Sáng kiến kinh nghiệm
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP. NHA TRANG
TRƯỜNG THCS LÝ THƯỜNG KIỆT
********************
ĐỀ TÀI:
LUYỆN NĨI CHO HỌC SINH TRONG MƠN NGỮ VĂN LỚP 8/1, 9/3
VÀ 9/5 Ở TRƯỜNG THCS LÝ THƯỜNG KIỆT - NHA TRANG QUA
THẢO LUẬN NHĨM VÀ TRỊ CHƠI
Giáo viên : Phan Huy Lương
Tổ
: Ngữ Văn
Năm học : 2014 - 2015
Giáo viên: Phan Huy Lương
Sáng kiến kinh nghiệm
Nhận xét, xếp loại
- Nhận xét: ……………………………..………………..……………………………………………
………………………………..……………………………………..…………………………………………
………………………………..………………………………………..………………………………..…..
……………………………..………………………………………..………………………………..……..
…………………………..……………………………………..………………….……………..……………..
…………………..………………………………………..………………………………..…………………..
……………..………………………………………..………………………………..………………………..
………..……………………………………..………………….…………….………………………………..
………………………………………..………………………………..………………………………..……..
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT.
SKKN:……………………..Sáng kiến kinh nghiệm.
GV:………………………...Giáo viên.
HS:…………………………Học sinh.
THCS:……………………..Trung học cơ sở.
TP:…………………………Thành phố.
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 1
Sáng kiến kinh nghiệm
LỜI GIỚI THIỆU
Luyện nói cho học sinh trong chương trình Ngữ Văn lớp 8/1,9/3 và 9/5
qua hoạt động nhóm và trò chơi đã có nhiều đề tài nghiên cứu. Do đặc thù của
phương pháp dạy học mới: lấy người học làm trung tâm nên tôi mạnh dạn
nghiên cứu về “Luyện nói cho học sinh trong môn Ngữ Văn lớp 8/1, 9/3và 9/5 ở
trường THCS Lý Thường Kiệt –Nha Trang qua thảo luận nhóm và trò chơi”
nhằm giúp GV có cái nhìn nhận mới về tiết luyện nói, qua đó có thể áp dụng
trong việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong trường THCS Thành phố Nha Trang
tỉnh Khánh Hòa. Sáng kiến bao gồm những nội dung sau:
Phần I: Đặt vấn đề.
Phần II: Giải quyết vấn đề.
+ Cơ sở lí luận của đề tài:
+ Thực trạng của đề tài.
+ Một số yêu cầu của tiết luyện nói.
+ Các biện pháp tiến hành:
+ Hiệu quả của đề tài.
là có khả năng, kĩ năng thích ứng với cuộc sống năng động trong xã hội hiện đại.
Có 4 kĩ năng: nghe – nói – đọc – viết trong bộ môn Ngữ văn thì kĩ năng nói là quan
trọng cần hình thành cho học sinh để các em hòa nhập với cuộc sống hiện đại.
Luyện nói trong nhà trường là để nói theo chủ đề, vấn đề không quen thuộc
trong đời sống hằng ngày, lại yêu cầu nói mạch lạc, liên kết không tùy tiện, do đó
cần phải luyện nói trong một môi trường giao tiếp khác, môi trường xã hội, tập thể
công chúng. Ngôn ngữ nói là phương tiện giao tiếp có âm thanh, có ngữ điệu sống
động, có sức truyền cảm trực tiếp, có sự biểu đạt của tư thế, nét mặt, âm lượng, có
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm
sự giao cảm trực tiếp giữa người nói với người nghe. Vì vậy hình thành được kĩ
năng này giúp cho các em có công cụ sắc bén trong giao tiếp xã hội.
