pháp luật. Để đạt được mục đích
đó thông thường hoạt động điều tra được triển khai theo hai phương hướng,
có quan hệ chặt chẽ với nhau đó là: Thứ nhất, rà soát, phát hiện ra những đối
tượng (người) có biểu hiện nghi vấn phạm tội; thứ hai, truy tìm những vật
chứng (hay còn gọi là tang vật) để củng cố thành chứng cứ chứng minh tội
phạm. Hai hướng điều tra trên có quan hệ, chặt chẽ, hỗ trợ và tác động lẫn
nhau, từ kết quả rà soát phát hiện con người có thể khai thác tìm ra vật chứng.
Ngược lại, từ kết quả hoạt động truy tìm vật chứng có thể tìm người, tức là
tìm ra người đã sử dụng, cất giấu, tiêu thụ, chiếm đoạt nó. Do đó, về nguyên
tắc, muốn thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra vụ án thì không thể
xem nhẹ hoặc bỏ qua một phương hướng nào.
Tuy nhiên, trong thực tiễn điều tra và kể cả theo yêu cầu của pháp luật
tố tụng hình sự thì việc truy tìm vật chứng trong nhiều trường hợp đã quyết
định đến kết quả hoạt động điều tra và chứng minh tội phạm trước pháp luật.
Chính vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự (năm 2003) Điều 64 qui định vật chứng
là một trong bốn nguồn chứng cứ, đồng thời cũng qui định rõ về trình tự, thủ
tục thu thập, bảo quản, xử lý vật chứng. Trên cơ sở này, có thể xác định, truy
tìm vật chứng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hoạt động điều
tra, đặc biệt là đối với những vụ án mà vật chứng còn nằm trong tay đối tượng
phạm tội hoặc đã bị cất giấu, tiêu thụ, tẩu tán. Thực tiễn hoạt động điều tra đã
chứng minh mỗi năm các Cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân
nhờ làm tốt các mặt công tác điều tra nói chung, truy tìm vật chứng nói riêng
nên đã khám phá thành công hàng chục ngàn vụ án các loại, nhiều băng nhóm
tội phạm, nhiều đối tượng tuy hoạt động tinh vi, xảo quyệt nhưng vẫn bị bắt
về điều tra tội phạm nói riêng mang "bản sắc" của Việt Nam. Đây cũng là một
3
trong những chủ trương lớn đã được xác định trong Nghị quyết 08-NQ/TW
ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư
pháp trong thời gian tới là: "Kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động điều tra và trinh
sát".
Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của cả nước.
Mặc dù tình hình an ninh - trật tự luôn đảm bảo ổn định, kinh tế - xã hội phát
triển. Tuy vậy trong những năm gần đây, hàng năm vẫn phát hiện khoảng 6.000
đến 7.000 vụ phạm pháp hình sự trong đó có từ 400 đến 600 vụ trọng án với
khoảng 150 - 200 vụ cướp tài sản. Tỷ lệ điều tra khám phá chung cho các loại án
đạt từ 62 - 65%, riêng đối với tội phạm cướp tài sản đạt từ 70 - 80%. Điều
đáng quan tâm là hiện nay trên địa bàn Hà Nội đã và đang xuất hiện những
thủ đoạn phạm tội cướp tài sản rất trắng trợn, liều lĩnh, bọn tội phạm hoạt
động có tổ chức, sử dụng vũ khí nguy hiểm để gây án và chống trả các lực
lượng đuổi bắt, nhiều vụ cướp tài sản kèm theo hành vi giết người và những
hành vi phạm tội nguy hiểm khác. Một số thủ đoạn cướp tài sản đang có xu
hướng gia tăng trên địa bàn Hà Nội đó là cướp tiệm vàng, cướp tắcxi, cướp xe
ôm, cướp tiền tại quỹ tiết kiệm, cướp xe máy, cướp tài sản có giá trị lớn...
