SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC DẠY BỒI DƯỠNG HỌC VIÊN GIỎI MÔN NGỮ VĂN LỚP 12 - Pdf 23

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trung tâm GDTX TP Biên Hòa
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
T SỐ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC DẠY BỒI DƯỠNG HỌC
VIÊN GIỎI MÔN NGỮ VĂN LỚP 12
Người thực hiện: Nguyễn Thị Xuân
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 
- Lĩnh vực khác: 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác
Năm học: 2013 - 2014
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trung tâm GDTX TP Biên Hòa
Mã số:
(Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC DẠY BỒI DƯỠNG
HỌC VIÊN GIỎI MÔN NGỮ VĂN LỚP 12
Người thực hiện: Nguyễn Thị Xuân
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 
- Lĩnh vực khác: 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác

dồi, đầu tư hơn về chuyên môn; học viên sẽ có động lực, tự tin hơn trong những kỳ
thi quan trọng phía trước. Vì vậy với những người tâm huyết với nghề nghiệp, họ
luôn dồn hết sức lực và trí tuệ của mình để đạt được kết quả cao nhất.
Thực tế dạy học cho thấy, muốn đạt được kết quả cao trong công tác bồi
dưỡng học viên giỏi ở các bộ môn đã khó, học viên giỏi môn Ngữ văn lại càng khó
hơn. Bởi, số lượng học viên yêu thích, đam mê và có tố chất đối với môn Ngữ văn
không nhiều. Các em ngại học văn do phải đọc nhiều, viết nhiều, tốn nhiều thời
gian mà điểm thì không cao so với nhiều môn học khác (ít điểm 8, 9 đặc biệt là
10). Mặt khác Ngữ văn cũng không phải là môn học thời thượng để các em có thể
chọn ngành nghề sau này. Trong quá trình dạy học, giáo viên còn quá cứng nhắc,
rập khuôn (yêu cầu học viên học đúng theo từng câu văn mình cho chép), hạn chế
sự sáng tạo của các em. Không giống như các trường trung học phổ thông ngay từ
lớp 10 đã có những “hạt nhân” được lựa chọn trong kỳ thi học viên giỏi cấp tỉnh từ
đó giáo viên có thể nuôi dưỡng, phát hiện thêm ở những năm học tiếp theo. Hệ
giáo dục thường xuyên chỉ tổ chức kỳ thi học viên giỏi cho học viên lớp 12, thời
lượng ôn thông thường là 60 tiết, nguồn học viên thay đổi theo từng năm. Vì vậy
để đạt kết quả cao trong công tác bồi dưỡng rất cần những kinh nghiệm qua thực tế
giảng dạy được đúc kết.
Vì những lý do quan trọng trên tôi muốn cùng các đồng nghiệp trao đổi
“Một số kinh nghiệm trong việc dạy bồi dưỡng học viên giỏi môn Ngữ văn lớp
3
12” để có thể cùng nhau đạt được kết quả cao nhất trong công tác bồi dưỡng học
viên giỏi.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
Học viên giỏi là những học viên đang học chương trình văn hóa phổ thông
thuộc hệ bổ túc văn hóa tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên trong cả nước,
có năng lực vượt trội. Học viên giỏi môn Ngữ văn là những học viên có năng lực
cảm thụ tác phẩm văn chương; có tình yêu và biết rung động trước cái Chân,
Thiện, Mĩ; trí tưởng tượng phong phú, tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, cảm xúc dạt dào;