b. Về thực trạng:
Khi tiến hành làm sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã xây dựng hệ thống câu
hỏi để đánh giá về sự phản ứng của học sinh trong tiết luyện nói thông qua hoạt
động nhóm và một số trò chơi cũng như làm thước đo về mức độ chuyển biến
của HS trước và sau khi áp dụng kiểu dạy học này. Dưới đây là tổng hợp kết
quả trắc nghiệm. Tôi dựa vào đó như một cơ sở cùng với quá trình thực dạy ở
lớp để đánh giá thực trạng dạy học tiết luyện nói lớp 8/1,9/3 và 9/5 ở trường
THCS Lý Thường Kiệt TP Nha Trang. Để trả lời cho các câu hỏi của bài nghiên
cứu đã được tôi đề cập ở trên, tôi đã chọn phương pháp điều tra thực nghiệm đối
với 87 học sinh lớp 8/1,9/3 và 9/5 ở trường THCS Lý Thường Kiệt –TP Nha
Trang với mục đích có thêm những ý kiến và những đóng góp cho việc áp dụng
phương pháp thảo luận nhóm và trò chơi trong tiết luyện nói Ngữ văn 8,9. Ở
phiếu điều tra, tôi đã đưa ra các đáp án lựa chọn khác nhau cho mỗi loại câu hỏi
-Sử dụng các dụng cụ trực quan sinh động,
máy chiếu, tranh ảnh, chuyện tranh
-Tổ chức các trò chơi đóng vai, đóng kịch,
thi hùng biện
-Tổ chức các buổi thảo luận
-Đáp án khác
Câu 4 : Em có thích tổ chức
thảo luận nhóm và các trò
chơi vào các tiết học luyện
nói không ?
Câu 5 : Nếu có, lý do em
thích những trò chơi trong
tiết rèn kĩ năng nói cho HS
môn Ngữ văn 8,9 là:
-Rất thích
-Được
Câu 6 :Theo em, nếu thầy,
cô áp dụng những trò chơi
như trên, những khó khăn mà
các em có thể gặp phải :
-Thiếu thời gian
-Thiếu cơ sở vật chất, không gian thực hành
trò chơi
-Sự thiếu nhiệt tình và sự rè rặt của các bạn
học sinh trong lớp.
-Lý do khác
KHÁ
TB
SL % SL %
11 37,9 19 65,5
9 31,0 13 44,8
7 24,1 15 51,7
27 31,0 47 54,0
Giáo viên: Phan Huy Lương
YẾU
SL
%
4
13,7
3
10,3
4
13,7
11 12,6
KÉM
SL %
TB
SL
%
25 86,2
26 89,6
thời gian, cơ sở vật chất của nhà trường cũng là một cản trở không hề nhỏ để
cho GV áp dụng phương pháp dạy học này.
Khi được hỏi Em thường xuyên gặp khó khăn trong việc học kĩ năng:
(Nghe, nói, đọc, viết). Thì có đến: 42/87 HS (48,4%) trả lời là kỹ năng viết;
53/87HS (61%) trả lời kỹ năng nói. Điều đó chứng tỏ kỹ năng nói của học sinh
chưa cao.
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 6
Sáng kiến kinh nghiệm
Học sinh khi chuẩn bị bài mới còn thụ động, làm việc đối phó, ít chuẩn bị
bài mới một cách chu đáo, ít chịu đọc thêm các tài liệu, sách tham khảo, và các
nguồn thông tin khác để bổ sung tri thức.
b, Về giáo viên:
Việc dạy và học hiện nay đã có cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên khó khăn chung
trong tiết luyện nói còn là vấn đề trăn trở của nhiều giáo viên. Nhiều giáo viên
cảm thấy giờ làm văn miệng còn tẻ nhạt và nhàm chán. Chỉ có giáo viên và học
sinh được “chỉ định” hoạt động còn đa phần “im lặng”, không chú ý và hứng thú
với giờ học. nội dung giờ làm văn miệng thường bị bỏ qua, thay vào đó là những
giờ làm văn viết kéo dài, hoặc có chăng chủ yếu cũng chỉ là việc đơn điệu, giáo
viên ra ,một đề bài, cho HS chuẩn bị 10-20 phút rồi gọi một đến hai HS lên trình
bày. HS nào nhận xét thì tốt, nếu không giáo viên cho dàn bài mẫu và kết thúc.