Thực trạng đó và đang làm cho tình hình an ninh trật tự ở thủ đô thêm phức
tạp, nhất là trên một số tuyến, địa bàn trọng điểm. Làm cho một bộ phận quần
chúng nhân dân có tâm lý hoang mang, lo lắng không yên tâm trong công tác,
học tập, lao động... Mặc dù các lực lượng Công an Thủ đô nói chung, lực lượng
Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đã có nhiều cố gắng nhưng vẫn
chưa cải thiện được tình hình một cách cơ bản, rõ rệt, tỷ lệ điều tra vẫn hạn
chế. Hoạt động truy tìm vật chứng trong nhiều vụ án cướp tài sản vẫn gặp khó
khăn, thậm chí không đem lại kết quả, một số vướng mắc về pháp lý, nghiệp
pháp khắc phục.
- Xây dựng được hệ thống các giải pháp có tính khả thi góp phần thúc
đẩy nâng cao kết quả truy tìm vật chứng trong hoạt động điều tra các vụ án
5
cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội của Cơ quan Cảnh sát điều tra tội phạm về
trật tự xã hội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động truy tìm vật chứng trong
điều tra các vụ án cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội theo thẩm quyền của Cơ
quan Cảnh sát điều tra (trước đây) và của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về
trật tự xã hội (hiện nay và sau đây gọi chung là Phòng Cảnh sát điều tra tội
phạm về trật tự xã hội) bao gồm các hoạt động truy tìm vật chứng cũng như
các hoạt động nghiệp vụ công khai và bí mật khác để truy tìm vật chứng.
Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung, đề tài chỉ nghiên cứu về hoạt động truy tìm vật chứng
của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội đối với các vụ án cướp
tài sản đã khởi tố do đơn vị này thụ lý điều tra. Trọng tâm của đề tài sẽ là hoạt
động truy tìm vật chứng là công cụ phương tiện gây án và tài sản bị chiếm
đoạt trong các vụ cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội.
Về địa bàn và thời gian, đề tài nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà
Nội từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2006.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm đường lối của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, những qui định của ngành Công
an trong công tác đấu tranh chống tội phạm. Kết hợp sử dụng các phương
phạm cướp tài sản. Đề tài cũng là tài liệu tham khảo tốt cho công tác giảng
dạy, học tập, nghiên cứu khoa học trong các trường Công an nhân dân và
đồng chí, đồng nghiệp.
7. Kết cấu của luận văn
7
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương 7 tiết.
8
Chương 1
NHẬN THỨC VỀ CÔNG TÁC TRUY TÌM VẬT CHỨNG CỦA
CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA TỘI PHẠM VỀ TRẬT TỰ XÃ HỘI
TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN CƯỚP TÀI SẢN
1.1. Khái niệm và đặc trưng pháp lý của tội phạm cướp tài sản
1.1.1. Khái niệm tội phạm cướp tài sản trong pháp luật hình sự
Ngược dòng lịch sử thì thấy, từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến
nay, trong pháp luật hình sự nước ta đã có nhiều văn bản, qui phạm pháp luật
được ban hành, được bổ sung, sửa đổi và hiện nay là Bộ luật hình sự (năm
1999) đang có hiệu lực thi hành. Tuy các qui phạm, chế định pháp luật về tội
phạm và hình phạt trong nội dung các văn bản ở từng thời kỳ có khác nhau.
Song qua nghiên cứu, phân tích thì thấy rằng, trong các văn bản, qui phạm
pháp luật như Sắc lệnh 223-SL ngày 17/11/1946, Thông tư 442-TTg ngày
19/01/1955, Sắc lệnh 267-SL ngày 15/06/1956 và đặc biệt là từ khi có hai
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh
công người có tài sản, làm cho họ lâm vào tình trạng không thể chống cự
được nhằm chiếm đoạt tài sản.
1.1.2. Đặc trưng pháp lý của tội phạm cướp tài sản
Đặc trưng pháp lý của tội phạm cướp tài sản chính là những yếu tố cấu
thành của tội phạm cướp tài sản theo tiêu chí của pháp luật hình sự. Nhờ có
những yếu tố này sẽ phân biệt được tội phạm cướp tài sản với những tội phạm
khác đặc biệt là những tội phạm có đặc điểm tương tự như cướp giật tài sản,
công nhiên chiếm đoạt tài sản... Trên phương diện của hoạt động điều tra, các
dấu hiệu của tội phạm cũng chính là những yêu cầu phải chứng minh trong
điều tra các vụ án cướp tài sản Có như vậy mới đảm bảo nguyên tắc không
oan, không lọt trong công tác điều tra.
