Nhận thức xã hội của giới trẻ hiện nay với hôn nhân đồng tính và chuyển đổi giới tính (nghiên cứu trường hợp tại thành phố hồ chí minh) - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ

NHẬN THỨC XÃ HỘI CỦA GIỚI TRẺ HIỆN NAY VỚI
HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI VÀ CHUYỂN ĐỐI GIỚI
TÍNH
( NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI
Chuyên ngành: Xã Hội
Học

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. VŨ MẠNH

HÀ NỘI -


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ của giảng viên hướng dẫn PGS.TS. Vũ Mạnh
Lợi. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình
nghiên cứu nào trước đây. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập và xử lý cách chân thực và khách quan bởi người nghiên cứu.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng.
Tác giả

Nguyễn Thị Hiên

Nhìn lại chặng đường hai năm đào tạo trên giảng đường Cao học tại Học viện, với những hoa trái của tri thức, con



PHỤ LỤC
CĐGT:

Chuyển Đổi Giới Tính

CĐ/ĐH:

Cao Đẳng/ Đại Học

GD:

Giáo Dục

HS:

Học Sinh

HNĐG:

Hôn Nhân Đồng Giới

Kqt:
LGBT:

Không quan tâm
Lessbian, Gay, Bisexual , Trangender (Đồng tính nữ, đồng tính nam,

NV:

lưỡng tính, chuyển giới)

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 26 tháng 06 năm 2015, nước Mỹ đã thông qua luật hôn nhân đồng giới ở toàn bộ 50 tiểu bang. Nhân dịp này,
tổng thống Obama đã phát biểu tại Nhà Trắng: “Đây là một thắng lợi của nước Mỹ" [2]. Có thể nói, sự kiện này không chỉ
là của riêng nước Mỹ mà còn đánh dấu mốc quan trọng trong quá trình thay đổi nhận thức và thái độ của xã hội với các vấn

đề thuộc giới tính thứ ba trên toàn thế giới. Bằng chứng là có khoảng 26 triệu người dùng mạng xã hội facebook đã tạo ra
một xu hướng ủng hộ bằng cách dùng biểu tượng cờ lục sắc (hay còn gọi là cờ cầu vồng) làm hình ảnh đại diện. Bởi lẽ vấn
đề liên quan đến giới tính thứ ba là một vấn đề xã hội và hiện nay vẫn luôn tồn tại những xu hướng nhận định khác nhau. Ở
Việt Nam, gần đây nhất, ngày 24 tháng 11 năm 2015, bộ luật dân sự được Quốc hội thông qua và hợp pháp hóa quyền
chuyển đổi giới tính. Đây cũng là một biểu hiện mang tính hội nhập ở Việt Nam theo xu hướng chung của thế giới. Như
vậy, vấn đề giới tính là một quá trình xã hội đã, đang và sẽ có những biến chuyển nhất định trong tương lai, điều này hợp lý
với sự lý giải của lý thuyết tương tác biểu tượng khi đặt xã hội trong trạng thái động.

Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến cộng đồng LGBT (Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender) không chỉ liên quan
đến đặc điểm sinh học, mà còn liên quan đến khía cạnh lối sống xã hội, văn hóa, đạo đức và truyền thống ở mỗi quốc gia và
khu vực khác nhau. Thay đổi giới tính và hình thức hôn nhân sẽ dẫn đến những biến chuyển về cơ cấu gia đình, vấn đề sinh
sản, giáo dục gia đình và chức năng của gia đình, qua đó, tác động đến xã hội ở nhiều khía cạnh như: giá trị, lối sống, văn
hóa, nghề nghiệp.
Vì là một hiện tượng xã hội, hôn nhân đồng giới và chuyển đổi giới tính cần phải được tìm hiểu và nghiên cứu một
cách nghiêm túc và khoa học, đặc biệt dưới nhãn quan và cách tiếp cận của Xã hội học. Điều cần thiết là định vị xem hiện
tượng đó đang được xã hội nhận định và đánh giá như thế nào. Vấn đề đồng tính và chuyển giới chỉ được biết rộng rãi ở
Việt Nam từ sau thời kỳ đổi mới (1986 cho đến nay), đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay (điều này không có nghĩa là trước
1986 ở Việt Nam không có người thuộc cộng đồng LGBT). Giới trẻ chính là nhóm dân số chịu tác động nhiều nhất của
hiện tượng này. Hơn nữa, nghiên cứu trên đối tượng giới trẻ cũng là nghiên cứu cho tương lai khi vừa mang lại hiểu biết
hiện tại vừa giúp dự báo tương lai.
Bối cảnh chung của đề tài cho thấy một phần tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu. Bên cạnh đó, chuyển đổi giới
tính và hôn nhân đồng giới là một vấn đề xã hội không chỉ của Việt Nam mà của toàn thế giới. Nó đã và đang ảnh hưởng
lên các thiết chế khác của xã hội như: gia đình, giáo dục, nghề nghiệp... Vì vậy, nghiên cứu nhận thức và thái độ của giới
trẻ về chuyển đổi giới tính và hôn nhân đồng giới là cần thiết để định vị nhận thức của xã hội và xác định xu hướng thay


nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc xã hội phản đối hôn nhân đồng giới [54] [36], tác giả Herek (1999) [47], Cullen
(2002) nghiên cứu về các tác động đến những người ủng hộ hôn nhân đồng giới và một số nghiên cứu khác cùng chủ đề


[55].
Về phương pháp và cách tiếp cận. Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng: một vài nghiên cứu
đại diện như Barry & Charmie (2011) đã nghiên cứu thống kê để đưa ra những bằng chứng liên quan đến vấn đề SSM trên

toàn thế giới, đặc biệt là ở Mỹ [31]. Nghiên cứu thực nghiệm cũng được Gregory (1984) áp dụng khi tìm hiểu về thái độ
đối với người đồng tính, bằng mô hình phân biệt ba loại thái độ theo chức năng tâm lý học xã hội; kinh nghiệm mà họ
tương tác với người đồng tính trong quá khứ; sự phòng thủ và đối phó với sự xung đột nội tâm hoặc lo âu bằng cách bảo vệ
người đồng tính; các biểu tượng, miêu tả các khái niệm trừu tượng được liên kết chặt chẽ giữa bản thân và các nhóm mạng

xã hội trở thành nơi tham khảo [44]. Nghiên cứu định lượng và tiếp cận dưới góc nhìn văn hóa được Brinson (2009) sử
dụng trong phân tích của mình để đo lường thái độ và niềm tin xã hội đối với hôn nhân đồng giới và hình thức kết hợp dân
sự [35]. Tác giả Ghoshal (2005) nghiên cứu trên 12 lớp xã hội học với 6 gói khảo sát khác nhau về đặc điểm nhân khẩu và
ý kiến về hôn nhân đồng giới [43].
Về những kết quả nghiên cứu. Theo Barry & Charmie (2011), SSM có sự khác biệt về số lượng, mức độ và khuynh
hướng giữa các cặp nam và nữ. Nghiên cứu cũng đi đến kết luận về sự đồng ý và phản đối SSM dựa trên sự thay đổi về luật
và chính sách có thể xảy ra. Tác giả cũng đi đến kết luận hậu quả và tác động của SSM đã vượt ra khỏi giới hạn của quốc
gia và khu vực, SSM cũng được dự đoán là vấn đề gây tranh cãi về khía cạnh hợp pháp, chính trị và văn hóa của mỗi quốc
gia và trên toàn thế giới [31].

về hướng nghiên cứu thái độ đối với người đồng tính nữ và đồng tính nam, Gregory (1984) cho rằng có nhiều cái
nhìn phức tạp về mặt tâm lý về thái độ tích cực và tiêu cực đối với người đồng tính. Tác giả cũng đề xuất chiến lược thay

đổi thái độ dựa trên chức năng truyền thông [38]. Bên cạnh đó Brinson (2009) cung cấp những bằng chứng sống động để
chứng minh và giải thích dưới góc độ văn hóa về việc xã hội ủng hộ hình thức kết hợp dân sự nhưng chưa ủng hộ hôn nhân
đồng giới, sự khác nhau về nhận thức giữa các nhóm có đặc điểm nhân khẩu và văn hóa được chứng minh [35]. Tác giả