Sở dĩ tồn tại thực trạng trên vì giáo viên chưa nhận thức đúng tầm quan trọng và
đặc thù của giờ luyện nói.
So với làm văn viết, làm văn nói có những đực thù riêng.Thời gian cho
HS chuẩn bị tương đối ít. HS phải trực tiếp với một đối tượng giao tiếp trước
mặt, phải nói ngay sau khi suy nghĩ, đòi hỏi sự nhanh nhạy, llinh hoạt, cơ động
trong chọn từ, sắp xếp ý và diễn đạt trước bạn bè, thầy cô. Hơn thế nữa văn nói
sâu và hiểu được toàn diện hơn.
Hơn thế nữa HS học thụ động, thiếu sáng tạo và không biết cách tự học.
Từ đó HS thiếu hứng thú, đam mê, thiếu lửa trong học tập bộ môn. Để đạt hiệu
quả trong tiết luyện nói GV phải biết cách biến hóa, phối hợp và sử dụng linh
hoạt các biện pháp, hình thức tổ chức dạy học truyền thống với hiện đại.
I.2. Qua quá trình nghiên cứu, tôi đã tiến hành các phương pháp nghiên
cứu sau:
Phương pháp nghên cứu tài liệu: đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa
tài liệu, sách báo về vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ
cơ sở lí luận của đề tài.
Phương pháp quan sát: thông qua giảng dạy trực tiếp bộ môn ngữ văn 8,9
tại trường THCS Lý Thường Kiệt TP Nha Trang tỉnh Khánh Hòa, thông qua các
buổi sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn, dự giờ đồng nghiệp.
Phương pháp điều tra: để nắm được thực trạng vấn đề nghiên cứu một
cách khách quan, có hệ thống.
Phương pháp đàm thoại: trò chuyện, thăm dò ý kiến với GV, HS liên
quan đến dạy học nhóm và tổ chức trò chơi trong tiết luyện nói Ngữ văn 8,9.
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 8
Sáng kiến kinh nghiệm
I.3. Phạm vi đối tượng và kế hoạch nghiên cứu:
- Sỹ số 87 HS, trong đó lớp 8/1 (29HS) ; 9/3 (29HS) và lớp 9/5(29HS)
năm học 2014 - 2015 của trường THCS Lý Thường Kiệt TP Nha Trang tỉnh
Kháng Hòa.
- Thời gian nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm này bắt đầu từ ngày 10
tháng 9 năm 2014 đến ngày 21 tháng 4 năm 2015. Cụ thể như sau:
+Từ ngày 10-9-2014 đến ngày 15-10-2014: nghiên cứu hệ thống câu hỏi
Về lý thuyêt, luyện nói đã được hình thành ở lớp 6, 7 lên lớp 8,9 các em
có vốn kinh nghiệm và kĩ năng nói nhưng thực tế càng lên lớp trên các em càng
ngại nói, ngại phát biểu trước tập thể. Kết quả là ngay cả khi đã trưởng thành có
thể nắm giữ chức vụ quan trọng của một cơ quan nào đó, nhiều người vẫn ít khi
“dám nói” trước đám đông một cách mạnh dạn, tự tin mà tỏ ra xấu hổ, lúng
túng, trình bày lí nhí, lắp bắp trong cổ, hoặc nói không mạch lạc, rõ rang,…..Với
bất kì ngôn ngữ nào để phát triển một cách tự nhiên thì kĩ năng “nói” và “nghe”
luôn là kĩ năng cần hình thành sớm nhất trước cả kĩ năng “đọc” và “viết”.
Nhưng dường như chúng ta lại làm ngược quy luật của ngôn ngữ, chú trọng đọc,
viết trước, nghe, nói sau.
