SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỌN LỌC VÀ BỒI DƯỠNG HỌC
SINH GIỎI MÔN VĂN Ở CÁC LỚP BAN KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐỂ ĐẠT KẾT QUẢ CAO"
1
A. ĐẶT VẤN ĐÊ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Hơn mười năm ra trường và được phân công về trường THPT Hoằng Hóa 3 làm nhiệm
vụ giảng dạy, dù công tác ở một địa bàn đóng xa trung tâm, “xa phủ”, “xa tỉnh” với hơn
80% học sinh bãi ngang, dù vị rí xếp loại toàn đoàn luôn nằm trong Top khiêm tốn của
Tỉnh nhưng những năm gần đây, môn Văn luôn đóng góp một lực lượng học sinh giỏi
hùng hậu, luôn mang về cho trường 8 đến 9 giải mỗi năm với việc chọn lọc học sinh giỏi
ở đa dạng các khối lớp. Trong đó có phải kể đến sự góp mặt ngày càng nhiều về lượng và
chất của các học sinh giỏi môn Văn đến từ các lớp ban Khoa học Tự nhiên (KHTN). Là
ban học của những lớp có học sinh mũi nhọn chủ yếu theo hai khối A, B nhưng bằng
nhiệt tình, bằng “con mắt xanh” trong cách nhìn nhận và đánh giá, chỉ trong một thời gian
ngắn với vẻn vẹn 3,4 tiết/ tuần trong phân phối cho phép, chúng tôi cũng đã ươm mầm và
bồi dưỡng được một số học sinh cùng đứng trong đội tuyển học sinh giỏi (HSG) của
trường và đã gặt hái những thành công nhất định.
2. Người giáo viên trực tiếp đứng lớp luôn tâm niệm và xác định một điều rằng: Một
trong những mục tiêu quan trọng của nghề dạy học là đào tạo ra những học sinh giỏi và
một trong những niềm sung sướng, vinh dự, hạnh phúc nhất trong cuộc đời người thầy là
đào tạo và bồi dưỡng được những học sinh giỏi. Muốn vậy, thì ngoài năng lực, tố chất
của học sinh còn cần có những kinh nghiệm để phát hiện, nhìn nhận và có những cách
thức bồi dưỡng phù hợp nhất dành cho đối tượng ấy để đem lại hiệu quả tốt nhất có thể.
Giỏi văn không chỉ là năng khiếu thiên bẩm. Cổ nhân có câu: “ngọc bất trác bất thành
văn được chọn lọc ở các lớp khối A, B và từ những kết quả thành công bước đầu của bản
thân có được qua hai khóa học liên tiếp với việc phát hiện, chọn lọc và bồi dưỡng học
sinh giỏi văn ở các lớp ban KHTN, tôi ấp ủ và mong muốn có một sự sẻ chia nho nhỏ
những kinh nghiệm của mình. Tôi chọn đề tài: Một số kinh nghiệm chọn lọc và bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Văn ở các lớp ban Khoa học Tự nhiên để đạt kết quả cao.
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Bồi dưỡng học sinh giỏi là một việc làm cần thiết đối với tất cả các cấp học trong nhà
trường, ở đây tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp. Đó là bàn về một số biện pháp, hình
thức bồi dưỡng học sinh giỏi, cụ thể là bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn ở các lớp ban
KHTN.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp tự nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.
- Phương pháp thực nghiệm và đối chứng.
- Phương pháp thống kê tổng hợp.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, đầy những khó
khăn, bởi vì học sinh giỏi là những học sinh có tố chất đặc biệt về khả năng cảm thụ, khả
năng tư duy và nhất là khả năng viết. Người giáo viên phải có quá trình tích lũy kinh
3
nghiệm, sự chuẩn bị và đầu tư nhiều hơn để có thể đạt hiệu quả và thuyết phục học sinh,
làm cho các em thực sự hứng thú và tin tưởng.
Một trong những nhiệm vụ trong tâm của các nhà trường là không ngừng nâng cao chất
lượng mũi nhọn bởi chính chất lượng đào tạo mũi nhọn hằng năm phản ánh phần nào
hiệu quả của công tác quản lí và chất lượng dạy - học nói chung của thầy trò nhà trường.