xuất bản bằng tiếng anh) nhưng có giá trị tham khảo và so sánh khi đề tài này được thực hiện. Đặt trong bối cảnh kinh tế,
văn hóa, xã hội khác nhau ở mỗi quốc gia và khu vực sẽ có những nghiên cứu phù hợp và cách tiếp cận phù hợp.
Nhóm tài liệu trong nước
Về chủ đề nghiên cứu, ở Việt Nam, các vấn đề thuộc cộng đồng LGBT được nghiên cứu trong những năm gần đây
như Vũ Mạnh Lợi và các cộng sự (2009) nghiên cứu về tình dục đồng giới nam (MSM) tại VN, sự kỳ thị và hệ quả xã hội
[14]. Sau đó một năm, tác giả này cũng công bố báo cáo nghiên cứu về MSM bán dâm tại Hà Nội: Hành vi nguy cơ cao và
các rào cản trong dự phòng HIV cũng nhằm mô tả thực trạng của nhóm MSM, tìm hiểu các hành vi nguy cơ, các rào cản và
xác định nhu cầu của MSM về dự phòng HIV [13]. Tiếp đến, phải kể đến nghiên cứu của Viện iSEE (2010), một nghiên


cứu khảo sát đánh giá về mức độ và nguyên nhân kỳ thị đồng tính luyến ái trong một số nhóm xã hội ở Việt Nam. Bên cạnh
đó, nghiên cứu cũng phân tích các cản trở và cơ hội trong việc thay đổi thái độ [27]. Tiếp đến, công bố của Viện iSEE &
IOS với kết quả trưng cầu ý kiến người dân về hôn nhân cùng giới (2013) [28]. Một nghiên cứu khác về sự kỳ thị của Trần
Thành Nam & Đặng Thị Việt Phương (2011) trong nghiên cứu về sự kỳ thị và phân biệt đối xử của nhân viên y tế qua cung
cấp dịch vụ y tế cho nam quan hệ tình dục đồng giới [16]. Liên quan trực tiếp hơn, một nghiên cứu khoa học cấp bộ của
sinh viên Nguyễn Hồ Phương Trâm (2011) trong đề tài nghiên cứu về nhận diện quan điểm của giới trẻ tại Tp.HCM về hôn
nhân đồng giới [24].
Về mặt phương pháp luận, nghiên cứu của Vũ Mạnh Lợi và các cộng sự (2009) sử dụng phương pháp hỗn hợp
(Mix Method) giữa định lượng và định tính với lượng mẫu khảo sát là 813 người đồng tính nam (ĐTN) và 900 người dân,
600 cán bộ đoàn thể, 45 cuộc thảo luận nhóm, 196 phỏng vấn sâu [14]. Trong nghiên cứu năm 2010, tác giả cũng kết hợp
phương pháp định lượng (150 bảng hỏi) và định tính (12 trường hợp phỏng vấn sâu) [12]. Đới với nghiên cứu của Viện

iSEE (2010), bằng việc kết hợp các nghiên cứu định tính và định lượng dựa tên khung lý thuyết kỳ thị của Link và Phelan,
iSEE đã phát triển thang đo kỳ thị xã hội đối với đồng tính và đưa vào bảng hỏi điều tra trên 650 người ở độ tuổi 18-60
bằng các câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu học xã hội, mức độ trải nghiệm, tiếp cận thông tin về đồng tính và tác động nhận
thức của gia đình và cộng đồng về đồng tính lên cá nhân... [27] [28]. Nghiên cứu của Trần Thành Nam & Đặng Thị Việt
Phương, 2011) sử dụng cách tiếp cận định tính với mẫu là 82 trường hợp qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm [16]. Tiếp
tục là nghiên cứu định lượng, Nguyễn Hồ Phương Trâm (2011) sử dụng cách tiếp cận định lượng và áp dụng lý thuyết cơ
cấu chức năng, khảo sát bảng câu hỏi trên 190 mẫu là sinh viên, công nhân và nhân viên theo phương pháp chọn mẫu tình
cờ tiện lợi [24].

tôi cũng dựa trên các kết quả nghiên cứu này để có những tham khảo và gợi ý trong việc đưa ra câu hỏi, giả thuyết nghiên
cứu và cụ thể hơn là giai đoạn thiết kế bảng câu hỏi khảo sát như đã và sẽ trình bày.
Như vậy, đề tài nghiên cứu đặt trong bối cảnh tình hình nghiên cứu này, vừa như một nghiên cứu lặp lại để tiến