Qua những năm thực hiện chương trình thay sách giáo khoa, ở bộ môn Ngữ
văn, tiết dạy “Luyện nói” mặc dù nhiều giáo viên cũng đã cố gắng hết sức nhưng
cũng ít người thành công qua tiết dạy. Bởi vì kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng nói
cho học sinh chưa nhiều so với rèn luyện kỹ năng viết. Học sinh không tự tin khi
nói trước đám đông. Thời gian luyện nói lại có hạn (45 phút) không tạo được điều
kiện cho tất cả học sinh được nói. Và sách giáo viên cũng chưa có hướng dẫn cụ
thể cho việc dạy rèn luyện kỹ năng nói. Do vậy mà trong một tiết luyện nói chỉ tập
trung vào những em khá, giỏi, chăm còn những học sinh lười sẽ thụ động, không
phát huy được. Dù có hoạt động thảo luận nhóm thì những em yếu cũng ngồi im.
Kết quả yếu vẫn yếu, lười vẫn lười. Tâm lý chung, giáo viên rất ngại dạy tiết
luyện nói, nhất là trình độ học sinh ở vùng ven biển như HS trường THCS Lý
Thường Kiệt thì kĩ năng nói sẽ không được phụ huynh quan tâm nhiều. So với
yêu cầu của phương pháp dạy mới và những định hướng của sách giáo viên thì
tiết dạy “luyện nói” và hoạt động nói của học sinh qua tiết dạy còn nhiều lúng
túng chưa đạt yêu cầu.
Trong thực tế giảng dạy ở trường thuộc địa bàn ven biển, đa số học sinh
chưa có kỹ năng nói trước tập thể, rất ngại nói, không tự tin khi nói trước đông
người. gia đình chưa thật sự quan tâm đến học tập của con em.
Giáo viên: Phan Huy Lương
tiếp (Nói trong hoàn cảnh nào ?); xác định mục đích giao tiếp (Nói để làm gì ?);
cách thức giao tiếp (Nói cho thuyết phục người nghe); nói cho có hiệu quả (Phải
thu thập, lựa chọn điều cần nói); tạo tâm thế vững vàng khi nói: Tự tin, mạnh dạn;
Tác phong tự nhiên, giọng rõ ràng quán xuyến người nghe; Yêu cầu tập thể lớp chú
ý lắng nghe, theo dõi ghi chép, nhận xét.
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 11
Sáng kiến kinh nghiệm
b. Hướng dẫn học sinh soạn bài trước ở nhà:
Mỗi em đều phải soạn bài vào vở bài tập của mình ở nhà. Tới lớp, trước
khi tiến hành luyện nói, lớp trưởng kiểm tra việc soạn bài của lớp thông qua tổ
trưởng, nhóm trưởng, sau đó báo cáo cho giáo viên. Giáo viên nên kiểm tra lại
khoảng từ năm đến mười em.
c. Tổ chức triển khai thực hiện giờ luyện nói trên lớp:
Bước 1: Kiểm tra khâu chuẩn bị ở nhà của học sinh.
Bước này giáo viên phải đặc biệt chú ý, không thể bỏ qua hay lơ là được vì
đây là cơ sở cho tiết luyện nói. Mặt khác, kiểm tra chặt chẽ khâu chuẩn bị ở nhà sẽ
tạo thói quen học tập, tự giác cho học sinh và có biện pháp kịp thời đối với những
học sinh yếu hoặc lười học.
Bước 2: Thống nhất lại dàn bài chung.
Phần này giáo viên không đi lại từng bước nhỏ như phần chuẩn bị bài vì sẽ
mất thời gian. Giáo viên chỉ đưa ra những câu hỏi, những vấn đề có tính chất giải
đáp vướng mắc mà các em gặp phải trong phần chuẩn bị bài. Trên cơ sở đó, xây
dựng dàn bài chung làm yêu cầu về kiến thức để đánh giá nội dung bài nói của học
sinh. GV cũng cần nhắc lại lý thuyết mà bài nói cần tuân thủ.
Bước 3: Yêu cầu cho bài nói của học sinh.
Giáo viên nêu yêu cầu luyện nói chung để học sinh rõ (chỉ áp dụng cho tiết
không có sự nhận xét, đánh giá, góp ý của thầy cô, bạn bè thì tiết luyện nói sẽ phản
tác dụng. Trong tiết luyện nói, học sinh giữ vai trò chủ động, tích cực thì giáo viên
phải thể hiện rõ vai trò của người chủ đạo, hướng dẫn. Trong tiết luyện nói người
giáo viên thực sự trở thành một người dẫn chương trình gần gũi và thân mật với
học sinh thì sẽ nâng cao hiệu quả tiết học.
