Sáng kiến kinh nghiệm một số kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 9 ở trường PTDT nội trú eakar - Pdf 35

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐẮK LẮK
Trường PTDT Nội Trú Eakar
=======  =======

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG HỌC
SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN LỚP 9 Ở
TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ EAKAR

Người thực hiện: Trần Thị Hiên
Môn:Ngữ văn
Năm học:2014 – 2015

Eakar, tháng 2 năm 2015


PHẦN PHỤ LỤC
STT
1
2
3

ĐỀ MỤC
A
I
II

NỘI DUNG
Phần mở đầu
Lý do chọn đề tài
Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

7

B

Phần nội dung

4

8

I

Cơ sở lí luận

4

9

II

Thực trạng vấn đề

5

10

III

Giải pháp, biện pháp


Tài liệu bồi dưỡng

7

15

c

Nội dung, phương pháp bồi dưỡng

8

16

d

Tham khảo đề thi

25

17

e

Ấn định thời gian làm bài

26

18


22

II

Kiến nghị

27

2


A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Như chúng ta đã biết, Văn học là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, có vai trò
khá quan trọng trong việc dạy và học trong nhà trường. Sách có câu “ Văn học là nhân học”.
Học văn không chỉ đơn thuần là học để biết chữ mà học văn còn là học cách làm người, nó góp
phần quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Từ đó các em
có niềm tin vào cuộc sống, trang bị cho các em vốn sống để biết phản ánh cuộc sống, hướng các
em tới đỉnh cao của cái đẹp.
Nhiệm vụ của người giáo viên dạy Văn nói chung là phải làm cho học sinh hiểu được cái
hay cái đẹp cuả văn học, tạo ra được những rung động thẩm mỹ, biết liên hệ với thực tế cuộc
sống, biết đặt vấn đề trong thực tế của cuộc sống chung và riêng.... Đặc biệt là một giáo viên dạy
Văn ở trường PTDT Nội trú, ngoài việc dạy chữ, người giáo viên cần kết hợp để giúp các em
hòa nhập vào cuộc sống chung . Từ đó, góp phần bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, biết gắn kết nội
dung bài học với thực tiễn cuộc sống nhằm cung cấp và mở rộng những hiểu biết cho học sinh
về những vấn đề gần gũi, bức thiết đang diễn ra trong cuộc sống xã hội hiện tại, tăng cường ý
thức của học sinh với cộng đồng xã hội.
Việc dạy học Văn thông thường đã quan trọng như vậy rồi thì việc bồi dưỡng học sinh giỏi
môn Văn lại càng quan trọng gấp bội. Bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm của ngành giáo dục đào tạo. Việc bồi dưỡng HSG, góp phần vào việc đào tạo nhân

lớp 9 ở trường PTDT Nội trú , hy vọng sẽ giúp các đồng nghiệp có thêm kỹ năng tổ chức các
phương pháp bồi dưỡng cho từng bộ môn của mình.

III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Một số kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 ở trường PTDT Nội trú
Eakar.

IV. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Qua các năm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp 9 tại trường PTDT Nội trú Eakar
( từ năm 2011 -2015).

V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trong quá trình viết sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã vận dụng rất nhiều phương pháp, tiêu
biểu là các phương pháp sau:
1/ Phương pháp điều tra.
Tôi đã điều tra , tìm hiểu niềm yêu thích môn Văn cũng như năng khiếu viết Văn của các em
học sinh trong từng khối lớp.
2/ Phương pháp đối chứng.

4


So sánh, đối chiếu kết quả trước khi vận dụng biện pháp theo kinh nghiệm của tôi với sau khi
vận dụng kinh nghiệm này.
3/ Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Sưu tầm và nghiên cứu các tài liệu có liên quan: Sách giáo khoa, Sách giáo viên, Sách tham
khảo, văn bản và tài liệu có liên quan. Đặc biệt là các văn bản, tài liệu về đổi mới phương pháp
dạy học theo hướng tích cực và tài liệu chuẩn kiến thức - kĩ năng, sách nâng cao môn Ngữ văn
các khối lớp.
Học hỏi, trao đổi cùng đồng nghiệp thông qua dự giờ dạy, tiết dạy tốt.