hành mô tả, so sánh và cập nhật, mặt khác đề tài có những điểm mới như đặt trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, tiếp
cận dưới góc nhìn xã hội học với cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu (sự kết hợp của hai trường phái lý thuyết chức
năng luận và cá nhân luận, phương pháp nghiên cứu hỗn hơp (mix method) nhằm cố gắng đóng góp cả về mặt lý luận và
thực tiễn).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đich:
Đề tài được tiến hành nhằm nhận diện xu hướng nhận thức của giới trẻ hiện nay về hai vấn đề của cộng đồng
LGBT là vấn đề HNĐG và CĐGT. Bên cạnh đó, việc giải thích sự hình thành của quá trình nhận thức ấy cũng là một mục
tiêu của đề tài, qua đó giúp nhận diện khái quát nhận thức chung của xã hội về hai vấn đề này.
Nhiệm vụ:
Nghiên cứu tài liệu về vấn đề hôn nhân đồng giới và chuyển đổi giới tính trên thế giới và ở Việt Nam. Khảo sát


quan điểm của giới trẻ về việc Mỹ thông qua luật hôn nhân đồng tính và Việt Nam hợp pháp hóa việc chuyển đổi giới tính.
Mô tả và phân tích cách chân thực và khách quan về nhận thức và thái độ của giới trẻ về hôn nhân đồng giới và
chuyển đổi giới tính đặt trong bối cạnh xã hội hiện nay.
Phân tích xu hướng nhận thức và đo lường thái độ thông qua việc đi tìm các mối tương quan giữa các biến độc lập
về nhân khẩu xã hội và các biến phụ thuộc trong nội hàm nhận thức, thái độ khi được thao tác hóa.
Nhận biết và phân tích các nhóm yếu tố tác động đến tiến trình nhận thức và thái độ của giới trẻ đối với vấn đề đã
nêu.
Giải thích vấn đề nghiên cứu bằng quan điểm lý thuyết đã lựa chọn.
Câu hỏi nghiên cứu
Dựa trên bối cảnh của vấn đề nghiên cứu, quá trình tổng quan tư liệu và từ những gợi ý của cơ sở lý thuyết, đề tài
nhằm đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Giới trẻ nói chung hiện nay có xu hướng nhận thức và thái độ như thế nào về vấn đề chuyển đổi giới tính và hôn nhân
đồng giới?

Luckmann); thứ hai, quá trình tổng quan tư liệu
từ các kết quả của các nghiên cứu khác ở trong và ngoài nước, hai cơ sở này sẽ được trình bày ở phần sau; thứ ba, việc
quan sát trong thực tế cho thấy nữ giới thường cởi mở hơn trong cảm xúc, người không có tôn giáo cũng cởi mở hơn trong
quan điểm về giới tính thứ ba, học vấn cao có nhận thức tốt hơn, có điều kiện tiếp cận thông tin nhiều hơn, tuổi trẻ có nhiều
trải nghiệm thực tế về giới tính nhiều hơn, cởi mở hơn và người xuất thân ở đô thị có cơ hội tiếp xúc với nhóm đối tượng
nghiên cứu hơn.
-

Giả thuyết 3: Truyền thông và nhóm bạn là các yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến nhận thức và thái độ của giới trẻ
về hôn nhân đồng tính và chuyển đổi giới tính.

Giả thuyết được đưa ra dựa trên quá trình tổng quan dữ liệu, từ việc tham khảo các kết quả nghiên cứu và cũng từ quan
sát trên thực tế, qua các diễn đàn của truyền thông qua Internet.
-

Giả thuyết 4: Các yếu tố như văn hóa xã hội, tôn giáo, gia đình và cộng đồng LGBT có tác động đến quá trình hình
thành và làm thay đổi các quan điểm nhận thức và thái độ đối với HNĐG và CĐGT.

Giả thuyết 4 dựa trên logic của lý thuyết Sự kiến tạo xã hội về thực tại của hai tác giả Berger và Luckman. Đây cũng
chính là cơ sở lý thuyết chính của nghiên cứu này. Đây là góc nhìn để giải thích và trả lời cho câu hỏi bằng cách nào mà
nhận thức về CĐGT và HNDG được hình thành, lưu giữ và thay đổi.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Nhận thức xã hội và thái độ của giới trẻ về hôn nhân đồng giới và chuyển đổi
giới tính.
Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu bao gồm các nhóm giới trẻ VN (tuổi từ 15 đến 35) bao gồm các nhóm giới tính: nam, nữ;
nhóm nghề: học sinh-sinh viên, nhóm đã đi làm; độ tuổi, quê quán, thời gian sống tại Tp.HCM...
Mẫu nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất bằng phương pháp định ngạch phân tầng theo các phân nhóm:


trang báo mạng, báo dành cho giới trẻ cũng giúp chúng tôi có những nguồn thông tin thứ cấp khá phong phú để phục vụ
cho việc thiết kế bảng hỏi chính thức. Lần thứ hai, phát bảng hỏi trực tiếp với hai nhóm chính là sinh viên và học sinh với
50 phiếu, đây là bảng hỏi được thiết kế hoàn thiện với mục đích kiểm tra các thang đo, công cụ đo lường và tính đáng tin
cậy của dữ liệu. Sau khi khảo sát thử hoàn thành, chúng tôi nhập dữ liệu và kiểm tra trên phần mềm SPSS, sau đó chỉnh sửa


lại bảng câu hỏi lần cuối trước khi tiến hành khảo sát chính thức.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý thuyết
Quan điểm lý thuyết sự kiến tạo xã hội về thực tại, khảo luận về xã hội học nhận thức
Xuyên suốt quan điểm lý thuyết này, Berger và Luckmann [21] tiến hành truy tìm cách thức mà thực tại xã hội
được kiến tạo nên. Theo tác giả, thực tại mà mỗi người chúng ta chứng kiến và trải nghiệm trong đời sống hàng ngày chính
là thực tại được kiến tạo về mặt xã hội (reality is socially constructer). Nếu thực tại là thực tại được kiến tạo về mặt xã hội
thì cái mà người ta biết trong đời sống thường nhật, tức là kiến thức đời thường cũng là cái được kiến tạo về mặt xã hội,
chính thứ kiến thức đời thường ấy cấu tạo nên thực tại của đời sống thường nhật.
- Xã hội xét như là một thực tại khách quan: Tác giả phân tích những nguồn gốc hình thành các thành tố của thực tại
này (như các định chế, các vai trò, truyền thông...) vốn xuất phát từ các tiến trình khách thể hóa của ý thức chủ

quan của các cá nhân trong một thế giới liên chủ thể (nói cách khác, thực tại khách quan là sản phẩm của sự khách
thể hóa của những tiến trình chủ quan); thực tại xã hội ấy được các cá nhân coi là thực tại mang tính chất khách
quan (họ lãnh hội nó như cái gì có thực, tự nó hiển nhiên, nằm bên ngoài ý thức của mình).

- Xã hội xét như là một thực tại chủ quan: Phân tích những tiến trình nội tâm hóa cái thực tại khách quan ấy nơi ý thức
cá nhân, tức là tiến trình biến những ý nghĩa đã được khách thể hóa về mặt xã hội thành ý nghĩa của cuộc đời chính
mình; đây cũng chính là những tiến trình xã hội hóa của từng cá nhân.
Tác giả cho rằng, đây không phải là hai thực tại khác nhau, mà là hai mặt của một thực tại, xét dưới hai góc nhìn
khác nhau. Nhằm tìm hiểu đặc trưng của mối quan hệ giữa cá nhân với xã hội, một lối tiếp cận độc đáo xuất phát từ cả quan
điểm của Durkheim lẫn quan điểm của Weber để có thể giải thích được tính chất lưỡng diện của xã hội về mặt kiện tính
khách quan và về mặt ý nghĩa chủ quan”. Câu hỏi được đặt ra là làm thế nào mà những ý nghĩa chủ quan có thể trở thành
những kiện tính khách quan? hay làm thế nào mà hoạt động của con người lại có thể sản xuất ra được một thế giới đồ vật?

điều này như một nỗ lực hòa hợp giữa hai trường phái lý thuyết chính của xã hội học) như một cách tiếp cận hỗn hợp (mix
method).
Một số khái niệm liên quan
Khái niệm nhận thức (cognition/ perception)
Theo Từ điển Xã hội học [5]: Nhận thức là quá trình của sự biết (suy nghĩ), đôi khi được dùng để phân biệt với cảm
nhận (cảm xúc) và ý chí (ý muốn) trong một cặp ba các quá trình tinh thần của con người. Tâm lý học nhận thưc, tập trung
vào việc sử dụng và xử lý thông tin (thường sử dụng các mô hình máy tính), hiện là tiếp cận chiếm ưu thế trong tâm lý học
hàn lâm, và nó đã thay thế cho những tiếp cận hành vi trước đây.
-

Sự nhất quán nhận thức (cognitive consistency) là sự trải nghiệm về những suy nghĩ, những thái độ hay hành động
theo những cách thức không mâu thuẫn nhau. Sự nhất quán của nhận thức đối lập với không nhất quán và cân bằng


