LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG bộ QUẬN 11 THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH LÃNH đạo sản XUẤT CÔNG NGHIỆP, TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP GIAI đoạn 1986 1995 - Pdf 39

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Quận 11 là một trong những quận nội thành có vị trí quan trọng về
mọi mặt của Thành phố Hồ Chí Minh. Quận có dân số đông, người dân
lao động cần cù, đội ngũ cán bộ công nhân viên chức đông đảo; Đảng bộ
lãnh đạo năng động, sáng tạo; giàu tiềm năng phát triển kinh tế và sản xuất
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN - TTCN) với nhiều ngành nghề,
sản phẩm phong phú đa dạng. Đây là thế mạnh nổi bật để phát huy nội lực
của Quận.
30 năm qua, nhất là thời kỳ 10 năm đổi mới (1986 - 1995), dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, Đảng bộ Quận 11 đã vận
dụng đường lối đổi mới của Đảng, chính sách của Nhà nước, các Nghị
quyết của Thành ủy sát hợp với tình hình địa phương, đề ra nhiều chủ
trương, biện pháp và đã khơi dậy mọi tiềm năng, phát huy các thế mạnh
nên đã đẩy kinh tế CN - TTCN của Quận phát triển với những thành tựu to
lớn. Thành tựu đó đã góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế của
Thành phố trong quá trình triển khai thực hiện đường lối đổi mới của
Đảng. Hoạt động kinh tế của Quận 11 dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng
bộ, đã giúp cho quận trở thành một trong những quận tiêu biểu của Thành
phố Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế và sản xuất CN - TTCN.
Do vậy, nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố,
trực tiếp là của Đảng bộ Quận 11 trong lĩnh vực phát triển CN - TTCN trên
địa bàn Quận 11 là cần thiết. Bởi lẽ điều đó sẽ góp phần khẳng định sự
đúng đắn về phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, đồng thời có thêm căn cứ
thực tiễn giúp cho Đảng bộ Thành phố hoạch định các chủ trương đẩy

1


mạnh hoạt động kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

thành công, hạn chế, ý nghĩa và bài học, kinh nghiệm về sự lãnh đạo, chỉ
đạo phát triển một ngành kinh tế mũi nhọn của một quận thuộc thành phố
lớn có tiềm năng kinh tế hàng đầu trong cả nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ
Quận 11 cả về chủ trương và biện pháp nhằm phát triển CN - TTCN trong
giai đoạn lịch sử 1986 - 1995. Sự nghiên cứu, trình bày trong luận văn các
hoạt động lãnh đạo kinh tế của Đảng bộ trước giai đoạn lịch sử đó là nhằm
mục đích so sánh làm nổi bật vai trò lãnh đạo của Đảng bộ và thành tựu
kinh tế của Quận trong 10 năm đổi mới.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm của Đảng ta, luận văn trình bày,
phân tích quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Quận 11 trong sự biến đổi của
lĩnh vực CN - TTCN Quận 11 theo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà
nước. Từ đó làm rõ và nêu bật vai trò lãnh đạo năng động, sáng tạo của
Đảng bộ trong lĩnh vực hoạt động kinh tế ở địa phương.
Nguồn tài liệu chính mà luận văn sử dụng là các Văn kiện của Đại
hội Đảng toàn quốc; các Nghị quyết đại hội và hội nghị Đảng bộ Thành
phố Hồ Chí Minh; các Nghị quyết đại hội và hội nghị Đảng bộ Quận 11 từ
sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhất là từ năm 1986 - 1995.
Những báo cáo, tài liệu liên quan đến nội dung luận văn hiện lưu giữ ở
Ủy ban nhân dân Quận và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; các
ban ngành của Quận 11, Cục thống kê Thành phố và nhiều tài liệu liên quan
khác.
Các dữ kiện, số liệu thu thập qua khảo sát thực tế sản xuất CN - TTCN
tại địa bàn Quận 11.