Điều đó vừa là trọng trách, cũng vừa là động lực kích thích sự nỗ lực và sáng tạo không
ngừng của thầy và tạo ra khí thế hăng say vươn lên học tập giành những đỉnh cao trong
2. Về phía học sinh, do nhiều nguyên nhân (chủ quan và khách quan), học sinh
không còn mặn mà với môn văn và số đông đã lựa chọn vào học các môn Tự nhiên để
tìm kiếm một cơ hội việc làm tốt hơn cho tương lai.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đời sống con người
được nâng cao, chúng ta được tiếp cận với nhiều loại hình giải trí khác nhau và lĩnh hội
thông tin bằng nhiều hình thức nhanh chóng qua internet, điện thoại di động làm cho văn
hóa nghe nhìn dường như đã lấn át văn hóa đọc khiến học sinh lười đọc sách, lười suy
nghĩ, suy nghĩ hời hợt, quan tâm đến những lợi ích vật chất trước mắt hơn những giá trị
nhân văn sâu bền, thụ động trong tiếp thu, phụ thuộc vào những bài văn mẫu. Nạn “văn
mẫu” đã làm thui chột tư duy, thui chột sự sáng tạo trong tiếp nhận văn học của phần lớn
học sinh.
3. Trường tôi đứng chân trên khu vực bãi ngang tám xã ven biển của huyện Hoằng Hóa
nên kinh tế còn nghèo nàn, khó khăn, dân trí thấp. Việc đầu tư cho con em học hành còn
nhiều hạn chế. Chất lượng đầu vào ở những trường vùng biển còn rất thấp so với mặt
bằng chung trong huyện và trong tỉnh. Đa số học sinh chỉ đạt học lực trung bình, trung
bình yếu, lượng khá giỏi thì rất ít. Học sinh phần lớn chưa ham học, chưa tự giác. Số ít
những học sinh khá giỏi, học đồng đều các môn lại chỉ chăm chú giành thời gian nhiều
cho các môn KHTN để ưu tiên cho mục tiêu thi Đại học nên có tâm lí đối phó với môn
Văn.
Trong "cái khó ló cái khôn", làm sao để học sinh từ lơ là đến say mê, từ bằng lòng đến
quyết tâm thể hiện khả năng còn tiềm ẩn của bản thân, từ bị thuyết phục đến tự nguyện
để rồi điều kì diệu là những học sinh ấy sau lần gặt hái được thành công tại kì thi học sinh
giỏi tỉnh đã quyết định thi Đại học bằng những khối thi có môn Văn? Đó là những câu
hỏi đặt ra, là những kết quả đã có trong thực tế mà tôi muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp không ít người đã làm được như tôi và hơn tôi rất nhiều để chúng ta cùng cảm thấy mình
được an ủi vì niềm tin mà học sinh đã mang lại cho môn Văn.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Phát hiện và chọn lọc học sinh giỏi ở các lớp ban KHTN
Muốn bồi dưỡng HSG trước hết người giáo viên phải biết phát hiện, chọn lọc và đặc biệt
đối với môn văn ở các lớp ban KHTN thì phải còn cần kiên nhẫn thuyết phục các em
chọn mình và có quyết tâm theo đuổi niềm say mê bộ môn. Thực tế cho thấy việc đánh
vũ và tạo điều kiện cho các bạn tham gia trước hết là dạt mục tiêu thi đua với các bạn
khối C, D trong toàn trường, sau đó là vì mục tiêu cao hơn ở kì thi cấp tỉnh.
Sau khi đã phát hiện và chọn lọc được HSG, công việc tiếp theo là làm sao để tổ chức tốt
các hoạt động bồi dưỡng riêng cho các em cùng với HSG ở các khối lớp khác giúp các
em mạnh dạn khi ôn luyện chung với với các bạn, bỏ được mặc cảm tự ti mình là dân
khối A. Hoạt động đó bao gồm: Cung cấp kiến thức, hướng dẫn tự học và rèn luyện kỹ
năng cho các em.
