Một vài kinh nghiệm về phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn THCS đối với kiểu bài biện pháp tu từ - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
MỘT VÀI KINH NGHIỆM VỀ PHƯƠNG PHÁP BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI MÔN NGỮ VĂN THCS
ĐỐI VỚI KIỂU BÀI BIỆN PHÁP TU TỪ

Người thực hiện:
Lê Thị Nga
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Trần Mai Ninh
SKKN thuộc môn:

THANH HOÁ NĂM 2017

Ngữ văn


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

MỤC LỤC

1

PHẦN 1. MỞ ĐẦU


8
9
18
19

1. Kết luận

19

2. Kiến nghị

19

Tài liệu tham khảo

20

Danh mục các đề tài SKKN đã được đánh giá

21

2


PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ở nhà trường THCS, môn Ngữ văn vai trò rất quan trọng trong việc hình
thành nhân cách và những phẩm chất, tư duy cho học sinh, góp phần đáp ứng
những yêu cầu của thời đại trong mục tiêu đào tạo con người. Là một môn học

thời gian rất ngắn). Về phía học sinh, “nhân tài” về văn vốn đã hiếm, các em lại
phải học nhiều môn nên việc đầu tư tự bồi dưỡng môn văn không được nhiều,
quyết tâm đạt giải của các em lại chưa cao, môi trường học tập thực sự chưa
tốt...
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII : “Cùng với khoa học và công nghệ,
giáo dục - đào tạo là quyết sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí đào tạo nhân
lực, bồi dưỡng nhân tài”. Để bồi dưỡng được nhân tài đặc biệt là môn văn thì cả
người “dạy” và người “học” đều phải tăng cường phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo, tự học trong hoạt động học tập của học sinh. Với ý nghĩa ấy, việc
phát hiện, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi bộ môn ngữ văn trở thành
nhu cầu cần thiết không thể thiếu trong quá trình dạy học của giáo viên và chiến
lược phát triển của nhà trường.
Để có được một học sinh giỏi văn, ngoài năng lực, tố chất của học sinh
còn cần có vai trò, trách nhiệm, niềm đam mê, nhiệt huyết của người thầy là
điều kiện không thể phủ nhận được. Trải qua quá trình dạy học, tham gia bồi
dưỡng học sinh giỏi ở trường THCS, nhận thấy khả năng, năng lực tiếp nhận
kiến thức và tạo lập văn bản ở học sinh vẫn còn nhiều hạn chế... Đặc biệt, kiểu
bài biện pháp tu từ nằm trong cấu trúc đề thi học sinh giỏi. Là một giáo viên đã
nhiều năm tham gia công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tôi đã nắm bắt được tình
hình này, tôi nhận thấy cần quan tâm tới công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ngữ
văn trong đó có kiểu bài biện pháp tu từ.
Từ những vấn đề trên, trong phạm vi giới hạn bài viết mang tính chất
“trao đổi kinh nghiệm cá nhân” tôi chỉ đề cập đến vấn đề “Một vài kinh nghiệm
về phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn THCS đối với kiểu bài
biện pháp tu từ”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nhằm nghiên cứu phương pháp dạy học tốt phương pháp bồi dưỡng
giỏi môn ngữ văn THCS đối với kiểu bài biện pháp tu từ. Bản thân tôi mong
muốn đóng góp một số kinh nghiệm để tìm ra biện pháp thiết thực, khả thi nhất,


Là cách nói phối hợp sử dụng các kiểu âm, kiểu câu nhằm đem lại ý nghĩa
biểu cảm, cảm xúc cho những mảnh đoạn của lời nói do chúng cấu tạo nên.
Các hình thức tu từ cú pháp: Điệp ngữ; đổi trật tự cú pháp;Liệt kê; câu hỏi
tu từ.
4. Vị trí các hình thức tu từ trong tác phẩm văn học:
Các hình thức tu từ tiếng Việt rất phong phú và việc vận dụng sáng tạo ở
từng bài văn, bài thơ của từng tác giả rất đa dạng linh hoạt nhưng có thể hiểu nó
ở hai vị trí sau:
a. Các hình thức tu từ xuất hiện với tư cách là những biện pháp nghệ
thuật:
Tác phẩm văn chương là hành vi sáng tạo là kết quả của ý đồ sáng tác của
việc vận dụng những thủ pháp tu từ. Với tư cách là những biện pháp nghệ thuật,
các hình thức tu từ thể hiện sự sử dụng từ, phối hợp từ, câu một cách chọn lọcsáng tạo, theo ý đồ sáng tác của nhà văn nhằm đem lại cho tác phẩm những giá
trị có tính biểu trưng lớn về nội dung và tính thẩm mĩ về mặt nghệ thuật.
6