3



nhất định. Tác giả luận văn xin sẵn sàng tiếp thu mọi ý kiến đóng góp để
đề tài được tiếp tục nghiên cứu, mở rộng và hoàn thiện hơn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
Chương 1
TÌNH HÌNH, ĐẶC ĐIỂM QUẬN 11 DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO
CỦA ĐẢNG SAU 10 NĂM THÀNH PHỐ GIẢI PHÓNG

Tìm hiểu, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ Quận 11 về phát triển
CN - TTCN thời kỳ 1986 - 1995, cần thiết phải đề cập một số tình hình,
đặc điểm của Quận sau 10 năm kể từ ngày Thành phố Hồ Chí Minh được
giải phóng trên các mặt vị trí địa lý, tổ chức hành chính, trình độ kinh tế,
cộng đồng dân cư để thấy rõ những khó khăn, thuận lợi cơ bản của Quận.
1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ - TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH - DÂN SỐ

* Vị trí địa lý:
Quận 11 nằm về phía Tây - Tây Nam thành phố Hồ Chí Minh, cách
trung tâm thành phố 6 km; là cửa ngõ thông thương giữa nội thành và
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Quận nằm giữa 10038’ đến 10010’ vĩ bắc,
106022’ - 106054’ kinh đông: Phía Tây Bắc giáp quận Tân Bình được giới
hạn bởi kênh Tân Hóa, đường Âu Cơ, đường Nguyễn Thị Nhỏ và đường
Thiên Phước. Phía Đông giáp Quận 10, được phân cách bằng đường Lý
Thường Kiệt. Phía Nam giáp Quận 5 và 6, được giới hạn bởi đường
Nguyễn Chí Thanh và đường Hùng Vương. Như vậy, Quận 11 có vị trí
quan trọng nằm giữa các Quận 5, 6, Tân Bình và Quận 10, là những quận
có tiềm năng kinh tế, văn hóa và nhiều mặt khác.

5

6


Khu vực 2: Khu vực tập trung dân cư ở phường Phú Thọ cũ và
quanh nghĩa địa Quảng Đông (gồm có các phường 8, 11, 12, 13 ngày nay)
với mật độ dân cư rải rộng tương đối đều trên toàn địa bàn. Khu vực này
về địa giới so với qui định trên bàn đồ thời Pháp thuộc tới nay thì tương
đối ít thay đổi nhất. Đến ngày nay, dấu vết cổ xưa vẫn còn tồn tại trên sự
phân bổ đường sá, kiến trúc nhà cửa, nghĩa địa và các chùa chiền.
Khu vực 3: Là khu vực đồn cây Mai, thuộc xóm Phú Giáo cũ (gồm
các phường 2, 16 ngày nay). Đây là vùng cửa ngõ vào Thành phố tập trung
bến xe, người qua lại nên việc quản lý phức tạp hơn.
Khu vực 4: Là khu vực ven hoang hóa với các phường Phú Hòa,
Cầu Tre cũ... (gồm các phường 1, 3, 5, 9, 10, 14 ngày nay) có nhiều ruộng
đất, giáo xứ, nghĩa địa, chùa chiền.
Nhìn bao quát về địa lý, dân cư hiện nay, Quận 11 là quận nhỏ,
nhưng dân số đông, phân bổ cư dân và trình độ phát triển kinh tế không
đồng đều. Đặc điểm đó có nguồn gốc từ quá trình hình thành và phát triển
của Quận.
* Vài nét lịch sử hình thành Quận 11:
Quận 11 vốn là vùng đất sình lầy, được khai phá từ thế kỷ XVIII. Theo tư
liệu lịch sử cho thấy Quận 11 nằm trong các chiến lũy Hòa Phong, Báu
Tích, sau này là một phần của đại đồn Kỳ Hòa do Nguyễn Tri Phương,
Tôn Thất Hiệp xây dựng trong những ngày đánh Pháp xâm luợc đầu tiên
của nhân dân Nam Bộ.
Trước khi thực dân Pháp đánh chiếm vùng Sài Gòn - Gia Định
(1859) một bộ phận nhân dân ta, phần đông là người Kinh và một số lớn
người Hoa di cư vào nước ta làm ăn buôn bán đã đến sinh sống lập nghiệp
tại đây với làng mạc dân ấp, dân lân.