Hướng dẫn học sinh theo dõi, nhận xét, đánh giá từng phần, từng nội dung
cụ thể.
Giáo viên tổng hợp ý kiến từ học sinh, chỉ ra ưu điểm và những điểm
chưa tốt cũng như mặt mạnh, mặt yếu của từng em để kịp thời phát huy và sủa
chữa, uốn nắn.
Lời đánh giá của giáo viên phải chính xác, rõ ràng, nhẹ nhàng, tế nhị; luôn
tạo không khí thân ái, gần gũi để học sinh trao đổi, trình bày ý kiến của mình được
tự nhiên hơn. Giáo viên nên chọn ưu điểm nổi bật của từng học sinh và căn cứ theo
từng mức độ: giỏi, khá, trung bình, yếu mà tuyên dương, động viên, khuyến khích.
Nhất là sự tiến bộ của học sinh yếu (dù chỉ là sự tiến bộ rất nhỏ). Vì lời khen của
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm
giáo viên không chỉ là động lực thúc đẩy sự cố gắng phấn đấu của học sinh mà còn
là đòn bẩy, thúc đẩy giờ luyện nói thành công.
Tóm lại tuỳ thuộc vào điều kiện, mức độ của từng lớp, hoạt động của giờ
luyện nói có thể có những hình thức khác nhau. Hình thức rất phong phú đa dạng.
Điều quan trọng là phải nắm vững đặc trưng giờ luyện nói để đảm bảo yêu cầu một
giờ học Ngữ văn trong nhà trường THCS.
4. Các biện pháp tiến hành:
4.1. Luyện nói cho HS trong môn ngữ văn lớp 8/1, 9/3 và 9/5 ở trường
Không nên chia nhóm lẻ.Nếu vấn đề đặt ra trong bài học không nhiều,
giáo viên có thể cho hai nhóm cùng thảo luận một vấn đề. Nhưng sau đó giáo
viên có thể linh hoạt cho nhóm này báo cáo, nhóm kia đặt ra câu hỏi phản biện.
Vì thế, ngoài việc phải năng động, tích cực, các em cần được hướng dẫn
cụ thể trước khi tiến hành thảo luận và ngay cả khi chuẩn bị soạn bài ở nhà trong
tiết học trước.
4.1.2. Một số kỹ thuật dạy học khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm:
a. Kỹ thuật XYZ (Còn gọi là kỹ thuật 635)
Kỹ thuật XYZ là một kỹ thuật làm việc nhóm nhằm phát huy tính tích
cực của mỗi thành viên trong nhóm, trong đó mỗi nhóm có X thành viên, mỗi
thành viên cần đưa ra Y ý kiến trong khoảng thời gian Z. Mô hình thông thường
mỗi nhóm có 6 thành viên, mỗi thành viên cần đưa ra 3 ý kiến trong khoảng
thời gian 5 phút, do vậy, kỹ thuật này còn gọi là kỹ thuật 635.
Dụng cụ:
Giấy bút cho các thành viên.
Thực hiện:
Giáo viên chia nhóm, giao chủ đề cho nhóm, quy định số lượng ý tưởng
và thời gian theo đúng quy tắc XYZ.
Các thành viên trình bày ý kiến của mình, hoặc gởi ý kiến về cho thư ký
tổng hợp, sau đó tiến hành đánh giá và lựa chọn, sắp xếp thành dàn ý một đoạn,
một bài văn nói phù hợp.
Lưu ý:
Số lượng thành viên trong nhóm nên tuân thủ đúng quy tắc để tạo tính tương
đồng về thời gian, giáo viên quy định thời gian và theo dõi thời gian cụ thể.
Ưu điểm:
Có yêu cầu cụ thể nên buộc các thành viên đều phải làm việc, ai cũng phải
đưa ra ý kiến, nói trước nhóm để thư kí tổng hợp.