2. Cách thức bồi dưỡng.
2.1. Các giờ dạy chính khóa:
Theo phân phối chương trình bộ môn Văn, số tiết dạy chính khoá trong tuần của giáo
viên ở các lớp ban KHTN khối 12 là 3 tiết/ tuần (ở các lớp theo chương trình Nâng cao là
4 tiết/ tuần) và không bằng 1/2 số tiết dạy của giáo viên trường chuyên. Thời lượng để
6
dạy một tác phẩm cũng ít hơn rất nhiều. Vì vậy, giáo viên không có điều kiện đi sâu,
giảng kỹ tác phẩm; học sinh ít có cơ hội để được ôn luyện bài bản như học sinh ở các lớp
Xã hội và ở trường chuyên. Đây là một thực tế hết sức bất lợi cho cả thầy và trò trường
không chuyên trong những kì thi HSG tỉnh vì cả học sinh trường chuyên và không
chuyên đều cùng thi chung một đề (dĩ nhiên, những học sinh trường chuyên là những học
sinh đã được tuyển chọn kỹ lưỡng lúc vào trường lại được học tập, bồi dưỡng có hệ thống
sẽ có lợi thế hơn nhiều so với các em ở lớp heo ban KHTN trường không chuyên). Tuy
nhiên, dù khó khăn bao nhiêu chúng tôi cũng phải tìm được một cách giải, một lối thoát
cho mình.
Ở các lớp ban KHTN, vì số tiết giảng dạy trên lớp quá ít, việc Đọc - hiểu sâu kĩ các tác
phẩm lại cần nhiều thời gian nên gần như khi lên lớp, giáo viên phải tranh thủ từng giây
từng phút để truyền đạt đến các em nội dung cơ bản cô đọng nhất, giúp các em nắm chắc
trước hết là những kiến thức cơ bản để về nhà thực hành các bài viết. Vì vậy giờ giảng
văn trên lớp có một ý nghĩa cực kì quan trọng để tạo hứng thú và niềm say mê cho các
em.
bơ vơ...vv. Trong giờ giảng văn, giáo viên còn cần chú ý đến giọng điệu phải như thế nào
để có thể trước hết là lôi cuốn, thu hút sự chú ý của học sinh sau đó là góp phần tạo cho
các em tâm lí tiếp nhận văn chương một cách tự giác.
2.2. Các buổi phụ đạo, bồi dưỡng:
Ngoài thời gian hạn định trên lớp, tôi bố trí sắp xếp lịch cùng các em ôn luyện ở trường
vào một số buổi chiều mà lớp các em không ôn thi Đại học theo khối và ở nhà riêng vào
các chủ nhật. Tôi cung cấp các loại sách tham khảo, tài liệu đã chọn lọc trên mạng theo
chủ đề của từng bài và có các đề kèm theo sau đó để các em học, đọc đến đâu xong các
em thực hành luôn đến đó để khắc sâu kiến thức, nhuần nhuyễn kĩ năng và rèn luyện độ
trường sức, chữ viết, kinh nghiệm làm bài cho các em. Phát huy tối đa tinh thần tự học, tự
vận động của học sinh là chính trong thời gian bồi dưỡng. Sau mỗi buổi ôn luyện và cung
cấp tài liệu, ra đề bài đó, tôi cho các em một thời gian ấn định thu bài về chấm chữa kịp
thời để phát hiện những ưu và nhược điểm của mỗi học sinh. Chữa lỗi bài làm chủ điểm
để các em nhớ lâu và quyết tâm khắc phục. Cứ thế qua mỗi lần viết bài các em sẽ trưởng
thành rõ rệt và "quen tay" nhanh chóng.
Cụ thể công việc như sau:
2.2.1. Ngay sau khi thành lập đội tuyển cuối cùng, tôi tiến hành bồi dưỡng riêng theo
nhóm các em thuộc các lớp ban KHTN và xây dựng khung chương trình bồi dưỡng
theo chuyên đề cho các em
Buổi Tên bài dạy
1
Khái quát VHVN từ đầu XX - 1945
2
Hầu trời và Tản Đà
3
10
Thạch Lam với “Hai đứa trẻ”
11
Nguyễn Tuân với “Chữ người tử tù”
12
Khái quát về Văn học hiện thực phê phán 1930 1945
13
Vũ Trọng Phụng - “Hạnh phúc của một tang gia”
14
Nam Cao - Chí Phèo
15
Nam Cao - Đời thừa
16
Các tác phẩm của Hồ Chí Minh
17
24
Truyện ngắn sau 1975: Chiếc thuyền ngoài xa
(Nguyễn Minh Châu)
25
Các dạng nghị luận xã hội và cách làm bài
2.2.2. Cách rèn luyện các dạng đề HSG:
Thực tế giảng dạy giúp tôi ý thức một cách sâu sắc rằng, việc ra đề là khâu quan
trọng đầu tiên của quá trình phát hiện, kiểm tra, đánh giá và lựa chọn HSG. Đề đúng và
hay sẽ phân hoá được trình độ học sinh, giúp người thầy nắm trúng điểm mạnh, điểm yếu
của mỗi học sinh từ đó có thể đánh giá khách quan, chính xác, công bằng năng lực, sự cố
gắng vươn lên của học sinh đồng thời tạo được niềm tin và hứng thú học tập cho học
sinh, khi hiểu được năng lực của mình. Ngược lại, đề thiếu chính xác, sáo mòn không
những không đánh giá được chính xác về năng lực học sinh mà còn làm giảm thiểu hứng
thú học văn, tính độc lập sáng tạo của các em. Và hậu quả là việc rèn kỹ năng sẽ trở nên
vô nghĩa.