8


Phú Bình, sửa sang các trại gia binh thành phố sá để bán lại cho những
người lao động làm nghề dệt vải, thuộc da, thủy tinh.
Năm 1959 Quận 11 thuộc về một phần đất của Quận 5 và Quận 6,
lúc đó các con đường lớn và nhà cửa của đồng bào được xây dựng lại, dân
cư tập trung đông đảo dọc các con đường lớn như đường Phú Thọ, đường
Lò Siêu, đường A6, đường Trần Quốc Toản, đường Quân Sự, đường
Dương Công Trừng, đường Trần Hoàng Quân, đường Lê Đại Hành, đường
Lữ Gia, đường Nguyễn Văn Thoại, đường Phó Cơ Điều, đường Tôn Thọ
Tường, đường Thuận Kiều, đường Hương Lộ 14...
Đến ngày 1-7-1969, chính quyền Sài Gòn đã ký nghị định thành lập
Quận 11 trên cơ sở tách 6 phường thuộc Quận 5 và Quận 6 gồm các phường:
phường Cầu Tre, Phú Thọ, Bình Thới, Phú Thạnh, Bình Thạnh, Phú Hòa,
sáp nhập lại với mục đích chính là tạo một đơn vị hành chính, quân sự
dùng làm "lá chắn" để bảo vệ cửa ngõ phía Tây Nam Sài Gòn.
Quận 11 là quận có thế mạnh về sản xuất CN - TTCN so với các
quận huyện khác của Thành phố. Đội ngũ lao động có tay nghề kỹ thuật
khá (chiếm 34%), riêng khu vực tiểu thủ công nghiệp có trên 4000 lao
động có tay nghề từ 10 năm trở lên, 3.600 cơ sở sản xuất lớn nhỏ tập trung
vào các ngành chế tạo và sửa chữa thiết bị máy móc, hóa chất, vật liệu xây
dựng, chế biến lương thực, thực phẩm, dệt, da, may mặc, in ấn... và trên 42
nhà máy Trung ương đóng trên địa bàn Quận 11 (theo số liệu chi cục
Thành phố Hồ Chí Minh, tính đến năm 1986).
1.2. MỘT SỐ KINH NGHIỆM LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG VÀ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐẢNG BỘ QUẬN 11 (1975 - 1985)

1.2.1. Thời kỳ 1975 - 1980

thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phải nắm trọn buôn bán và chiếm phần
lớn bán lẻ, có khả năng chi phối, điều khiển được thị trường và chuyển
phần lớn tiểu thương sang sản xuất.

11


Sau khi các lực lượng cách mạng đập tan bộ máy thống trị của bọn
ngụy quyền, chính quyền cách mạng được thiết lập dưới sự lãnh đạo của
Đảng bộ Quận đã nhanh chóng tổ chức, sản xuất, xây dựng đời sống kinh
tế - xã hội. Nhân dân Quận 11 phấn khởi bắt tay vào công cuộc khôi phục
và phát triển sản xuất, ổn định đời sống, giữ vững an ninh chính trị, trật tự
an toàn xã hội.
Căn cứ Nghị quyết Đại hội lần thứ IV (12-1976) của Đảng, Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ lần thứ I của Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (4-1977)
và tình hình đặc điểm của Quận 11, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận 11
lần thứ I (7-1977) đề ra nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể: Tập trung cao lực lượng
cải tạo quan hệ sản xuất phi xã hội chủ nghĩa, ra sức khôi phục và phát
triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân, đẩy mạnh cách
mạng tư tưởng - văn hóa - xã hội, xây dựng kiện toàn chính quyền nhân
dân ở quận, phường, ra sức củng cố xây dựng Đảng vững mạnh về chính
trị, tư tưởng, tổ chức đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trước mắt và
lâu dài.
Một trong những mục tiêu quan trọng của Quận được Đại hội Đảng
bộ chỉ rõ: Tập trung cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản
xuất mới xã hội chủ nghĩa, khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định và từng
bước cải thiện đời sống nhân dân lao động theo phương hướng cải tạo và
xây dựng kinh tế của Thành phố. Kết hợp chặt chẽ việc khôi phục và phát
triển sản xuất với việc cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa,
ra sức phát huy năng lực hiện có của các ngành CN - TTCN và công

thích hợp, khuyến khích, khôi phục và quản lý chắc các ngành nghề
truyền thống của Quận. Trong 2 năm 1977 - 1978, Quận đã tăng giá trị sản
lượng tiểu thủ công nghiệp lên 25 triệu đồng thu hút trên 7.500 lao động.
Đầu năm 1978, Quận 11 thành lập được 120 tổ sản xuất tập thể, thu
hút được 4.869 lao động, xây dựng được 3 hợp tác xã sản xuất với 385 xã
13