10
Căn cứ Bộ luật hình sự (năm 1999) thì tội phạm cướp được qui định
tại Điều 133, cụ thể là:
Điều 133: Tội cướp tài sản
1. Người nào dũng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc
hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng
không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù từ
3 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị
phạt tù từ 7 năm đến 10 năm.
a, Có tổ chức.
b. Có tính chất chuyên nghiệp.
c. Tái phạm nguy hiểm.
d. Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác.
đ. Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%.
hình sự bảo vệ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm hại. Khi thực hiện hành vi
phạm tội, người phạm tội đã có hành vi sử dụng bạo lực hoặc đe dọa sử dụng
bạo lực ngay tức khắc hoặc sử dụng những thủ đoạn khác làm cho nạn nhân
lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Với tính chất nguy hiểm của
hành vi này rõ ràng đã đặt tính mạng sức khỏe của nạn nhân vào tình trạng bị đe
dọa nghiêm trọng, hậu quả khó lường.
- Quyền sở hữu về tài sản: Quyền sở hữu tài sản được thể hiện ở
quyền chiếm giữ, sử dụng, định đoạt đối với tài sản. Đây là một quan hệ xã
hội được Hiến pháp, pháp luật bảo vệ, bất kể tài sản đó là của cá nhân, của tập
thể, của Nhà nước hay những hình thức sở hữu hợp pháp khác.
12
Thứ hai, mặt khách quan của tội phạm.
Mặt khách quan thể hiện hành vi của người thực hiện tội phạm. Đối
với tội phạm cướp tài sản, hành vi phạm tội được thực hiện bằng hành động
phạm tội cụ thể là.
- Dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ngay tức khắc là đặc trưng
cơ bản trong hành vi khách quan của tội phạm cướp tài sản.
Dùng vũ lực tức là người có hành vi phạm tội đã sử dụng sức mạnh
vật chất như sức lực cơ thể, tay chân, sử dụng các công cụ khác như dao,
súng, gạch, đá... để tấn công người có tài sản hoặc có trách nhiệm trông coi tài
sản. Hành vi sử dụng vũ lực có thể đã diễn ra như đã tấn công bằng cách đánh,
đâm, chém, bắt, trói nạn nhân... Hoặc cũng có thể đang chuẩn bị diễn ra như
mới chặn đường nạn nhân, dùng xe ép nạn nhân phải dừng lại... Với tính chất
nguy hiểm của hành vi này có thể tính mạng, sức khỏe của nạn nhân đã bị
xâm hại hoặc đặt nó vào tình trạng nguy hiểm, chắc chắn nó sẽ gây ra trong tức
khắc và nạn nhân biết rõ điều đó. Hành vi sử dụng vũ lực của đối tượng phạm tội
thể hiện một cách công khai, không chỉ với nạn nhân mà có khi cả với những
tình trạng bất khả kháng không bằng cách nào chống cự được.
Hành vi chiếm đoạt tài sản của đối tượng phạm tội thể hiện bằng việc
lục soát, tìm kiếm, giằng giật lấy tài sản... hoặc cũng có thể được nạn nhân tự
tay trao cho như gỡ dây chuyền, nhẫn vàng, đồng hồ... đưa cho đối tượng phạm
tội, tuy nhiên hành vi chiếm đoạt tài sản là không bắt buộc đối với tội cướp.
Đối tượng phạm tội chỉ cần có một trong các hành vi trên đã đủ cấu
thành mặt khách quan của tội phạm, bất kể đối tượng phạm tội đó đã chiếm
đoạt được tài sản hay chưa.
Thứ ba, chủ thể của tội phạm.
Chủ thể của tội phạm cướp tài sản là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm
hình sự theo luật định.
Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm.