Hạn chế:
Giáo viên: Phan Huy Lương
Dụng cụ:
Hoạt động này phát triển kỹ năng nghe và nói nên không cần thiết sử
dụng các dụng cụ hỗ trợ.
Thực hiện:
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 16
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi mở, dành thời gian để học sinh
suy nghĩ. Sau đó học sinh thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận,
phân loại.
Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp.
Lưu ý:
Điều quan trọng là người học chia sẻ được cả ý tưởng mà mình đã nhận
được, thay vì chỉ chia sẻ ý kiến cá nhân. Giáo viên cần làm mẫu hoặc giải thích.
Ưu điểm:
Thời gian suy nghĩ cho phép học sinh phát triển câu trả lời, có thời gian
suy nghĩ tốt, học sinh sẽ phát triển được những câu trả lời tốt, biết lắng nghe,
tóm tắt ý của bạn cùng nhóm.
Hạn chế:
Học sinh dễ dàng trao đổi những nội dung không liên quan đến bài học do
giáo viên không thể bao quát hết hoạt động của cả lớp.
d. Sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép có thể sử dụng màu sắc và hình
ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, ý tưởng
được liên kết, do vậy bao quát được phạm vi sâu rộng.
Dụng cụ:
Bảng lớn, hoặc giấy khổ lớn, bút càng nhiều màu càng tốt, có thể sử dụng
gì ?); cách thức giao tiếp (Nói cho thuyết phục người nghe); nói cho có hiệu quả
(Phải thu thập, lựa chọn điều cần nói)
b. Chia nhóm:
Có nhiều loại nhóm: theo bàn, nhóm cùng sở thích, nhóm cùng màu sắc,
nhóm cùng ngày sinh, nhóm 4 người, 6 người….
c.Giao nhiệm vụ nhóm:
Một số trường hợp tổ chức thảo luận nhóm không thành công, trong đó
nguyên nhân chính thường do giao nhiệm vụ không rõ ràng, phân công không
hợp lí. Nhiệm vụ được giao thì quá nhiều trong khi thời gian để làm thì quá ít.
Trong những lần như thế, thảo luận nhóm đa phần chỉ mang hình thức đối phó,
không có giá trị thiết thực.
Vì thế, khi tổ chức chia nhóm, cần chú ý giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi
nhóm, nhất là các thành viên trong nhóm. Mỗi nhóm phải có thư kí để tổng hợp
ý kiến của các thành viên trong nhóm. Học sinh được giao nhiệm vụ này phải là
những học sinh khá – giỏi, tích cực, năng động, có khả năng tổng hợp và trình
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 18
Sáng kiến kinh nghiệm
bày vấn đề trước tập thể. Đây là kỹ năng quan trọng cần được rèn luyện thường
xuyên. Kỹ năng này rất có ích cho các em sau này khi bước vào đời. Vì thế, giáo
viên cũng nên tạo cơ hội cho tất cả được thử sức, không nên quá tập trung vào
một số em.
Ví dụ LỚP 8: Tiết: 54
LUYỆN NÓI: THUYẾT MINH VỀ MỘT THỨ ĐỒ DÙNG
Chia nhóm thảo luận theo kỹ thuật XYZ kết hợp kỹ thuật “ khăn trải bàn”.
Tìm hiểu Lập dàn ý cho đề văn thuyết minh về cái phích nước:
-Kỹ thuật XYZ: Trong đó mỗi nhóm có X thành viên, mỗi thành viên cần
- Xuất xứ của phích nước.
- Hình dáng, cấu tạo.
- Cách sử dụng.
- Cách bảo quản.
- Lợi ích.
?Các em đã chuẩn bị đề bài này ở nhà. Vậy hãy cho thầy biết xuất xứ
ra đời của cái phích nước?
? Qua quan sát phích nước, em hãy trình bày những hiểu biết của em
về hình dáng và cấu tạo của nó?
Hình dáng, kích cỡ phích nước có nhiều loại khác nhau nhưng nhìn
chung chúng thường có hình trụ.