viên, hướng dẫn và tổ chức sản xuất 365 cơ sở với 7.786 lao động (chiếm
47% lao động). Quận còn chủ trương vận động các nhà trung, tiểu thương
chuyển sang sản xuất, thành lập các xí nghiệp hoạt động dưới sự hướng
dẫn kiểm soát của Nhà nước, nhiều ngành nghề mới phục vụ cho xuất
khẩu như thảm đay, sơn mài, mành trúc... ra đời, tổ chức 3 lớp dạy thêu
tay xuất khẩu (200 học viên). Quận ủy còn chú trọng, khuyến khích thành
lập các tổ sản xuất tập thể sản xuất gia công cho Nhà nước, phát triển thêm
nhiều mặt hàng mới, cấp giấy phép hành nghề cho 1.446 cơ sở sản xuất cá
thể.
Công tác cải tạo tuy đã đạt được những kết quả nhất định, song việc
xây dựng các ngành còn chậm so với yêu cầu kế hoạch. Ngành giao thông
vận tải, nhà đất gần như mới bắt đầu, vì do điều kiện cơ sở vật chất của
Quận còn nhiều khó khăn.
Nhìn chung đến cuối năm 1978, Quận 11 đã nâng lên tổng số 2879
cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp trong đó có 14 hợp tác xã và 184 tổ
sản xuất tập thể, 2.691 tư nhân cá thể. Cơ sở mới khôi phục là 64, phát
triển mới là 22 chủ yếu các cơ sở sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, tổng
giá trị thực hiện được là 52.580.000 đ vượt 110% chỉ tiêu kế hoạch của Đại
hội Đảng bộ Quận.
Trong quá trình thực hiện kế hoạch Nhà nước 1976 - 1980, sau hai
năm tổ chức sắp xếp lại sản xuất, tiến hành cải tạo kinh tế - xã hội, nền
kinh tế Thành phố nói chung và nền kinh tế Quận 11 nói riêng gặp nhiều

chất của nhân dân được ổn định. Đảng bộ coi đây là nhiệm vụ trung tâm
cơ bản nhất. Vì vậy, đến cuối năm 1979, Quận đã cải tạo được 24 xí
nghiệp tư nhân (qui mô nhỏ) thành xí nghiệp quốc doanh do Quận quản lý,
xây dựng được 114 hợp tác xã sản xuất và 249 tổ sản xuất. Đến năm 1980
toàn Quận có 3.543 cơ sở sản xuất trong đó có 252 tổ sản xuất, 3.250 hộ tư
nhân và cá thể với 22.982 lao động (lao động khu vực tập thể chiếm tỷ lệ
50%), giá trị hàng hóa khu vực tập thể không ngừng tăng lên. Trong năm
1979 đạt được 128 triệu đồng, hàng xuất khẩu đạt 78% kế hoạch. Quan hệ
15


sản xuất xã hội chủ nghĩa đã từng bước được xây dựng và phát huy tác
dụng, từng bước quản lý chặt chẽ lực lượng lao động, máy móc, vật tư
hàng hóa; từng bước đưa đưa sản xuất đi vào kế hoạch và hoạch toán kinh
doanh xã hội chủ nghĩa.
1.2.2. Thời kỳ 1981 - 1985
Báo cáo chính trị Đại hội V chỉ rõ: "Ổn định dần dần, tiến lên cải
thiện một bước đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân"... "Tiếp tục
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúc
đẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, đồng thời tăng
thêm trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác và chuẩn bị cho sự phát
triển mạnh mẽ hơn nữa của công nghiệp nặng trong chặng đường tiếp
theo...".
Trong chặng đường trước mắt, tất yếu phải tiếp tục xây dựng cơ sở
vật chất - kỹ thuật thì mới đáp ứng yêu cầu của kinh tế và đời sống trước
mắt, đồng thời chuẩn bị cho sự phát triển mạnh mẽ hơn ở chặng tiếp theo.
Trong điều kiện nguồn vốn có hạn, việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật
phải coi trọng phát triển chiều sâu, tức là cải tạo sắp xếp lại, bổ sung mở
rộng, nâng cao để khai thác tốt năng lực sẵn có, đồng thời tiếp tục phát
triển theo chiều rộng, tức là xây dựng mới có trọng điểm.