14
Mặt chủ quan của đối tượng phạm tội cướp tài sản thể hiện ở động cơ,
mục đích phạm tội. Động cơ của đối tượng phạm tội là thỏa mãn nhu cầu về
vật chất như có tiền để mua bán, có xe máy để đi, có điện thoại di động để sử
dụng... mục đích của phạm tội là chiếm đoạt tài sản, tức là bất kể những thứ gì
có giá trị và giá trị sử dụng như tiền, xe máy, đồ trang sức, công trái... nếu đối
tượng phạm tội tuy có hành vi sử dụng, đe dọa sử dụng ngay tức khắc bạo lực
nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không cấu thành tội phạm
cướp tài sản
Cần lưu ý là đối với tội phạm cướp tài sản do tính chất nguy hiểm của
nó nên có thể thường kèm theo một tội phạm khác như giết người, hiếp dâm,
cố ý gây thương tích.
1.2. Công tác truy tìm vật chứng trong các vụ cướp tài sản
1.2.1. Khái niệm vật chứng và phân loại vật chứng
- Khái niệm vật chứng:
giá trị cao" [31, tr. 562].
Thứ hai: Vật chứng là những vật tuy có liên quan đến người phạm tội
thậm chí thu được tại hiện trường nhưng không phải là tang vật phạm pháp. Ở
cách hiểu này vật chứng tuy cũng là những vật thể, thậm chí liên quan đến
hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi gây án nhưng nó (vật chứng)
không trực tiếp phản ánh (chứng minh) rõ sự thật hiển nhiên của tội phạm.
Chẳng hạn, tại Hướng dẫn số 9-NCPL ngày 8/1/1968 của Tòa án nhân
dân tối cao có phân biệt như sau:
Những đồ vật cá nhân, dày, dép, áo mũ, kính, bút máy... mà các
con bạc khi bị bắt quả tang bỏ chạy, để quên lại hay đánh rơi có thể
tạm giữ trong quá trình điều tra. Đấy là những vật chứng giúp phát hiện
những người đã tham gia đánh bạc nhưng đã chạy trốn. Những vật
chứng này không có liên quan gì đến việc phạm pháp. Do đó, nếu đã
17
tạm giữ thì khi xử án, Tòa án phải giải quyết trả lại người nguyên chủ
[26, tr. 82].
Trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự (1988) trong hoạt động điều tra
và kể cả trong hoạt động nghiệp vụ của ngành Công an đã tồn tại hai thuật
ngữ "vật chứng" và "tang vật".
Kể từ khi có Bộ luật tố tụng hình sự (1988) và hiện nay là Bộ luật tố
tụng hình sự (2003) thì thuật ngữ "vật chứng" được sử dụng thống nhất trong
khoa học điều tra, trong hoạt động tố tụng hình sự, đồng thời được qui định
trong Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự (2003)
thì khái niệm vật chứng được xác định như sau: "Vật chứng là vật được dùng
làm công cụ phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối
tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội
phạm và người phạm tội" [24].
Đây là những vật mà trong quá trình phạm tội, đối tượng đã vô tình
hoặc cố ý tác động đến nên đã để lại những dấu vết phản ánh sự tác động đó.
Chẳng hạn dấu vân tay, dấu chân để lại ở hiện trường; dấu vết cửa bị cạy,
bẩy; khóa cửa bị cắt,... quần áo của thủ phạm có dính máu của nạn nhân...
+ Vật là đối tượng của tội phạm. Đây là những vật mà đối tượng phạm
tội nhằm vào để chiếm đoạt, nhằm tác động để thỏa mãn động cơ, mục đích
của tội phạm. Chẳng hạn tiền, vàng, xe đạp, xe máy, tài sản khác là đối tượng
chiếm đoạt của tội phạm hoặc cây cối bị chặt phá (do đối tượng phạm tội trả
thù nạn nhân), nhà cửa, tài sản bị hủy hoại... Tuy nhiên, trong nhiều trường
hợp vật là đối tượng của tội phạm cũng có thể đồng thời là vật mang dấu vết
của tội phạm.
+ Những vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội.