Vậy nên, với đề tài này, tôi mạnh dạn đưa ra những suy nghĩ của mình với mong muốn thiết tha
là được trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp, chia sẻ, học tập lẫn nhau để cùng tiến bộ; góp
phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và hiệu quả học tập của học sinh nói chung và
việc nâng cao chất lượng mũi nhọn môn Ngữ văn nói riêng. Đó cũng là nội dung, mục đích
hướng tới của sáng kiến kinh nghiệm này.

II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
1. Thuận lợi:
- Đối với nhà trường: Yếu tố khách quan ảnh hưởng tích cực đến vấn đề liên quan là Ban giám
hiệu, lãnh đạo nhà trường có sự quan tâm, động viên đúng mức, có kế hoạch kịp thời, phù hợp
và chi tiết đến công tác bồi dưỡng học sinh giỏi; đồng nghiệp nhiệt tình, hỗ trợ đắc lực trong
giảng dạy. Thư viện đáp ứng đầy đủ tài liệu tham khảo, thiết bị dạy học và giáo cụ trực quan cho
việc giảng dạy
- Đối với giáo viên: Là một giáo viên nhiệt tình và tâm huyết, tôi thường xuyên nghiên cứu
giảng dạy, dành nhiều thời gian để suy ngẫm về chuyên môn, về tính hiệu quả của giờ lên lớp,
đặc biệt là giờ dạy bồi dưỡng học sinh giỏi. Bản thân tích cực chịu khó trao đổi với đồng nghiệp
trong và ngoài trường để học hỏi và rút ra được những kinh nghiệm cần thiết áp dụng vào quá
trình bồi dưỡng. Vì thế qua từng năm công tác, kinh nghiệm giảng dạy cũng được tích luỹ phong
phú hơn.
- Đối với học sinh: Với đặc thù là trường Nội trú, đầu vào phải được tuyển chọn nên phần lớn
học lực của các em cũng ở mức độ trung bình khá, cũng có những em có chất lượng học tập rất
khá. Đặc biệt, môn Văn là môn học lợi thế của một số em học sinh dân tộc phía Bắc. Vả lại, các
em được ăn ở tại trường nên có nhiều thời gian để các em học tập và trao đổi với bạn bè, thầy
cô.
2. Khó khăn:
Đặc thù của trường PTDT Nội trú là trường chuyên biệt. Sỉ số học sinh quá ít, cả trường chỉ
có 4 lớp với sỉ số chỉ hơn 150 học sinh ( 1 lớp 9 chỉ có 35- 38 em), trong đó 100% là học sinh
dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa, khả năng nhận thức, tiếp thu của phần lớn học sinh còn rất
nhiều hạn chế, các em còn ảnh hưởng nặng tập quán của địa phương nên sống khép mình, ngại
6

vật, cùng vui buồn, sướng khổ với các nhân vật ...Thế giới hình tượng, tiếng lòng của nghệ sĩ
qua đó như khơi dậy, khích lệ các em từ năng khiếu văn chương đến năng khiếu sáng tạo. Từ đó
các em biết liên hệ với cuộc sống để hiểu thế giới thực tại xung quanh và biết cách sống tốt đẹp
hơn.
7