Trong bối cảnh đó, thực hiện Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị về
phân phối lưu thông, cải tiến một số cơ chế chính sách, Nghị quyết số
9/TU của Thành ủy, Đảng bộ Quận 11 đã quan tâm đối với nhiệm vụ lãnh
đạo đẩy mạnh sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân lao động và
coi đó là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Đảng bộ trong điều kiện Đảng
cầm quyền. Theo chủ trương của Đảng bộ Thành phố, Đảng bộ, chính
quyền Quận tiến hành một số biện pháp có hiệu quả và kịp thời tháo gỡ
khó khăn của sản xuất CN - TTCN (như thiếu vật tư, nguyên liệu, điện,
tiền mặt...). Công tác quản lý sản xuất công nghiệp ngày càng tốt hơn.
Tình hình chính trị, trật tự trong người Hoa, sau vụ "nạn Kiều" năm 1978
dần dần ổn định hơn. Do đó sản xuất CN - TTCN 3 năm 1980 - 1982
17


chẳng những có bước ổn định mà còn phát triển tương đối nhanh. Tốc độ
phát triển bình quân trong 3 năm là 39%, riêng năm 1982 tăng 78%, giá trị
sản lượng năm sau cao hơn năm trước. Đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch hàng
năm do Thành phố giao, vượt kế hoạch do Đại hội Đảng bộ Quận lần II
(11-1979) đề ra (từ 189,9 triệu đồng của năm 1979, năm 1982 thực hiện
được 477 triệu đồng), giá trị sản lượng xuất khẩu tăng, nhất là năm 1982
sản lượng giao nộp cho Thành phố hàng năm đều tăng. Qua đó đã góp
phần

đẩy

mạnh

sản

xuất

01 của Bộ chính trị về công tác của Thành phố Hồ Chí Minh và Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ III, Đảng bộ và nhân dân Quận
11 đã quyết tâm phấn đấu hoàn thành kế hoạch Nhà nước năm 1983.
Trong năm 1983, theo báo cáo của Quận ủy, UBND Quận thì sản xuất
CN - TTCN của Quận đã đạt được 101,03% kế hoạch Thành phố giao. Riêng
các xí nghiệp quốc doanh của Quận đã vượt 1,8% kế hoạch năm 1983; 2
trong 3 xí nghiệp quốc doanh của Quận (Thủy tinh Tiền Phong, Nhựa Phú
Thọ) đã đi vào nề nếp và ổn định hơn. Vai trò của phường được phát huy
ngày càng cao và có hiệu quả hơn trong việc phối hợp với ngành kinh tế do
Quận quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn phường. Trên cơ
sở sản xuất phát triển, Quận đã giải quyết công ăn việc làm cho 5.834 lao
động đạt 98,5% kế hoạch (khu vực tiểu thủ công nghiệp có 2.541 lao
động).
Tiếp tục quán triệt và thực hiện các Nghị quyết của Thành ủy, Nghị
quyết của Đảng bộ Quận, Quận ủy đã đề ra chương trình công tác năm
1984 bám sát những yêu cầu phương hướng, nhiệm vụ chính trị mà Đại
hội III Đảng bộ Quận đề ra.
Trong 6 tháng đầu năm 1984, trên lĩnh vực sản suất CN - TTCN đã
thực hiện được giá trị sản lượng 227,48 triệu đồng đạt 43,75% kế hoạch
năm. Việc giao nộp sản phẩm và chất lượng sản phẩm có đảm bảo hơn,
giảm được mức sản phẩm tự tiêu. Riêng công nghiệp 6 tháng đầu năm có
sự chuyến biến đáng kể, đã thực hiện đạt 52% kế hoạch năm. Đạt được