Đây là những vật tuy không thuộc các loại trên nhưng bản thân chúng lại có
19
giá trị chứng minh trực tiếp hoặc gián tiếp phạm tội và người phạm tội như
các loại giấy tờ, hóa đơn bị tẩy xóa trong các vụ án tham ô, lừa đảo; giấy
chứng minh thư, thẻ công vụ, văn bằng, đăng ký xe được làm giả để phục vụ
hoạt động phạm tội, lẩn trốn của đối tượng, các loại tài sản, đồ vật được mua
sắm, đổi chác bằng tiền, tài sản do phạm tội mà có...
Tuy nhiên, cũng cần phải xác định vật chứng tự nó có giá trị chứng
minh tội phạm, chứa đựng thuộc tính phản ánh vật chất hành vi phạm tội,
người phạm tội. Nhưng trong khoa học hình sự và kể cả trong thực tiễn điều
tra thì để có được vật chứng, Cơ quan điều tra phải phát hiện, thu thập, bảo
quản cũng như phải xác minh và củng cố vật chứng. Trong nhiều trường hợp
việc tìm ra và thu thập được những vật chứng của vụ án là điều hết sức khó
khăn. Thậm chí thu được vật chứng nhưng không có biện pháp tích cực để
xác minh củng cố, bảo vệ thì vật chứng cũng trở thành vô giá trị. Chính vì vậy
cũng như hoạt động nghiệp vụ điều tra của ngành Công an đã hình thành
một lĩnh vực lý luận nhận thức và hoạt động thực tiễn đó là "Công tác truy
tìm vật chứng". Trên thực tế công tác này đã gắn liền và phục vụ tích cực
các hoạt động điều tra, khám phá, thậm chí trong nhiều trường hợp quyết
định thắng lợi của hoạt động điều tra.
Trên phương diện pháp lý cũng như thực tiễn điều tra, chủ thể ra
thông báo truy tìm và tổ chức truy tìm vật chứng bao giờ cũng là những cơ
quan có thẩm quyền thụ lý điều tra vụ án (chẳng hạn, Cơ quan Cảnh sát hình
sự hoặc Cơ quan Cảnh sát điều tra như hiện nay). Các biện pháp truy tìm vật
chứng cũng tương đối đa dạng, bao gồm các biện pháp điều tra theo tố tụng
hình sự, các biện pháp công khai như phát động quần chúng, kiểm tra hành
chính, tuần tra kiểm soát... và kể cả những biện pháp bí mật như phục kích,
xây dựng, sử dụng mạng lưới bí mật, kiểm tra và khám xét bí mật... Căn cứ để
truy tìm vật chứng bao giờ cũng là "Thông báo truy tìm vật chứng" của cơ
quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy tuy truy tìm vật
21
chứng là hoạt động điều tra, do Cơ quan điều tra tiến hành. Nhưng thực chất
nó bị mang tính nghiệp vụ Công an rất sâu sắc, trong nhiều trường hợp phải
sử dụng tổng hợp các lực lượng, các biện pháp nghiệp vụ để truy tìm, đặc biệt
là các lực lượng và biện pháp trinh sát.
Giữa "tìm vật chứng" và "truy tìm vật chứng" có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Muốn truy tìm vật chứng có kết quả thì phải tìm và xác định rõ đặc
điểm vật chứng. Ngược lại, khi truy tìm vật chứng có kết quả sẽ tạo cơ hội tìm
và xác định được những vật chứng mới. Từ những cách tiếp cận như trên, có
thể khái quát khái niệm công tác truy tìm vật chứng như sau:
Truy tìm vật chứng là quá trình tổ chức và tiến hành các biện pháp
cần thiết, phù hợp với pháp luật để tìm ra những vật chứng có liên quan
đang tồn tại hoặc cất giấu ở đâu. Những vật chứng chưa được xác định rõ thì
không thể và không thuộc phạm vi của truy tìm vật chứng. Hoặc tuy xác định
rõ vật chứng nhưng đã biết rõ nó hiện đang được cất giấu, đang tồn tại ở địa
điểm cụ thể nào đó thì cũng không cần thiết phải truy tìm, mà chỉ áp dụng các
biện pháp phù hợp để thu giữ.