đối lập với bất cân bằng, là những mặt đối lập đã được các nhà tâm lý học khai thác rộng rãi trong các phân tích về
sự thay đổi thái độ. Các lý thuyết gia giả thuyết con người luôn muốn có sự nhất quán trong nhận thức của mình, họ
lập luận rằng sự không nhất quán trong nhận thức là sự kết hợp sai lệch giữa các nhận thức- sẽ khiến người ta
không thấy thoải mái, và có thể gây ra sự thay đổi thái độ. Tuy nhiên, kết quả của sự thay đổi thái độ đó có thể bị
phủ nhận mà cũng có thể được biện minh.
-

Sự không hòa hợp trong nhận thức (cognitive dissonance): là một lý thuyết nhận thức quan trọng do Leon Festinger
đề xướng trong tác phẩm A theory of Cognitive Dissonance (Một lý thuyết về sự không hòa hợp trong nhận thức)
(1957). Lý thuyết này đưa ra những yếu tố cạnh tranh, mâu thuẫn hay đối lập nhau trong nhận thức và hành vi. Ông

cho rằng các cá nhân không tin tưởng vào những gì xuất phát từ nhu cầu logic bằng những gì xuất phát từ nhu cầu
tâm lý. Ông lập luận, trong khi cố đạt đến sự hài hòa và cân bằng, con người có bản năng hướng đến sự hòa hợp
giữa các nhận thức. Việc giảm bớt sự không hài hòa có thể diễn ra hoặc qua sự thay đổi trong hành vi hoặc qua sự
thay đổi trong thái độ. Lý thuyết này gần như mang tính lặp lại trong việc thừa nhận phải có nhu cầu bên trong nào
đó về sự hài hòa, và bị phê phán là quá mơ hồ, nhưng lại có ảnh hưởng hết sức to lớn.

huống, thiết chế hay một quá trình xã hội. Điều đó để biểu thị một giá trị hay niềm tin tiềm ẩn; hoặc đối với những người
cho rằng chỉ có thể phỏng đoán được thái độ thông qua hành vi quan sát được, thái độ là một xu hướng hành động theo một
cách thức nhất định (ít nhiều nhất quán) hướng tới các cá nhân và tình huống. Bao quát cả hai xu hướng này mô tả thái độ
là “một tổ chức niềm tin tương đối bền bỉ xung quanh một đối tượng hay một tình huống khiến người ta phản ứng lại theo
một kiểu ưu tiên nào đó” [5]
Quan hệ giữa thái độ và hành động là một trong những vấn đề gây tranh cãi lâu dài nhất trong nghiên cứu khoa học
xã hội. Có những hành vi nào ẩn chứa dưới những thái độ nhất định? Tranh luận này thường diễn ra giữa các nhà tâm lý
học xã hội và nó đã lên đến cực điểm trong sự “nhất trí chung rằng thái độ, dù được đánh giá như thế nào cũng chỉ là một

trong những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi” [42]. Tuy nhiên, Jean Nizet kết luận rằng “nói tóm lại, thái độ có những hàm ý
những hành vi đặc thù nào còn tùy thuộc vào từng hoàn cảnh, và vì thế đó là một vấn đề thực nghiệm”.
Định nghĩa hôn nhân đồng tính (same-sex marriage)

Theo Từ điển Tiếng Anh (Oxford English Dictionary/ Oxford University Press): Hôn nhân đồng tính (same-sex
marriage) là hôn nhân giữa hai người cùng giới tính được pháp luật và xã hội công nhận. Trong nghiên cứu này, khái niệm
HNĐG trong tiếng việt được hiểu như là Hôn nhân đồng tính.
Theo (An, 2015), hiện nay trên thế giới có 22 nước đã thông qua luật hôn nhân đồng tính, chúng tôi liệt kê theo
trình tự thời gian sớm nhất đến nay: Hà Lan (2001), Canada (2005), Tây Ban Nha (2005), Nam Phi (2006), Na Uy (2009),