Để làm được việc đó thì việc vận dụng những phương pháp dạy học phù hợp trong giảng
dạy môn Ngữ văn nói chung và việc bồi dưỡng học sinh giỏi để phát huy năng khiếu cảm thụ
văn chương nói riêng ở trường PTDT Nội trú Eakar có ý nghĩa to lớn. Nó góp phần nâng cao
chất lượng bộ môn và năng lực giảng dạy của người giáo viên, cũng như nhằm nâng cao chất
lượng mũi nhọn môn Văn. Nhưng muốn bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi đạt kết quả cao, theo
tôi cần phải chú ý đến rất nhiều yếu tố: đó là sự chỉ đạo kịp thời, sát sao, sự quan tâm sâu sắc từ
phía Ban giám hiệu và các tổ chức trong nhà trường ; là sự ủng hộ, tạo điều kiện của gia đình
học sinh, của giáo viên chủ nhiệm... và quan trọng nhất vẫn là hai yếu tố giáo viên đứng lớp và
học sinh. Biết rằng phương pháp để tiếp nhận và tìm hiểu văn học vô cùng phong phú, khó có
thể nói hết được. Mỗi giáo viên bồi dưỡng và người tìm hiểu văn học đều có góc nhìn và cảm
nhận riêng. Song trong khuôn khổ đề tài này, tôi chỉ xin tập trung vào những việc mà bản thân
tôi đã và đang làm cũng như những điều tôi chiêm nghiệm được qua thực tiễn đào tạo, bồi
dưỡng học sinh giỏi.
2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
a. Giáo viên quan sát và định hướng đối tượng cần bồi dưỡng:
Làm bất cứ công việc gì cũng đều gặp phải những khó khăn, trở ngại nhất định. Để công
sức bồi dưỡng bỏ ra không bị uổng phí và có được “sản phẩm” chất lượng cao thì nhất thiết giáo
viên cần có sự chuẩn bị kĩ lưỡng, cần phát huy cao độ ý thức, tinh thần trách nhiệm với công
việc! Như đã nói ở trên, những giáo viên tham gia bồi dưỡng thường chỉ dạy các em trong một
hoặc hai năm học, hơn nữa thời gian bồi dưỡng vốn không nhiều lại bị hạn chế bởi thời gian dạy
và học chính khóa trên lớp và các hoạt động phong trào chung của trường lớp. Đó là những khó
khăn lớn nhất thường gặp phải khi tiến hành bồi dưỡng.
Nhằm khắc phục khó khăn đó, trong nhiều năm tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi, bản

Khi dạy học sinh thực hành tạo lập bài văn “Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý”,
tôi thấy kiểu bài văn này liên quan đến rất nhiều câu tục ngữ, thành ngữ, ca dao. Bởi thế, nếu
học sinh không nắm vững, hiểu sâu về chúng thì khó có thể viết được bài văn. Căn cứ vào điều
này, tôi cho học sinh đọc cuốn “Từ điển thành ngữ, tục ngữ, ca dao Việt Nam”.
Ngoài việc nắm và cảm thụ tác phẩm văn học, học sinh còn cần phải đọc các cuốn sách
bài văn hay, sách bình giảng văn học, sách nghiên cứu lý luận phê bình về văn học mới thực sự
có điều kiện thâm nhập một cách đầy đủ về tác phẩm đó. Chẳng hạn khi cần nghị luận về bài thơ
“Viếng lăng Bác” (Viễn Phương), giáo viên không thể không hướng dẫn học sinh đọc thêm tập
thơ “Như mây mùa xuân”(Thanh Hải), “Theo chân Bác” (Tố Hữu) và một số tài liệu khác có
liên quan.
9