Trong những năm gần đây, cùng với sự thay đổi chương trình, đề thi HSG cũng đã
có nhiều đổi mới. Ngoài các tác phẩm quen thuộc đề thi chú trọng nhiều đến các tác
phẩm mới đưa vào chương trình như: Đàn ghi ta của Lorca, Ai đã đặt tên cho dòng
sông?, Chiếc thuyền ngoài xa, Một người Hà Nội. Bên cạnh đó, đề thi còn có sự thay đổi
dễ nhận thấy là ngoài phần nghị luận văn học còn có phần nghị luận xã hội, đặc biệt là
nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí trong đó đề cập đến những vấn đề xã hội quan
tâm. Đây là sự đổi mới thật sự phù hợp với xu hướng đưa văn học gần với cuộc sống để
đề thi bớt đi tính hàn lâm và nặng kiến thức sách vở.
Tôi thường tìm tòi và cho các em làm quen dần với những dạng đề thi HSG của các
năm trước đó hoặc đề hay của các trường khác trong và ngoài tỉnh bạn theo mức độ từ dễ
đến khó. Nhìn chung, tinh thần nhất quán của đề thi HSG là theo sát chương trình. Từ
Các dạng đề Nghị luận xã hội
- Ở phần NLXH, Giáo viên cần ra những đề bàn về vấn đề tư tưởng đạo lí thường được
thể hiện trong kho tàng tục ngữ, ca dao của dân tộc và thế giới, các câu nói của các nhà
văn, nhà thơ, các nhà chính trị... hay các đề bàn về một hiện tượng, sự việc con người…
có thật trong xã hội cả mặt tốt và mặt chưa tốt trên mọi phương diện của cuộc sống, cũng
có thể là các vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học.
*Đề bàn về vấn đề tư tưởng đạo lí thường được thể hiện trong kho tàng tục ngữ, ca
dao của dân tộc và thế giới.
Ca dao, tục ngữ, danh ngôn, cách ngôn thường thể hiện những nhận thức về các
quy luật, hiện tượng của thế giới tự nhiên mà con người bao đời đã đúc kết. Nó vừa hàm
súc vừa tinh tế, sâu sắc về ý nghĩa, uyển chuyển nhịp nhàng về vần điệu, rất giàu hình
ảnh, biểu tượng. Thông qua việc giải thích, chứng minh, bình luận các câu nói này học
sinh nhận được rất nhiều bài học từ cuộc sống.
11
Ví dụ:
+ Suy nghĩ của em về câu nói sau: "Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất
hương thơm"
+“Hãy học cách ứng xử của dòng sông: Gặp trở ngại, nó vòng tìm đường khác.”
Quan điểm của anh (chị ) về ý kiến trên như thế nào?
+ “Mẹ là trường học vĩ đại nhất của những người con”.
(Tục ngữ Tây Ban Nha)
*Đề bàn về câu nói của các nhà văn, nhà thơ, các nhà chính trị...
Với dạng đề này, Giáo viên sẽ kiểm tra được tầm nhận thức của học sinh về nhiều
vấn đề, nhiều lĩnh vực trong cuộc sống có thể học sinh chưa có sự va chạm. Bài làm vì
thế sẽ mang màu sắc cá nhân rõ nét hơn.
Ví dụ:
+ “Trong mơ ước có mặt tốt hơn thực tại. Trong thực tại có mặt tốt hơn mơ ước” (L.
Tôn-xtôi).
đó được bộc lộ qua diễn biến tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài Tự tình (bài II) ra
sao? Và được biểu hiện trong bài thơ Tự tình (bài II) như thế nào?