Thụy Điển (2009), Bồ Đào Nha (2010), Iceland (2010), Argentina (2010), Đan Mạch (2012), Bỉ (2013), New Zealand
(2013), Uruquay (2013), Brazil (2013), Anh (2013), Pháp (2013), Scotland (2014), Luxembourg (2014), Slovenia (2015),
Phần Lan (2015), Ireland (2015) và Mỹ (2015) [1].
Ở Việt Nam hiện nay chưa có luật hôn nhân đồng tính, tuy nhiên hình thức sống chung như vợ chồng của các cặp
đồng tính đã xuất hiện trong những năm gần đây. Bên cạnh đó là có những đám cưới đồng tính cũng đã được tổ chức. Vì
vậy, khái niệm hôn nhân đồng giới ở Việt Nam được hiểu là quan hệ chung sống như vợ chồng giữa các cặp đồng giới tính.
Đây cũng là định nghĩa được đề tài sử dụng khi khảo sát và nghiên cứu.
Định nghĩa chuyển đổi giới tính (Transgender )
Hiện nay có nhiều định nghĩa về chuyển đổi giới tính và chưa có sự thống nhất. Trong đề tài này, định nghĩa chuyển

đổi giới tính được trích dẫn theo sự mô tả phân biệt với xác định lại giới tính của Viện iSEE (Phân tích chính sách: Pháp

cứu định lượng. Sau đó, tiến hành nghiên cứu định lượng bằng công cụ là bảng hỏi điều tra/khảo sát (survey research) xã

hội học để tìm hiểu, mô tả nhận thức và đo lường thái độ. Cuối cùng, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu (depth- interview)


một số trường hợp đại diện cho các nhóm giới trẻ VN. Dữ liệu định tính này không chỉ có ý nghĩa phân tích sâu, mà còn
giúp bổ sung và giải thích dữ liệu định lượng.
Trong quá trình tổng hợp và phân tích dữ liệu nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS để đưa ra kết quả

thống kê mô tả, thống kê suy diễn và mô hình thống kê cao cấp như mô hì nh phân tích nhân tố (EFA -Exploratory Factor

Analysis). Đối với các dữ liệu định tính, chúng tôi sử dụng phần mền Transana (Là phần mềm chuyên dùng hỗ trợ cho hoạt
động nghiên cứu trong nghiên cứu định tính với một số lượng lớn văn bản, hình ảnh, video hay các tập tin ghi âm, vui lòng
tham khảo thêm tại để hỗ trợ trong việc quản lý, tổng hợp và phân tích dữ liệu.
Khung phân tích
Qua việc thao tác hóa khái niệm, dựa trên cơ sở lý thuyết của đề tài và phương pháp nghiên cứu, khung phân tích
bên dưới được thiết kế dựa trên cơ sở lý thuyết và được giải thích như sau: Nhận thức và thái độ của giới trẻ về vấn đề
HNĐG và CĐGT được nghiên cứu đặt trong bối cảnh văn hóa, kinh tế xã hội nói chung và của VN nói riêng. Các yếu tố
tác động được chia làm hai nhóm, nhóm thứ nhất là các đặc điểm nhân khẩu, nhóm thứ hai là các đặc điểm xã hội, đây vừa
là các biến độc lập khi mô tả và phân tích tương quan, vừa là các đặc điểm nằm trong các yếu tố tác động đến nhận thức và
thái độ của giới trẻ đối với đối tượng nghiên cứu.


Hình 1.1: Khung phân tích
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Một mặt, đề tài vận dụng lý thuyết xã hội học và cách tiếp cận xã hội học để nghiên cứu khảo sát một vấn

đề thực tiễn trong xã hội. Trong đó, trường
phái lý thuyết về sự kiến tạo xã hội về thực tại trong khảo luận về xã hội học nhận thức cũng được áp dụng để lý giải các


Chương 1
NHẬN THỨC XÃ HỘI CỦA GIỚI TRẺ VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI VÀ
CHUYỂN ĐỔI GIỚI TÍNH
HNĐG và CĐGT không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là một tiến trình xã hội trên thế giới cũng như ở
VN. Vì vậy việc tìm hiểu nhận thức xã hội về vấn đề này là việc làm cần thiết. Trong phạm vi của nghiên cứu này,
chương này chúng tôi trình bày những mô tả, phân tích và kết quả nghiên cứu từ dữ liệu thu thập được về nhận thức xã
hội của giới trẻ đối với HNĐG và CĐGT. Tiếp đến là phần tiểu kết nhằm đúc rút lại những nôi dung quan trọng, những
kết luận có ý nghĩa.
Bố cục trình bày được chia làm ba phần: đặc điểm mẫu nghiên cứu; những vấn đề nhận thức khái quát về vấn đề
nghiên cứu; nhận thức về một số vấn đề cụ thể xung quanh vấn đề nghiên cứu. Xuyên suốt các phần trình bày ở chương
2, có một số các nhận định từ dữ liệu định tính được đưa vào nhằm minh họa và giải thích thêm cho các xu hướng được
kết luận từ dữ liệu định lượng, tuy nhiên các dữ liệu định tính này chỉ mang tính chất bổ sung thông tin.
Vì các bảng, biểu được trình bày trong luận văn hầu hết là các dữ liệu sơ cấp do chính người nghiên cứu thực
hiện điều tra trong năm 2016, vì thế chúng tôi không để nguồn ở mỗi bảng biểu, chúng tôi chỉ để nguồn đối với các
bảng biểu nào thuộc dữ liệu thứ cấp được tham khảo từ các nguồn tài liệu khác.
1.1.