Các hình thức tu từ xuất hiện trong tác phẩm văn học với tư cách là những
biện pháp nghệ thuật bởi nó không có mục đích tự thân mà chỉ phân tích nội
dung và hình thức trong tác phẩm thì giá trị của chúng mới thể hiện rõ.
b. Các hình thức tu từ xuất hiện trong tác phẩm văn học với tư cách là
những mã ngôn ngữ nghệ thuật.
Trong tác phẩm văn học, các hình thức tu từ chính là sự vận dụng ngôn
ngữ một cách có nghệ thuật nhằm đạt hiệu quả cao về mặt thẩm mĩ.
Các hình thức tu từ với tư cách là những mã ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện
ở phương tiện biểu hiện nhằm khiêu gợi liên tưởng, tưởng tượng qua sáng tác
nghệ thuật mà chỉ khi khám phá, phân tích tác phẩm nó mới được giải mã. Do
đó “ để hiểu lời văn nghệ thuật như là hình thức của tác phẩm, chẳng những phải
hiểu các phương tiện ngôn từ được tác giả sử dụng, nhận ra chính xác nội dung
và hình thức của chúng mà còn phải lí giải sự tổ chức của chúng phù hợp với các

chi tiết, những sắc thái tinh vi, tế nhị nhất, do đó lại tạo cho hình tượng văn học
nhiều khả năng to lớn, có thể dựng lại cuộc sống trong cả chiều rộng lẫn chiều
sâu.
- Giá trị của các hình thức tu từ khi xây dựng hình tượng nghệ thuật thể
hiện ở tính tạo hình, biểu cảm.
+Tính tạo hình có sức gợi trong trí tưởng tượng, hình ảnh cái hiện thực
nhà văn muốn gửi gắm.
+ Tính biểu cảm làm rung động trong đời sống tâm hồn tình cảm của ngời
đọc những cảm xúc, tình cảm mà nhà văn muốn biểu hiện.
c. Mang giá trị thẩm mĩ:
- Các hình thức tu từ là cách dùng từ bóng bẩy, trau chuốt, là cách dùng từ
hay, câu hay vào trong tác phẩm nghệ thuật. Mà nói đến nghệ thuật là nói đến
cái đẹp. “ Cái đẹp là điều kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu
cái đẹp thì không có và không thể có nghệ thuật”.
- Giá trị thẩm mĩ của các hình thức tu từ không chỉ thể hiện ở ý nghĩa tinh
tế, mới mẻ có sức khơi dậy và tiếp sức cho những rung động từ cái đẹp.
d. Mang phong cách tác giả:
Cái riêng của tất cả các yếu tố trong sáng tác: lối nghĩ, lối cảm, lối thể
hiện những đặc điểm riêng trong cách sử dụng từ ngữ, ngữ pháp, thủ pháp nghệ
thuật đều mang đậm dấu ấn phong cách tác giả. Tìm ra được cái riêng của tác
giả tức là đã nhận ra giá trị nghệ thuật độc đáo theo quan điểm của nhà văn.
8


Vận dụng các hình thức tu từ vào sáng tác thể hiện cá tính sáng tạo của
nhà văn qua cách sử dụng từ ngữ một cách chọn lọc, khả năng kết hợp từ, câu
theo một cách nào đó. Vì vậy, ở một bình diện rộng các hình thức tu từ chính là
phong cách.
II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM

dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn phải là một quá trình lâu dài nhưng lại chưa
được đào tạo có hệ thống mà chỉ gần khi đi thi mới thành lập đội tuyển để dạy
nên thời gian quát ít không đủ để bồi dưỡng học sinh.
- Bản thân giáo viên được giao nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi môn
Ngữ văn cũng chưa thật cố gắng nhiệt tình trong công việc, chưa thật sự có tâm
huyết và độ say trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn.
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy và học tập môn văn ở trường THCS. Lâu
nay, giờ học văn trở thành nổi lo sợ, nặng nề về mặt tâm lí ở một số HS. Do các
em không thích học môn văn, lượng kiến thức của giờ văn nhiều, lại quá trừu
tượng so với tầm đón nhận và một số giờ dạy văn chưa thực sự lôi cuốn các em.
Bản thân là một giáo viên nhận thấy khi phân tích tác phẩm văn học chỉ
tập trung phân tích phần nội dung, không chú trọng đến mặt hình thức nghệ
thuật nhất là các hình thức tu từ ít được phân tích nên học sinh hiểu theo kiểu
diễn nôm, máy móc.Tôi thiết nghĩ, không chỉ riêng bản thân mà một số các đồng
nghiệp khác cũng mắc phải điều này, nhất là những đồng nghiệp non trẻ.
Chính vì những lí do trên mà trong những năm qua, kết quả thi học sinh
giỏi môn Ngữ văn còn rất nhiều hạn chế.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1. GIẢI PHÁP CHUNG ĐỐI VỚI TỪNG HÌNH THỨC TU TỪ CỤ
THỂ :
1.1. Hình thức tu từ về từ : Hướng vào sự tạo hình, gợi cảm.
* So sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá: GV dùng phương pháp tái hiện để
khai thác chúng. Dùng phương pháp này vào phân tích, GV nên có hướng gợi ý
cho HS liên tưởng, tưởng tượng. Nghĩa của ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá bao giờ
cũng mang nghĩa hình tượng, nghĩa bóng nên dùng phương pháp tái hiện nhằm
giúp HS ngoài cách biểu hiện nghĩa gốc, nghĩa cơ bản còn hiểu được ý nghĩa bổ
sung, ý nghĩa hình tượng của biện pháp ấy. Dùng phương pháp tái hiện, GV
phân tích cơ chế cơ bản trong việc sản sinh ra sức gợi tả là thông qua sức liên

10

thực tế để rút ra ý nghĩa của cách dùng biện pháp này.
VD1 : Trong câu ca dao có sử dụng biện pháp nói quá.
-“Cày đồng đang buổi ban trưa”
GV cần giảng nghĩa mưa ruộng cày là như thế nào ? Trên cơ sở giảng
nghĩa “Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” GV cho HS liên hệ với thực tế ở
ngoài đời sống để rút ra kết luận : ý nghĩa tác dụng của biện pháp này nhằm diễn
11


tả công việc cày đồng rất cực nhọc, người nông dân phải vất vả mới làm ra hạt
lúa, hạt gạo trắng thơm.
VD2: “Dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ hết sức,
kẻ thì thuổng, người thì cuốc,...tình cảnh trông thật là thảm”.
( Tức nước vỡ bờ-phạm Duy Tốn, Ngữ Văn 8).
Cách nói quá này nhằm mô tả cảnh hộ đê đông đúc, hỗn loạn.
* Nói giảm - nói tránh : Dùng phương pháp xác định sắc thái tu từ để
phân tích ý nghĩa trong từ có quan hệ với phạm vi tình cảm - cảm xúc. Xác định
sắc thái tu từ, GV dựa trên cơ sở đối lập sắc thái trung hoà và sắc tu từ (ở sắc
thái tu từ bào giờ cũng chia thành hai thái cực dương tính và âm tính ) nhằm rút
ra hiệu quả của cách dùng từ.
Sắc thái biểu cảm dương Trung hoà sắc thái
tính
Thái độ trang trọng,