Thực tế cho thấy rằng nếu không đọc hoặc đọc ít là một hạn chế rất lớn không tránh khỏi
đối với một học sinh giỏi. Đọc nhiều, đọc rộng sẽ phát huy được nhiều mặt tích cực, nhất là ở
những học sinh có ít nhiều năng khiếu văn chương . Việc đọc tác phẩm văn học và các tài liệu
nghiên cứu phê bình văn học là một họat động cực kỳ quan trọng trong yêu cầu của công tác bồi
dưỡng. Giáo viên đặc biệt phải hết sức quan tâm đối với học sinh và phải có cách đôn đốc nhắc
nhở, kiểm tra học sinh để các em có được những kiến thức cần thiết trong quá trình làm bài. Nếu
học sinh chưa có ý thức đọc theo hướng dẫn thì giáo viên bồi dưỡng phải kiên quyết yêu cầu học
sinh đọc. Có kiến thức văn học phong phú, vững vàng là cơ sở và nền tảng đầu tiên để học sinh
viết một bài văn tốt.
c. Giáo viên phải tự lập kế hoạch, tự tìm tòi nội dung và phương pháp bồi dưỡng làm sao
cho có hiệu quả.
Quỹ thời gian bồi dưỡng chính thức vốn không nhiều, điều trước tiên khi bắt tay vào việc
bồi dưỡng chính thức, giáo viên cần tham mưu với chuyên môn nhà trường để sắp xếp thời gian,
lên thời khóa biểu bồi dưỡng một cách khoa học nhất, hiệu quả nhất. Trong các năm qua, ngoài
thời gian quan sát lựa chọn đội tuyển học sinh giỏi, quỹ thời gian (hơn 4 tháng) ngoài các buổi
bồi dưỡng trên lớp, giáo viên hướng dẫn học sinh đọc tài liệu tham khảo, làm các bài tập mà
giáo viên yêu cầu.

6,7):
TT Phép tu từ

Đặc điểm

1

đối chiếu sự vật, sự làm tăng sức gợi - So sánh ngang bằng
việc này với sự vật, sự hình, gợi cảm cho - So sánh không ngang

So sánh

Công dụng

việc khác có nét tương sự diễn đạt.

Các kiểu

bằng.

đồng.

2

Nhân hóa

Gọi hoặc tả con vật,
cây cối, đồ vật,…bằng
những từ ngữ vốn được
dùng để gọi hoặc tả con


Gọi tên sự vật, hiện Tăng sức gợi hình, - Lấy bộ phận để gọi cho
tượng này bằng tên sự gợi cảm cho sự diễn toàn bộ
4

Hoán dụ

vật, hiện tượng khác có đạt.

- Lấy vật chứa đựng để

quan hệ gần gũi với nó.

nói vật bị chứa đựng
- Lấy dấu hiệu để gọi vật
có dấu hiệu
- Lấy cái cụ thể để gọi cái

trừu tượng
Cách lặp đi lặp lại một Làm nổi bật ý, gây - Điệp ngữ cách quãng
5

Điệp ngữ

từ, một ngữ hay cả một cảm xúc mạnh

- Điệp ngữ nối tiếp

câu.



Thâm niên kín cổng cao tường,
Cạn dòng lá thắm đứt đường chim xanh.
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
=> Điển tích, điển cố: “lá thắm” biểu thị duyên vợ chồng không hẹn mà nên. “Chim xanh” biểu
thị người đưa tin.
+ Từ Hán Việt:
Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương ...
( Thăng Long thành hoài cổ - Bà Huyện Thanh Quan)
=> Từ Hán Việt: tạo hóa, hí trường, tinh sương, xe, thu thảo, lâu đài, tịch dương làm cho đoạn
thơ trang trọng, thanh nhã về màu sắc biểu cảm; trang nghiêm, cổ kính về về màu sắc phong
cách.
+ Thành ngữ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non ...
( Bánh trôi nước – Hồ Xuân Hương)
=> Thành ngữ “bảy nổi ba chìm” làm cho câu thơ ngắn gọn, súc tích và có tính hình tượng, tính
biểu cảm cao về cuộc đời và thân phận khổ đau của người phụ nữ xưa.
- Biện pháp tu từ ngữ nghĩa:
+ Ẩn dụ:
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngắt
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh.
( Màu thời gian – Đoàn Phú Tứ)
13


Áo em say đắm một màu nhớ thương
Áo em ngày nhớ đêm thương
Áo em chín nhớ mười thương anh chờ.
(Cao dao)
14