Đặc điểm mẫu nghiên cứu của đề tài

1.1.1. Đặc điểm mẫu định lượng
Nhìn chung, có sự cân bằng nhất định về tỷ lệ giữa các giá trị trong các biến giới tính, nhóm nghề, xuất thân, niềm
tin và số năm sống tại Tp.HCM. Bên cạnh đó, vì những đặc điểm khách quan cũng như chủ quan đã dẫn đến có sự chênh
lệch tỷ lệ ở một số giá trị thuộc một vài biến số. Qua đó, bảng mô tả mẫu cho phép hình dung một bức tranh tổng thể về
mẫu nghiên cứu theo phương pháp định lượng của đề tài. Đây cũng đồng thời là các biến độc lập cho phép so sánh và đi
tìm mối tương quan với các biến phụ thuộc trong phạm vi nghiên cứu.
Bảng 1.1: Bảng mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu định lưựng


N % Tổn*%

Nhân viên
Đi tu
Tp, HCM
Các tỉnh thành khác
Có tôn giáo
Không tôn giáo

67 22,4
101 33,8
32 10,7
117 39,1 182 60,9
203 68,8
92 31,2

Số năm sống Dưới 5 năm Từ 5-10 năm Trên 10 94 33,1 60 21,1 130
tại Tp, HCM năm
45,8
Độc thân/chưa từng kết hôn

100,0
(299)
100,0
(293)

100,0
(299)
100,0
(299)
100,0
(295)

Quê quán cũng đảm bảo cân bằng giữa quê quán tại Tp.HCM và từ các tỉnh thành khác. Khía cạnh tôn giáo khá phong phú,
bao gồm có tôn giáo (tin TC, tin Phật) và không tôn giáo. Tình trạng hôn nhân chủ yếu là độc thân, cũng có trường hợp có
gia đình và tình trạng sống chung không hôn thú. về học vấn thuộc đủ các nhóm: THPT, CĐ/ĐH và sau đại học. Đặc biệt,


trong mẫu nghiên cứu có một trường hợp là người trong cuộc, từ đó giúp chúng tôi mở rộng hơn dữ liệu và có cái nhìn so
sánh đối chiếu ở một số khía cạnh nhất định. Nhìn chung, đặc thù của nghiên cứu định tính thể hiện rất rõ qua mẫu nghiên
cứu (tính chủ quan trong chọn mẫu, số lượng mẫu hạn chế...), tuy thế chúng tôi cố gắng đi tìm ý nghĩa và giải thích cho vấn
đề nghiên cứu ở những khía cạnh và góc nhìn khác nhau.

STT
PV1

Giới
tính
Nam

PV2

Nam

PV3
PV4
PV5

Nữ
Nữ
Nam

Bảng 1.2: Bảng mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu định tính

Thạc sĩ

Sống chung
không hôn thú
Có gia đình
Độc thân
Độc thân

Đại học

Độc thân

THPT

Trung cấp
Đại học
Thạc sĩ

Sự quan tâm của giới trẻ

Nhìn chung, giới trẻ quan tâm đến HNĐG và CĐGT (N HNĐG =299; NCĐGT =300), điều này thể hiện qua tỷ lệ quan
tâm lớn hơn tỷ lệ không quan tâm. Đối với HNĐG, tỷ lệ có và không quan tâm 61,9% và 38,1% tương ứng. Đối với CĐGT,
các tỷ lệ lần lượt là 57,3% và 42,7%. Bên cạnh đó, kết quả cũng cho thấy giới trẻ quan tâm đến HNĐG hơn CĐGT, điều
này thể hiện qua tỷ lệ có quan tâm đến HNĐG cao hơn CĐGT (61,9% và 57,3% tương ứng). Đặt sự so sánh với các biến
độc lập, chúng tôi tìm thấy sự khác biệt giữa các cặp biến sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status