biểu cảm

Sắc thái biểu cảm âm tính
Thái độ miệt thị, coi

kính yêu, quý trọng

bộ tác phẩm. Nghĩa là xem điệp ngữ như là một yếu tố, nó góp phần như thế nào
vào một hệ thống lớn là tác phẩm văn học.
VD1 : + Trong bài “ Tiếng chổi tre’ của Tố Hứu )Văn 7)
Điệp ngữ “Tiếng chổi tre” xuất hiện bốn lần. đặt trong hệ thống bài
thơ, GV hướng HS xác định vào tổng thể lặp lại của “tiếng chổi tre” ở những
thời điểm nào? và nhìn vào tổng thể bài thơ điệp ngữ nhằm thể hiện điều gì?
Nhưng điều quan trọng GV phải nói được sự lặp lại diễn tả mặt thời gian gợi cho
người đọc một liên tưởng chị lao công làm việc một cách âm thầm, bền bỉ.
VD2: Mai sau
Mai sau
Mai sau...
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
( Tre Việt Nam- Nguyễn Duy, Ngữ Văn 7).
Sử dụng điệp ngữ “ Mai sau” nhấn mạnh sự trường tồn của tre, của người
Việt Nam. Tre là biểu tượng cho con người Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam.
VD3 “Ba nó bế nó lên. Nó hôn ba nó khắp mọi nơi. Nó hôn tóc, hôn cổ,
hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba nó nữa”.
( Chiếc lược ngà- Nguyễn Quang Sáng).
Điệp từ “hôn” xuất hiện liên tiếp, dồn dập diễn tả tình cảm thắm thiết, sâu
sắc của bé Thu đối với ba nó.
* Đổi trật tự cú pháp : Dùng phương pháp so sánh, GV đối chiếu hình
thức câu có trật tự bình thường với hình thức câu đảo thành phần để rút ra hiệu
quả của cách dùng này về mặt hình thức diễn đạt, nội dung ngữ nghĩa.
13


VD :

“Nó chết rồi, com chim của tôi.
Con chim se sẻ mới ra đời


Nắng ấm, hanh- gió bấc, lạnh

+ Sự vật :

Đồng ruộng nứt nẻ, lá giòn khô - ở giữa mùa đông rét mướt

+ Con người :

Thấy nóng bức, chảymồ hôi - mặc áo rét.

14


Nêu ý nghiã tác dụng : Toàn bộ sự đối lập này báo hiệu cảnh vật đã
chuyển mùa hay thời tiết đã chuyển mùa.
* Liệt kê: Dùng phương pháp phân tích - tổng hợp, GV khai thác hình
thức tu từ này trên cơ sở.
+ Phân tích các thành phần đồng chức bằng cách lý giải, đánh giá hiện
tượng, sự vật.
+ Tổng hợp: Phát hiện ra các mối liên hệ giữa các thành phần đồng chức
với nhau.
VD : “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà
hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỏ ổi... toàn
những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là người đáng thương;
không bao giờ ta thương...”
(Lão Hạc - Nam Cao , Văn 8)
Dùng phương pháp phân tích tổng hợp theo từng bước:
+ Phân tích : GV hướng dẫn HS tìm các thành phần đồng chức trong mối
quan hệ với chủ thể như : Họ - liên hệ với các thành phần đồng chức: Gàn dở,

trời đã bắt tội, cũng đành nhắm mắt liều...”.
( Tắt đèn- Ngô Tất Tố).
Lời độc thoại thể hiện một tâm trạng giằng xé tâm can chị Dậu: Một bên
là chồng bị trói, một bên là tiền bán chó, bán con rẻ mạt.
Các hình thức tu từ xuất hiện trong tác phẩm phong phú, đa dạng về mặt
nội dung lẫn hình thức. Ngoài những phương pháp nêu trên, GV có thể dùng
nhiều phương pháp dạy học Văn và Tiếng Việt để phân tích.
2. GIẢI PHÁP CỤ THỂ:
Do thời gian và khuôn khổ bài viết có hạn, vì vậy ở đây tôi chỉ đi sâu vào
cách làm kiểu bài: Phát hiện và phân tích tác dụng (hiệu quả) của biện pháp tu từ
trong đoạn thơ, văn (gọi là ngữ liệu).
Khi dạy về kiểu bài này tôi thường tiến hành theo các bước như sau:
Bước 1: Xác định đúng biện pháp tu từ có trong ngữ liệu và chỉ ra những
từ ngữ thực hiện biện pháp tu từ đó.
Bước 2: Phân tích giá trị biểu đạy ở ba phương diện:
+ Giá trị biểu đạt nội dung.
+ Giá trị đối với người cảm nhận.
+ Giá trị đối với tác giả.
Bước 3: Viết thành đoạn văn, bài văn ngắn.
Hoặc khi dạy về các kiểu bài nghị luận văn học, phải hướng dẫn học sinh
giải quyết đề thi theo từng loại bài cụ thể.
16