Đề tài này trên cơ sở kế thừa những kiến thức lí luận về công tác bồi dưỡng
học viên giỏi nói chung và học viên giỏi môn Ngữ văn nói riêng, đồng thời đề xuất
một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng của công tác bồi dưỡng học viên
giỏi môn Ngữ văn tại Trung tâm GDTX TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
Để giải quyết những khó khăn, nâng cao chất lượng bồi dưỡng học viên giỏi
Ngữ văn, trong quá trình dạy học tôi đã tiến hành những công việc sau:
2.1. Phát hiện và chọn học viên có khả năng cảm thụ văn học.
Để có nguồn học viên đảm bảo “mang chuông đi đành xứ người”, khâu phát
hiện và chọn lọc học viên có khả năng cảm thụ văn học vô cùng quan trọng. Việc
chọn lọc không thể làm qua loa, chiếu lệ, “bốc” một vài em tham gia đội tuyển, bởi
việc làm này hết sức nguy hại. Ở khâu này giáo viên bồi dưỡng phải phối hợp với
giáo viên dạy ngữ văn ở các lớp chọn ra những học viên ưu tú nhất tham gia đội
tuyển cấp trường. Đây là khâu đầu tiên để chọn ra “những hạt bụi vàng” vì vậy
giáo viên không cần phải quá khắt khe trong việc chọn học viên, không chỉ những
học viên thực sự giỏi mới được học lớp ôn luyện mà đôi khi chỉ cần các em biết
cách làm một bài văn, kiến thức còn sơ sài nhưng biết cách diễn đạt cũng có thể
chọn. Để chọn được đội tuyển như ý tôi thường tiến hành chọn lọc theo tiến trình
sau như sau:
5
- Bước 1: Thông báo về việc thành lập đội tuyển, lợi ích khi các em tham gia
học đội tuyển. Công tác này sẽ giúp các em thấy được tầm quan trọng, lợi ích của
việc tham gia bồi dưỡng học viên giỏi. Tham gia học lớp bồi dưỡng học viên sẽ
được trang bị đầy đủ về kiến thức lẫn kỹ năng, có điều kiện cọ sát nhiều dạng bài,
nhiều kỳ thi tạo tiền đề cho những kỳ thi quan trọng sắp tới. Nếu học tập tốt các em
có thể được vinh danh trong kỳ thi học viên giỏi cấp Tỉnh, đó là niềm tự hào của
tất cả những học viên đang ngồi trên ghế nhà trường. Khi các em nhận thấy lớp bồi
dưỡng hết sức quan trọng sẽ kích thích tinh thần ham học, đam mê muốn chinh
phục của các em.
- Bước 2: Cho các em tự đăng ký tham dự đội tuyển – Có giới hạn. Đây

nghiêm túc của giáo viên. Công tác này là một hành trình đòi hỏi sự bền bỉ, say sưa
của cả thầy và trò trong suốt một chặng đường dài. Chính vì tầm quan trọng như
vậy, giáo viên không thể thực hiện tùy tiện, ngẫu hứng mà cần có kế hoạch cụ thể,
rõ ràng theo từng tiết, từng tuần, từng giai đoạn. Căn cứ vào kế hoạch thời gian bồi
dưỡng của trung tâm. Đối với môn Ngữ văn kế hoạch bồi dưỡng được áp dụng ở
trung tâm là 60 tiết học . Vì vậy, tôi tiến hành lập kế hoạch như sau:
Giai đoạn Tuần Tiết Nội dung Chủ điểm Ghi chú
1
1 1
2
Kỹ năng làm bài
nghị luận xã hộị
Kỹ năng làm bài và
nhận diện đề
3
4
Luyện đề nghị luận
xã hội
Tư tưởng đạo lý
2 5
6
Luyện đề nghị
luận xã hội + Sửa
bài
Tư tưởng đạo lý
7
8
Kỹ năng làm bài
nghị luận văn học
Kỹ năng làm bài (Tây

đất nước
19
20
Kiểm tra trên lớp Nghị luận xã hội
Nghị luận văn học
Sàng lọc
lần 1
2
6 21
22
Luyện đề nghị luận
xã hội
Tư tưởng đạo lý
23
24
Luyện đề nghị luận
xã hội + Sửa bài
Hiện tượng đời sống
7 25
26
Luyện đề nghị luận
văn học + Sửa bài
Kỹ năng làm bài
Tuyên ngôn độc lập
27
28
Luyện đề nghị luận
văn học + Sửa bài
Kỹ năng làm bài
Người lái đò sông Đà