- Về tính chất, truy tìm vật chứng tuy là hoạt động tố tụng hình sự
nhưng thực chất lại chủ yếu được tiến hành bằng các biện pháp nghiệp vụ của
ngành Công an như kiểm tra hành chính, tuần tra kiểm soát, phát động quần
chúng, đặc biệt là các biện pháp trinh sát.
- Chủ thể truy tìm vật chứng:
Thực chất hoạt động truy tìm vật chứng là quá trình thu thập chứng cứ
phục vụ các yêu cầu điều tra. Chính vì vậy truy tìm vật chứng bị chi phối và
điều chỉnh bởi những qui định của Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh tổ chức
điều tra hình sự cùng những văn bản có liên quan về trình tự, thủ tục, thẩm
quyền, thời hạn điều tra vụ án hình sự. Hiện nay căn cứ Bộ luật tố tụng hình
sự (năm 2003), Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự (năm 2004) cũng như
những văn bản, qui phạm pháp luật có liên quan, cần phải xác định chủ thể
23
truy tìm vật chứng chính là Cơ quan điều tra. Đối với lực lượng Công an nhân
dân, việc truy tìm vật chứng thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra ở Công
an từ cấp quận, huyện trở lên, trong phạm vi thẩm quyền điều tra của mình.
Tuy nhiên trong thực tiễn, các lực lượng nghiệp vụ khác như Cảnh sát quản lý
hành chính đặc biệt là Cảnh sát khu vực, Công an phụ trách xã, Cảnh sát giao
thông, lực lượng trinh sát... Tuy không phải là chủ thể (xét về địa vị pháp lý)
nhưng lại có vai trò rất quan trọng trong việc phối hợp tham gia truy tìm vật
chứng cùng với Cơ quan điều tra.
- Ý nghĩa tầm quan trọng của truy tìm vật chứng
tiến hành bằng cách tổng hợp nhiều biện pháp, với sự tham gia của những lực
lượng, phương tiện khác nhau.
Trên cơ sở xét về hình thức tổ chức truy tìm vật chứng, có thể phân
chia các biện pháp truy tìm vật chứng theo hai nhóm chủ yếu sau đây.
Thứ nhất, nhóm các biện pháp công khai
Tiến hành các biện pháp công khai để truy tìm vật chứng tức là việc
sử dụng các lực lượng, phương tiện một cách công khai (không cần giấu
giếm) để truy tìm vật chứng mà mọi người, thậm chí kể cả đối tượng và
những cơ quan chức năng đều nhận biết được. Các hoạt động công khai để
truy tìm vật chứng lại có thể được tiến hành dưới các dạng khác nhau, cụ thể
là.
+ Sử dụng các hoạt động tố tụng hình sự theo qui định của pháp luật
như khám xét, hỏi cung, ghi lời khai, khai thác mở rộng, thông báo rộng rãi
trên các phương tiện thông tin đại chúng... để truy tìm vật chứng. Tiến hành
truy tìm vật chứng trong những trường hợp này chỉ có thể là những Cơ quan
điều tra có thẩm quyền theo luật định, phải tuân thủ những qui định của pháp
luật tố tụng hình sự về hoạt động điều tra, đồng thời chịu sự giám sát của
những cơ quan có thẩm quyền, kể cả của quần chúng nhân dân.
Ưu điểm của việc sử dụng các biện pháp công khai theo tố tụng hình
sự để truy tìm vật chứng là đảm bảo giá trị pháp lý cao, dễ dàng huy động
25
được sự ủng hộ, giúp đỡ của quần chúng và các lực lượng xã hội khác. Tác
động mạnh mẽ đến ý thức, tư tưởng của thủ phạm và những người có liên
quan, đặc biệt trong những trường hợp đối tượng đang hoang mang dao động,
muốn lập công chuộc tội... sẽ có thể làm cho đối tượng ra tự thú, đầu thú và
giao nộp vật chứng. Mặt khác, việc truy tìm vật chứng bằng các biện pháp này
do phải tuân thủ những qui định chặt chẽ của pháp luật, chịu sự giám sát nên