Thường gặp ở phân môn Tiếng Việt trong đề thi HSG là: chỉ ra và phân
tích tác dụng (hiệu quả thẩm mĩ, biểu đạt...) của biện pháp tu từ được sử dụng
trong đoạn thơ văn (gọi tắt là ngữ liệu).
Ví dụ đề văn: Chỉ ra và phân tích cái hay của các biện pháp tu từ trong
đoạn thơ sau:
“Đồng chiêm phả nắng lên không,

chang”. Phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác giúp ta cảm nhận tiếng hát của bà con
nông dân vang xa hòa quyện vào gió vào nắng tràn ngập không gian.
Câu thơ thứ tư với biện pháp khoa trương và đảo từ ngữ “ Long lanh lưỡi
hái” làm cho hình ảnh lưỡi hái dưới ánh mặt trời lóe sáng lên như những tia
chớp. Hình ảnh lãng mạn này còn nâng tầm vóc của con người lao động lớn lao
ngang tầm vũ trụ làm cho câu thơ giàu giá trị thẩm mĩ.
Như vậy chỉ với bốn dòng thơ, mỗi câu mỗi cảnh, từ ngữ, hình ảnh giàu
sức gợi cảm đặc biệt là việc sử dụng nhiều biện pháp tu từ độc đáo, Nguyễn Duy
đã giúp người đọc cảm nhận được bức tranh mùa gặt sinh động tràn ngập nắng,
gió, tiếng hát, niềm vui được mùa của bà con nông dân mà ta có thể thấy ở bất kì
đồng quê nào trên đất nước Việt Nam - quê hương của nền văn minh lúa nước.
+ Đối với tác giả: thể hiện được sự quan sát, liên tưởng tinh tế, tài tình và
tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống lao động và đã ngợi ca bằng cả tấm lòng
trân trọng mến yêu tự hào với những vẻ đẹp của con người cảnh sắc quê hương.
Từ đó khơi gợi trong ta tình yêu đối với vẻ đẹp rất đỗi bình dị của quê hương đất
nước.
Bước 3: Viết thành đoạn văn hay bài văn ngắn:
Đây là bước cuối cùng quyết định bài viết có thành công hay không.
Vì ta không nên hiểu làm bài về biện pháp tu từ nghĩa là kiểu bài tiếng
việt nên chỉ trả lời một cách máy móc cứng nhắc. Mà ta nên hiểu kiểu bài này
chính là một dạng cảm thụ văn học nên phải biết hướng dẫn học sinh trình bày
về biện pháp tu từ một cách sâu sắc có chất văn. Vì vậy phải đặt ngữ liệu có
chứa biện pháp tu từ trong hệ thống của toàn bài. (Giới thiệu qua về tác giả tác
phẩm rồi chuyển đến ngữ liệu mà mình phân tích để làm toát lên được cảm nhận
sâu sắc nhất của mình về giá trị của biện pháp tu từ đó).
Hoặc ở ví dụ 2: Cảm nhận của em về hiệu quả biểu đạt của phép tu từ
trong hai câu thơ :
“Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.”
(Quê hương - Tế Hanh)


Giải KK

Tổng
số giải

Đội tuyển 1

10

0

0

2

3

5

Đội tuyển 2

10

1

2

2


một vài kinh nghiệm bản thân nêu ra để mong sao góp phần nhỏ vào việc nâng
cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn nói chung và đối với kiểu
bài biện pháp tu từ nói riêng.
2. Kiến nghị:
- Về phía nhà trường, phòng GD-ĐT:
Cần quan tâm hơn để có sự chỉ đạo sát sao đối với công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi ở các trường và phải được thực hiện đồng bộ trên khắp địa bàn ở thành
phố.
Tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh dạy và học đội tuyển có khoảng
thời gian thích hợp và phải được đầu tư rèn luyện trong cả một quá trình lâu dài.
- Về phía giáo viên dạy đội tuyển:
Phải nâng cao vai trò trách nhiệm, có lòng say mê nhiệt tình đối với công
việc được giao.
Phải tích cực tham gia các chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi và rút kinh
nghiệm từ đồng nghiệp, từ các đề thi, đáp án trên mạng internet.
Mặc dù đã cố gắng song không thể tránh được các thiếu sót, rất mong
được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, của các đồng nghiệp để đề tài
của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Thanh Hóa, ngày 12 tháng 4 năm 2017
CAM KẾT KHÔNG COPY
Người viết

Lê Thị Nga
20


TÀI LIỆU THAM KHẢO

đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)

Năm học
đánh giá xếp
loại

Cấp tỉnh

B

2011-2012

Cấp tỉnh

B

2013-2014

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status