Cấu tạo gồm cấu tạo trong và cấu tạo ngoài.
Cấu tạo bên ngoài của phích nước gồm vỏ phích , quai cầm, tay xách và
nắp phích.
Nhóm 3:
? Bằng kinh nghiệm của mình, em hãy cho biết cách sử dụng và cách
bảo quản phích nước?
- Muốn phích giữ được nước nóng lâu hơn, ta không nên rót đầy, chừa
một khoảng trống giữa nước sôi và nút phích để cách nhiệt vì hệ số truyền nhiệt
của nước lớn hơn không khí gần 4 lần.
- Nếu nhà có trẻ cần để phích vào những nơi kín đáo, xa tầm tay trẻ nhỏ
để đảm bảo an toàn.…..
? Theo em phích nước có những lợi ích, công dụng nào?
Nước nóng được chứa trong phích để pha trà, pha sữa, pha cà phê…
Cuộc sống vốn bận rộn, tiết kiệm thời gian là một tiêu chí cần thiết của mỗi
người
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 20
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 21
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên giới thiệu vấn đề, đặt câu hỏi mở, dành thời gian để học sinh
suy nghĩ. Sau đó học sinh thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận,
phân loại.
Nhóm đôi này lại chia sẻ tiếp với nhóm đôi khác hoặc với cả lớp.
+ Nhóm 1( nhóm lớn 4 người): thảo luận nhóm phần - Mở bài : giới
thiệu tác giả, tác phẩm
-Nhóm đôi 2 HS: Giới thiệu tác giả : Thanh Hải một nhà thơ cách mạng,
suốt đời cống hiến cho sự nghiệp chung của Tổ quốc
- Nhóm đôi 2 HS: Giới thiệu bài thơ : Bài “Mùa xuân nho nhỏ” được
viết vào tháng 11-1980 lúc tác giả đang nằm trên giường bệnh, tác giả nguyện
góp “Mùa xuân nho nhỏ” vào mùa xuân lớn của đất nước
B- Thân bài :
+Nhóm 2: thảo luận nội dung:? Cảm nhận về mùa xuân
Cảm nhận về mùa xuân:
Nhóm đôi 2 HS:
- Ở vẻ đẹp : “Dòng sông xanh”, “bông hoa tím”
- Ở niềm vui : Tiếng chim hót vang, một bức tranh xuân sinh động như
khúc hát mùa xuân
Nhóm đôi 2 HS - Cảm xúc về mùa xuân : tiếng chim hót – từng giọt –
đưa tay hứng.
+Nhóm 3:- Nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng mùa xuân đất nước
Nhóm đôi 2 HS - “Người cầm súng”, làm nhiệm vụ bảo vệ đất nước
trong vòng lá ngụy trang
- “Người ra đồng”làm nhiệm vụ sản xuất xây dựng đất nước
Khi kết thúc quá trình thảo luận, mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quả
thảo luận của nhóm. Thường, công việc này do thư kí nhóm trình bày. Tùy vào
điều kiện, giáo viên có thể cho các nhóm tham gia phản biện. Khi ấy, giáo viên
chính là trọng tài có nhiệm vụ dẫn dắt, định hướng vào đề tài, tránh lệch hướng.Điều
cần chú ý, tất cả các nhóm phải được trình bày kết quả thảo luận của mình. Không
nên vì sợ mất thời gian mà cắt phần trình bày của nhóm khác. Nhóm còn lại, hoặc
tiết sau trình bày hoặc tự rút kinh nghiệm từ các nhóm trước.
f.Tổng kết đánh giá
Giáo viên nên cho các nhóm tự đưa ra lời nhận xét, đành giá lẫn nhau,
nhận xét cụ thể, khách quan. Chú ý hướng dẫn các em nhận xét về: nội dung
trình bày được chính xác theo yêu cầu chưa, tác phong nói trước lớp: cử chỉ, nét
mặt, ánh mắt, lời nói có mạch lạc, thu hút người nghe không, biểu cảm trên
Giáo viên: Phan Huy Lương
Trang 23