Chiếc thuyền ngoài xa
39
40
Kiểm tra trên lớp Nghị luận xã hội
Nghị luận văn học
Sàng lọc
lần 2
11 41
42
Luyện đề nghị luận
xã hội + Sửa bài
Hiện tượng đời sống
43
44
Luyện đề nghị luận
xã hội + Sửa bài
Hiện tượng đời sống
12 45
46
Luyện đề nghị luận
văn học + Sửa bài
Kỹ năng làm bài tổng
hợp, so sánh, đối chiếu
8
3
hai hay nhiều tác phẩm
văn xuôi
47
48
Luyện đề nghị luận

Kỹ năng làm bài
Nhận xét, đánh giá về
tác phẩm
15 57
58
Tổng ôn tập Kỹ năng làm bài
59
60
Tổng ôn tập Giải đáp thắc mắc, dặn

Bồi dưỡng học viên giỏi khác với dạy cơ bản trên lớp hay dạy ôn thi tốt
nghiệp, trong quá trình dạy sẽ có nhiều vấn đề nảy sinh yêu cầu thầy và trò cùng
nhau giải quyết để làm sáng tỏ vấn đề. Vì vậy, giáo viên phải linh hoạt trong từng
tiết dạy, từng giai đoạn, điều chỉnh kế hoạch để “bồi” vào những “lỗ hổng” mà các
em còn thiếu.
2.3. Rèn một số kỹ năng đối với học viên giỏi Ngữ văn
2.3.1. Kỹ năng làm bài Nghị luận văn học, bài Nghị luận xã hội
Kỹ năng làm bài Nghị luận văn học, bài Nghị luận xã hội là kỹ năng cơ bản
nhất của mỗi học viên, đối với học viên giỏi, tất cả những kỹ năng khác muốn phát
huy thì cần phải có kỹ năng đầu tiên này. Một số giáo viên khi bắt tay vào bồi
9
dưỡng thường nghĩ rằng, đây là những học viên đã giỏi nên bỏ qua bước cơ bản
cho các em tiếp xúc với những kỹ năng nâng cao hơn vì vậy thường gây ra thực tế
“khủng hoảng” cho cả giáo viên lẫn học viên.
Đã có nhiều công trình đề tài nghiên cứu về kỹ năng làm bài Nghị luận văn
học, bài Nghị luận xã hội cho học viên vì vậy trong khuôn khổ đề tài này tôi không
đi đề cập sâu vào từng bước thực hiện mà chỉ đề cập một số vấn đề cơ bản đã
hướng dẫn học viên ôn luyện hiệu quả.
a. Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ: Để cảm thụ được một câu thơ hay
đoạn thơ học viên phải phát hiện cho được những tín hiệu nghệ thuật làm nổi bật

- Giá trị nhân đạo biểu hiện thông qua tác phẩm?
+ Đề cao, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người
+ Đồng cảm sâu sắc với những nổi khổ đau, bất hạnh của con người
+ Trân trọng khát vọng được muốn được sống, được tự do của con người
+ Tố cáo những thế lực tàn bạo đã chà đạp, vùi dập con người
+ Tìm con đường giải thoát khỏi cuộc đời tăm tối cho nhân vật (Tùy thuộc
vào tác phẩm để trình bày biểu hiện này)
- Đánh giá chung về tư tưởng nhân đạo
Đây là những kiến thức hoàn toàn căn bản yêu cầu học viên giỏi ngữ văn
phải nắm chắc, chỉ có thể trên nền tảng kiến thức cơ bản các em mới có thể vận
dụng để giải quyết những dạng đề nâng cao.
c. Nghị luận xã hội: Giống như nghị luận văn học, ở câu hỏi nghị luận xã
hội giáo viên hướng dẫn học viên phân biệt các dạng bài như:
- Nghị luận về một tư tưởng đạo lý.
Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
Thân bài: Đảm bảo các ý:
- Giải thích
- Bình luận và chứng minh
- Thái độ, hành động, rút ra bài học nhận thức cho bản thân.
Kết bài: Nêu ý nghĩa của câu nói.
- Nghị luận về một hiện tượng đời sống
Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
11
Thân bài: Đảm bảo các ý:
- Hiện trạng
- Nguyên nhân
- Hậu quả
- Giải pháp
- Liên hệ, rút ra bài bài nhận thức
Kết bài: Nêu ý nghĩa của hiện tượng trên