=> Sự lặp đi lặp lại hình ảnh “áo em” nhấn mạnh tình cảm đắm say của nhân vật trữ tình “anh”
(điệp ngữ cách quãng).
+ Tăng cấp, liệt kê:
Chao ôi, dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ, dì thổ ra
nước mắt.
(Nam Cao)
=> Tiếng khóc của dì Hảo được Nam Cao miêu tả thật ấn tượng qua biện pháp liệt kê, tăng cấp.
+ Chơi chữ:
Chồng chổng chồng chông
Chồng bát chồng đĩa nuôi hông cũng chồng.
(Ca dao)
=> Lời than thở của người phụ nữ về đức ông chồng vô tích sự (điệp âm “ch”)
+ Đảo ngữ:
“Lom khom dưới núi tiều vài chú.
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”.
(Bà huyện Thanh Quan)
=> Đưa vị ngữ lên đầu câu đã miêu tả được cảnh thiên nhiên hoang sơ vắng vẻ hết sức ấn
tượng.
...vv
Ngay sau khi hướng dẫn học sinh nhận diện phép tu từ, tiếp tục hướng dẫn học sinh thực
hiện viết bài. Trước khi viết bài, giáo viên định hướng yêu cầu của bài viết phân tích phép tu từ
với mô hình TỔNG – PHÂN – HỢP. Để tránh mất thời gian, giáo viên nên ra đề cho học sinh
viết ở nhà. Trong mỗi lần ra đề, giáo viên cần phải giao thời gian cụ thể và kiểm tra, sửa chữa cụ

hiểu đúng, hiểu rõ về văn học. Nói như vậy có nghĩa là người cảm thụ phải đặt tác phẩm trong
hoàn cảnh phát sinh và môi trường tiếp nhận. Nền văn học Việt Nam được tạo nên bởi hai bộ
phận.
- Văn học dân gian. Dòng văn học này là kết quả của sự đồng sáng tạo của người bình
dân nhằm thể hiện tình cảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, con người, ... (ca dao, dân
ca); đúc rút kinh nghiệm về thiên nhiên, lao động sản xuất cùng cong người và xã hội, ...vv
- Văn học viết. Dòng văn học này có:
16


+ Văn học phong kiến ra đời và phát triển từ thế kỉ X đến hết thể kỉ XIX , được viết bằng
chữ Hán và chữ Nôm. Văn học viết từ thế kỉ X đến hết thể kỉ XIX có bốn giai đoạn, mỗi giai
đọn có một âm hưởng chủ đạo.
. Giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XV có nội dung chính là khẳng định dân tộc. Ví dụ:
“Tụng giá hoàng kinh sư” (Trần Quang Khải), ... .
. Giai đoạn từ thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XVIII có nội dung chính là ca ngợi cuộc
sống ẩn dật, đề cao thuyết giáo. Ví dụ: “Truyền kì mạn lục” (Nguyễn Dữ), “Côn Sơn ca”
(Nguyễn Trãi), ... .
. Giai đoạn từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX có nội dung chính là phê
phán thế lực phong kiến và khẳng định quyền sống của con người. Ví dụ: “Sau phút chia ly”
(Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn), “Bánh trôi nước “ (Hồ Xuân Hương), “Truyện Kiều”
(Nguyễn Du), ...
. Giai đoạn từ nửa cuối thế kỉ XIX có nội dung chính là đã kích cái lố lăng hủ bại đương
thời và cổ vũ tinh thần yêu nước chống ngoại xâm. Ví dụ: các sáng tác của Nguyễn Khuyến và
Nguyễn Đình Chiểu, ...
+ Văn học Việt Nam hiện đại, gồm có:
. Thơ văn hai mươi năm đầu của thế kỉ XX là những sáng tác thể hiện tinh thần bất khuất,
ý chí chiến đấu son sắt của những nhà Nho, sĩ phu yêu nước bị bắt giam trong nhà tù thực dân
Pháp: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, ...
. Văn học giai đoạn từ 1932 đến 1945 gồm có nhiều khuynh hướng trào lưu: văn học hiện