19


những kết quả bước đầu trên là do nỗ lực của toàn Đảng bộ, của nhân dân
lao động Quận 11.
Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa
được tiến hành ở một số ngành như dệt, thủy tinh, phụ tùng xe đạp, cao su,

trong đó sáng tạo ra mô hình xí nghiệp hợp doanh để tận dụng được những
thế mạnh vào sản xuất là một nỗ lực đáng kể. Việc ưu tiên về vốn và mặt
bằng cho việc sản xuất ra các mặt hàng xuất khẩu, phát huy tính năng
động nhạy bén của cơ sở sản xuất và người lao động đã tạo sự chuyển biến
lớn trong hoạt động sản xuất, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công
nghiệp. Chính những thay đổi đó mà những tiềm năng và óc sáng tạo của
người lao động ở Quận 11 được khơi dậy. Trong 3 năm 1983 - 1985, tiểu
thủ công nghiệp ở Quận 11 đã phát triển mạnh. Sản phẩm của tiểu thủ
công nghiệp không chỉ đáp ứng được nhu cầu của Thành phố mà còn cung
cấp cho nhu cầu xuất khẩu. Tổng số vốn tiểu thủ công nghiệp tăng từ 30 35% (so với năm 1980) số lượng ngành nghề và chủng loại mặt hàng tăng
nhanh, nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục, nhiều ngành nghề
mới được xuất hiện do yêu cầu của tiêu dùng và xuất khẩu.
Sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp Quận 11 đã góp phần tạo ra
nhiều mặt hàng về kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng nghìn người
lao động, tạo điều kiện cải thiện đời sống chung cho xã hội, củng cố thêm
tính ưu việt của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời trong quá trình phát
triển đó cũng làm tăng thêm vị trí chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong
Quận.
Trong mười năm sau giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Trung ương
Đảng, Thành ủy, Đảng bộ và nhân dân Quận 11 đã đạt được những thành
tựu cơ bản sau:
- Thành tựu lớn nhất đạt được trước hết là duy trì phát triển được
sản xuất CN - TTCN trên địa bàn Quận với nhịp độ ngày càng tăng. Việc
cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nền sản xuất nhỏ phân tán ngày càng được
21


xác định cùng với việc phát triển sản xuất, quan hệ sản xuất mới từng bước
được xây dựng. Công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương
nghiệp tư bản tư doanh được đẩy mạnh.

xác định rõ ngành nào là ngành mũi nhọn. Do chạy theo chỉ tiêu kế hoạch
và số lượng đơn thuần nên nhiều mặt hàng sản xuất ra kém chất lượng.
Mặt khác, do bị động về thị trường tiêu thụ cả trong nước và ngoài nước,
nên cũng không kích thích được sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển.
- Trong việc cải tạo quan hệ sản xuất, sau nhiều năm nỗ lực, Quận
11 đã xây dựng được một số hợp tác xã và tổ sản xuất. Hình thức tổ chức
sản xuất này có làm cho sản phẩm gia tăng, nhưng chất lượng sản phẩm
chưa tốt. Công tác cải tạo chưa vững chắc, việc đầu tư xây dựng, phát triển
các cơ sở quốc doanh thiếu được quan tâm. Hiệu quả kinh tế khu vực này
còn thấp. Tình hình sản xuất chưa ổn định, do còn lúng túng trong phương
hướng sản xuất, trình độ quản lý còn yếu. Vì vậy, kinh tế quốc doanh chưa
xác lập được vai trò chủ đạo.
Trong lĩnh vực sản xuất tập thể, còn một số cơ sở trá hình của tư
nhân dưới dạng "đoàn kết sản xuất". Do tư tưởng nóng vội, các nguyên tắc
tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ trong xây dựng hợp tác xã bị vi
phạm, không được chấp hành nghiêm chỉnh.
Trong cách nghĩ, cách làm và nhận thức của cán bộ, đảng viên chưa
đánh giá hết tình hình phức tạp của cuộc đấu tranh giữa hai con đường xã
hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, chưa nhận thức sâu sắc mối quan hệ
giữa cải tạo và xây dựng; chưa thúc đẩy sản xuất phát triển, đồng thời gắn
liền với cuộc đấu tranh chống kiểu chiến tranh phá hoại nhiều mặt của bọn
phản cách mạng. Trong lãnh đạo và quản lý kinh tế có hiện tượng buông
lỏng chuyên chính vô sản trong mặt trận lưu thông phân phối trong một
thời gian dài, đời sống của nhân dân có được cải thiện một bước nhưng
vẫn còn nhiều khó khăn. Việc phát triển các cơ sở vật chất phục vụ cho
đời sống tinh thần và văn hóa của nhân dân còn chậm.
23


Những thành công và hạn chế đó là những bài học, kinh nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status