văn trên hay là do đâu? Câu văn hay hình ảnh nào thể hiện điều đó? Biện pháp
nghệ thuật được người viết sử dụng thành công như thế nào? Em học được gì
thông qua bài viết đó?
Ví dụ: Cảm nhận về hai câu thơ “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!/ Nhớ về rừng
núi nhớ chơi vơi” (“Tây Tiến” - Quang Dũng) .
Vì quá gắn bó yêu thương, từng vào sinh ra tử, cùng chia ngọt sẻ bùi, nay
“xa rồi” nên mới có được nỗi “nhớ chơi vơi” ấy. Phải lắng sâu trong cảm xúc “cố
lấy hồn tôi để hiểu hồn người”, người đọc mới hiểu hết cảm xúc của nhà thơ qua
cụm từ “nhớ chơi vơi”. Đó là nỗi nhớ rất lạ, hình như nhẹ tênh mà nặng vô cùng,
để rồi sau đó cứ tuôn chảy ào ạt như một dòng suối trong toàn bài thơ. Nỗi nhớ ấy
chảy dài theo dòng sông Mã, trùng điệp theo hình non dáng núi, theo từng chặng
đường hành quân, vào những đêm văn nghệ và để rồi nhớ đến hụt hẫng trống vắng
trong lòng người. Chúng ta phải hiểu rằng: khi nhà thơ nói “xa rồi” là lúc những
hình ảnh của một quá khứ chưa xa đang ập tới, nhấc bổng nhà thơ khỏi thực tại để
hồn thơ lơ lửng, chơi vơi trong cõi nhớ. Chính qua nỗi nhớ ấy, ta càng hiểu hơn
tấm lòng gắn bó, trân trọng những kỷ niệm đẹp của Quang Dũng. Quả đúng “thơ
là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm” (Vôn-te).
Một số người cho rằng, hai câu thơ mở đầu này ảnh hưởng âm điệu của thơ
cổ điển và tình cảm thì dạt dào như các nhà thơ lãng mạn thời Thơ mới. Ngày trước
trong thơ ca cũng có diễn tả:
“Ra về nhớ bạn chơi vơi”
13
Để biểu thị trạng thái bâng khuâng của người đang tương tư, một nỗi buồn
man mác khó tả, Xuân Diệu – nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới cũng đã
viết:
“Tương tư nâng lòng lên chơi vơi”
Tuy nhiên, ta vẫn nhận thấy cái mới mẻ trong cách thể hiện của Quang
Dũng, ca dao và trong thơ Xuân Diệu diễn tả nỗi nhớ người yêu còn Quang Dũng
diễn tả nỗi nhớ đồng đội, nỗi nhớ về những kỷ niệm trong kháng chiến.
Chưa hết, cái hay của câu thơ còn thể hiện ngay ở vần điệu, nhịp điệu. Nhà