=> Bằng việc dùng dấu phẩy tác giả không chỉ tạo cho câu văn có nhạc điệu mà còn thể hiện
được cái nhọc nhằn cơ cực trong vòng quay đều đặn, nhẫn nại của cối xay, của chính nhịp lao
động nặng nhọc, nhẫn nại của người nông dân.
2) “...Ông Giáo nói phải! Kiếp chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó làm kiếp người, may
ra nó sung sướng hơn một chút ... Kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!...”
(Lão Hạc – Nam Cao)
=> Với việc dùng dấu cảm thán và đặc biệt là dùng dấu chấm lửng trong câu văn có tác dụng
như một phép lặng tu từ. Dấu chấm lửng diễn tả được tâm trạng ngập ngừng, nghẹn ngào đau
xót khi lão Hạc nói về cuộc sống của lão.
3)

Đến nay tháng sáu
18


Chợt nghe tin nhà
Ra thế
Lượm ơi!

(Lượm – Tố Hữu)

=> Câu thơ thứ ba được ngắt làm đôi làm hai dòng đã thể hiện được sự bàng hoàng, nghẹn ngào,
đau đớn tột cùng của nhà thơ khi hay tin Lượm hi sinh.
4)

Ngày em mở cửa ra
Một trời xanh vẫy đợi
Cánh buồm là tiếng gọi
Mặt biển và dòng sông
Nắng vườn trưa mênh mông

là tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và ngược lại
cũng vậy. (Belinxki)
- Nhân vật sẽ là có tính cách, nếu trong lời nói và hành động bộc lộ một khuynh hướng ý chí nào
đó, bất kể nó tốt xấu thế nào.
(Arittốt)
- Nhà văn là người cho máu. Nhà văn là thư kí trung thành của thời đại.
(Elsa Troilet)
- Văn chương chẳng là gì nếu không vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là điểm xuất phát và cũng là
đích đến của văn học.
(Tố Hữu)
- Cuộc sống là mảnh đất màu mỡ để cho thơ bén rễ sinh sôi”
( PusKin)
- Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm.
(L. Tônxtôi)
- Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật
( Biêlinxki)
- Văn chương không dung nạp những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đem cho,
mà chỉ dung nạp những người biết khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa
có.
(Nam Cao)
- Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người. Mỗi tác phẩm văn
học chỉ là một lát cắt, một tờ biên bản của chặng đời sống con người ta trên con đường dài dằng
dặc đi tìm cõi hòan thiện.
20


(Nguyễn Minh Châu)
- Nghệ sĩ là con người biết khai thác ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy trong những ấn
tượng đó cái giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng đó có được hình thức riêng”
( M. Gorki)


- Thuyết minh về một danh lam thắng - Trình bày
cảnh

- Giới thiệu

- Thuyết minh về một phương pháp (cách
làm)
- Một vấn đề đạo đức nhân sinh
- Một vấn đề chính trị