bất hạnh, khổ đau nhưng họ đã vươn lên, thoát khỏi cuộc sống đói khổ, tủi nhục
vươn tới ánh sáng cách mạng. Đây cũng chính là một trong những khía cạnh nhân
đạo của những tác phẩm sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 (điểm khác biệt của
những tác phẩm trước cách mạng và sau cách mạng). Hoặc vẻ đẹp trữ tình, thơ
mộng của con sông Đà trong tác phẩm tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn
Tuân khiến ta liên tưởng đến vẻ đẹp dịu dàng, sâu lắng nhưng cũng vô cùng mãnh
liệt, dữ dội của dòng sông Hương trong bài bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông”
của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Từ đó cảm nhận được ngòi bút tài hoa, nghệ sĩ, lối
hành văn tài hoa lịch lãm cùng vốn hiểu biết uyên thâm của hai nhà văn. Hay khi
thể hiện nỗi nhớ da diết, mãnh liệt, chiếm lĩnh thời gian, bao trùm cả không gian
Xuân Quỳnh đã viết bằng những vần thơ:
“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
Thì Xuân Diệu - ông hoàng của thơ tình trong “Tương tư chiều” cũng đã
từng viết:
“Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời
15
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm”.
Cả Xuân Quỳnh và Xuân Diệu đều dành những vần thơ để thể hiện nỗi nhớ
nhưng ta dễ nhận thấy rằng khác với một Xuân Diệu mạnh bạo, trực tiếp thể hiện
nỗi nhớ như điên cuồng của mình. Xuân Quỳnh đã mượn hình tượng con “Sóng”
để thể hiện tình yêu, nỗi nhớ. Bởi đó là nỗi nhớ của một cô gái có trái tim yêu tha
thiết, sóng là em, mà em cũng là sóng, sóng dịu êm nhưng cồn cào mãnh liệt thì

hay, độc đáo tôi đã cho học viên tiếp cận với những đoạn văn, bài văn hay; gợi cho
các em biết liên tưởng và cuối cùng là hướng dẫn viết những câu văn, đoạn văn
giàu tính hình tượng. Với những thao tác trên, sau những tháng bồi dưỡng các em
đều tự tin về vốn kiến thức lẫn cách hành văn của mình, từ đó tạo kết quả khả quan
cho bài thi.
2.3.3.Kỹ năng nhận diện đề thi
Kỹ năng này không phải là mới đối với học viên nhưng không phải học viên
nào cũng nhận dạng, phân loại được đề thi. Đối với học viên giỏi lại càng không
thể thiếu kỹ năng này. Vì thế cần thiết phải cung cấp, truyền đạt và rèn luyện cho
các em những kiến thức về dấu hiệu nhận biết về dạng, loại trong đề thi. Nếu nhận
diện đúng đề thi các em sẽ xác định đúng con đường đi của mình, giống như người
đã xác định được kim chỉ nam, khi ấy việc về tới đích là lẽ tất yếu. Thông thường
đề thi học viên giỏi gồm hai phần: nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Cái khó
không phải là việc nhận biết đâu là câu hỏi nghị luận xã hội, đâu là câu hỏi nghị
luận văn học mà phải nhận biết câu hỏi nghị luận xã hội ở dạng nào, câu hỏi nghị
luận văn học ở dạng nào từ đó xác định hướng làm bài. Thấy được khó khăn này
trong quá trình giảng dạy tôi đã cho các em cọ xát với nhiều dạng đề để có thể
phân biệt được trọng tâm ở mỗi dạng câu hỏi.
Ví dụ 1:
Đề 1: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị thể hiện trong phần đầu
truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.
Đề 2: Phân tích tư tưởng nhân đạo sâu sắc được nhà văn Tô Hoài gửi gắm
qua truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”.
17
Đề 3: Phân tích những đặc sắc về nghệ thuật thể hiện trong phần đầu truyện
ngắn “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.
Ba đề bài trên đều là câu hỏi nghị luận văn học, liên quan đến phần đầu
truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài, tuy nhiên cách xử lý và trọng
tâm của mỗi đề lại hoàn toàn khác nhau. Là học viên giỏi các em phải phân biệt
được trọng tâm ở mỗi đề như sau:

Từ đó học viên mới biết hướng làm bài như sau:
Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
Thân bài: Đảm bảo các ý:
- Giải thích
- Bình luận và chứng minh
- Thái độ, hành động, rút ra bài học nhận thức cho bản thân.
Kết bài: Nêu ý nghĩa của câu nói.
Kỹ năng nhận diện đề không khó, nhưng cần phải trải qua quá trình rèn
luyện nghiêm túc. Học viên được tiếp xúc với nhiều dạng đề thông qua quá trình
định hướng, sửa bài của giáo viên các em sẽ tự đúc kết cho mình những kinh
nghiệm trong quá trình làm bài.
2.3.4.Kỹ năng phân bố thời gian hợp lý
Đã là học viên giỏi Ngữ văn cảm xúc dạt dào, mãnh liệt khi làm bài là không
thể thiếu tuy nhiên nếu không biết tiết chế cảm xúc của mình phù hợp thì “lợi bất
cập hại” các em sẽ mắc phải lỗi “đầu voi đuôi chuột”. Để khắc phục tình trạng trên
các em cần phải có kỹ năng phân bố thời gian hợp lý. Trong quá trình làm bài các
em phải có trái tim tràn đầy cảm xúc nhưng cũng cần một cái đầu lạnh tỉnh táo để
sắp xếp bài làm theo một chỉnh thể hoàn hảo. Trong quá trình dạy tôi luôn nhắc
nhở các em về kỹ năng này, để đảm bảo phân phối thời gian hợp lý các em cần:
- Phân phối thời gian cho từng câu hỏi dựa vào số điểm của mỗi câu.
- Xác định luận điểm ở mỗi câu, phân chia thời gian hợp lý cho các luận
điểm.
- Chủ động điều chỉnh quỹ thời gian cho phù hợp trong quá trình làm bài.
19
Trong bất cứ bài thi nào, sự hoàn chỉnh đều có nhiều lợi thế. Chỉ cần một số
mẹo nhỏ trên các em sẽ khắc phục được việc “cháy” hay “ướt” bài làm không đáng
xảy ra.
2.4. Hướng dẫn học viên làm bài, sửa bài, rút ra bài học kinh nghiệm
Để nâng cao chất lượng làm bài của học viên giỏi văn ngoài những bài giảng
nắm bắt kiến thức trên lớp, các em học viên cần phải nổ lực và dành khoảng thời

- Đối với giáo viên: đúc kết được một số kinh nghiệm quý báu, phương
pháp dạy học phù hợp đối với đối tượng là học viên giỏi môn Ngữ văn ở hệ giáo
dục thường xuyên. Từ đó đạt được kết quả cao nhất.
- Đối với phương pháp dạy học: đóng góp vào quá trình thể nghiệm
phương pháp dạy học để tìm ra phương pháp dạy học phù hợp cho môn Ngữ văn.
- Kết quả thực nghiệm: Sau 2 năm học ( 2011-2012; 2012-2013) thực hiện
đề tài, áp dụng cho đối tượng là học viên giỏi môn Ngữ văn của Trung tâm giáo
dục thường xuyên thành phố Biên Hòa, kết quả thu được khả quan hơn rất nhiều so
với trước khi áp dụng và thực hiện đề tài. Cụ thể như sau:
+ Kết quả thi học viên giỏi môn Ngữ văn cấp Tỉnh năm học 2010-2011
(Trước khi chưa tổ chức dạy bồi dưỡng và chưa áp dụng đề tài)
STT Họ và tên Đơn vị Đoạt giải
1 Vũ Nhật Phương Trung tâm GDTX Biên Hòa Giải Ba
Tổng cộng: 01 giải
21
+ Kết quả thi học viên giỏi môn Ngữ văn cấp Tỉnh năm học 2011-2012 (Sau khi tổ
chức dạy bồi dưỡng và áp dụng đề tài)
Tổng cộng: 10 giải (10/27 giải toàn Tỉnh) gồm
01 Giải Nhất
03 Giải Nhì
02 Giải ba
04 Giải Khuyến khích
22
+ Kết quả thi học viên giỏi môn Ngữ văn cấp Tỉnh năm học 2012-2013 (Sau
khi tổ chức dạy bồi dưỡng và áp dụng đề tài)
Tổng cộng: 11 giải (11/28 giải toàn Tỉnh) gồm
01 Giải Nhất
02 Giải Nhì
04 Giải ba
23

Năm xuất bản 2011
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status