- Chứng minh

Nghị luận

- Một vấn đề văn hóa tư tưởng

- Giải thích

Xã hội

- Một vấn đề kinh tế

- Bình luận

- Một vấn đề lịch sử

- So sánh, đối chiếu

Nghị luận

văn theo đúng yêu cầu của đề. Vì vậy, dù là dạng văn nào thì các em cũng phải nắm chắc dàn ý
cơ bản sau:
Mở bài: Nêu khái quát vấn đề của bài viết. Vấn đề đó sẽ được lý giải cụ thể trong phần
thân bài.
Thân bài: Nêu các nội dung lớn để triển khai làm rõ vấn đề đã nêu khái quát ở mở bài.
Kết bài: Nêu ý khái quát từ các ý đã trình bày trong bài.
Từ đó, giáo viện hướng dẫn học sinh làm lập dàn ý qua một số đề bài cụ thể.
* Giáo viên cung cấp cho học sinh một số quy tắc tìm luận cứ.
- Quy tắc tìm dẫn chứng:
Ai, cái gì ? + Mặt nào? + Lúc nào? + Ở đâu?
Ví dụ:
Nhân vật chị Dậu trong hai đoạn trích “Con có thương thầy thương u”, “Tức nước vỡ
bờ” (Trích tiểu thuyết “Tắt đèn” - Ngô Tất Tố) là tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn truyền thống
của người phụ nữ Việt Nam. Em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
Áp dụng quy tắc trên, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm dẫn chứng cho đề bài trên:
Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chị Dậu được thể hiện ở những mặt nào? (đảm đang, tháo vát;
thương yêu chồng con; sức sống mạnh mẽ tiềm tàng…)
22


Mỗi vẻ đẹp tâm hồn trên của nhân vật thể hiện lúc nào, ở đâu? ( khi chạy vạy ngược xuôi kiếm
tiền cứu anh Dậu: dẫn chứng…; khi phải bán cái Tí: dẫn chứng… ; Khi đối phó với tên cai lệ và
người nhà lí trưởng: dẫn chứng …)
- Quy tắc tìm lí lẽ:
Thế nào? + Tại sao? + Cảm xúc suy nghĩ?
Ví dụ:
Em hiểu như thế nào về câu tục ngữ: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Áp dụng quy tắc trên, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm tìm lí lẽ:
“Ăn quả và kẻ trồng cây” có nghĩa đen và nghĩa bóng như thế nào? (nghĩa đen: Ăn quả: ăn
những trái cây chín, thơm, ngọt, bùi; kẻ trồng cây: người trồng, vun xới, chăm bón cây, trái.

Gợi : Là gợi ý ra vấn đề cần nghị luận.
Đưa : Sau khi gợi là đưa vấn đề nghị luận ra.
Báo : Báo là phải làm gì về vấn đề đưa ra nghị luận (Có tính chuyển ý )
b. Thân bài : Giải – Phân – Bác – Đánh.
Giải: Giải thích các tư tưởng đạo lí tác động đến hoàn cảnh xung quanh, giải
thích từ , giải thích khái niệm.
Phân : Phân tích các mặt đúng của nội dung tư tưởng đạo lí (Dùng luận cứ
từ cuộc sống và xã hội để chứng minh).
Bác : Bác bỏ những biểu hiện sai lệch liên quan đến tư tưởng đạo lí ( dùng
dẫn chứng từ trong cuộc sống và văn học để chứng minh)
Đánh : Đánh giá ý ngĩa tư tưởng, đạo lí đã nghị luận.
c. Kết bài : Tóm – Rút – Phấn
Tóm: Tóm tắt, khái quát vấn đề nghị luận.
Rút : Rút ra ý nghĩa , từ bài học hiện tượng đời sống.
Phấn : Phấn đấu, bày tỏ thái độ của bản thân về hiện tượng đời sống đã nghị
luận.
Một số đề tham khảo .
- Đề 1:Suy nghĩ về thái độ vô cảm của giới trẻ hiện nay.
- Đề 2: Em có cảm nhận gì về lòng nhân ái.
- Đề 3 : Suy nghĩ của em về câu thơ “ Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn” ( Một khúc
ca – Tố Hữu)
- Đề 4 : Tình thương là hạnh phúc của con người.
- Đề 5 : Em có suy nghĩ về lòng trung thực.
24


- Đề 6 : “Nơi lạnh nhất không phải là bắc cực mà là nơi không có tình yêu
thương”, em cảm nhận câu này như thế nào ?
- Đề 7 : Thất bại là mẹ thành công.
Ví dụ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status