- > Tâm sự của Hồ Xuân Hương trong bài Tự tình (bài II) là tâm sự về tình duyên, về
hạnh phúc lứa đôi. Tâm sự đó được bộc lộ qua diễn biến tâm trạng: cô đơn, buồn tủi,
chán chường, đau khổ và cả sự phẫn uất, phản kháng.
+ Nêu cảm nghĩ của mình về tâm sự và diễn biến tâm trạng của Hồ Xuân Hương: cô đơn,
chán chường, đau khổ, phẫn uất, khát khao được sống hạnh phúc,…
+ Dẫn chứng, tư liệu: Học sinh lấy dẫn chứng trong bài thơ Tự tình (bài II) và từ chính
cuộc đời của Hồ Xuân Hương cũng như những bài thơ khác của bà có liên quan.
Như vậy, sau khi giáo viên hướng dẫn, học sinh đã có kĩ năng phân tích đề và hình
thành thói quen luôn biết cách phân tích đề khi bắt gặp bất kì dạng đề, kiểu đề nào trong
khi thi.
2.2.4. Rèn kỹ năng lập dàn ý
Để giúp học sinh thực hiện được yêu cầu trên, tôi thường hướng dẫn các em đi tuần
tự theo các bước sau:
+ Tìm yêu cầu trọng tâm của đề, các khía cạnh, phương diện cần triển khai.
+ Xác định quan hệ và vai trò của luận điểm: Những khía cạnh, phương diện ấy quan hệ
với nhau như thế nào? Phương diện nào thể hiện tập trung và rõ nét các yêu cầu trọng tâm
của đề?
+ Sắp xếp luận điểm sao cho hợp lí, lôgic nhất.
13
Ví dụ: Lập dàn ý cho đề văn "Vẻ đẹp độc đáo và đa dạng của sông Hương qua bút kí Ai
đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường".
Với đề bài trên, học sinh phải xác định được phạm vi đề và gạch chân dưới những
từ ngữ quan trọng, là nội dung trọng tâm đề yêu cầu. Đó là các từ: Vẻ đẹp độc đáo, đa
dạng của Sông Hương.
+ Giải thích và tìm dẫn chứng cho: Vẻ đẹp độc đáo (Con sông thuộc về một thành phố
thời gian giữa các câu trong đề thi cho hợp lí, tránh tình tr ạng viết tùy hứng và viết
thừa, thiếu thời gian trong bài thi.
2.2.6. Tiến hành chấm và chữa bài
Đối với các em HSG Văn ở các lớp ban KHTN. Khi chấm, giáo viên phải chỉ ra các
lỗi cụ thể về dùng từ, viết câu, tổ chức ý, chữ viết, hành văn… phân tích cho học sinh
hiểu nguyên nhân và định hướng cách chữa để học sinh có thể tự sửa chữa các lỗi của
mình. Ưu điểm nổi bật ở các HSG môn Văn ban KHTN là khả năng diễn đạt gãy gọn,
trong sáng, tiếp thu kiến thức nhanh, chính xác nhưng đôi khi lại sa vào khô khan, kém
độ uyển chuyển, mượt mà trong cách dẫn dắt vấn đề và ít có được những câu văn giàu
hình ảnh làm lay động cảm xúc của người đọc. Giáo viên phải là người nắm được điểm
mạnh, điểm yếu để các em hoàn thiện và sửa chữa kịp thời. Và để tạo hứng thú, giáo viên
có thể tổ chức hướng dẫn học sinh đọc và chữa bài cho nhau để kích thích tinh thần "đọc
văn người, sửa văn mình".
Vì số lượng HSG tham gia đội tuyển của nhà trường không nhiều, lại rải rác ở từng
lớp nên tôi thường tranh thủ thời gian chấm chữa luôn trên lớp, lúc không có giờ dạy
hoặc thời gian ra chơi. Cuối giờ, gặp gỡ từng em, cô trò cùng trao đổi và lại bắt tay vào
ngay bài viết mới mà giáo viên đã in sẵn đề theo bài học chính khóa. Việc chấm chữa chi
tiết, kịp thời sẽ giúp các em tiến bộ h nhanh chóng sau mỗi bài viết.
IV. KIỂM NGHỆM
Với việc sử dụng một số biện pháp, hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi ở các lớp
ban KHTN đã thực hiện trong thời gian qua, tôi đã đạt được kết quả khả quan sau đây :
Năm học 2011– 2012: - Số học sinh tham gia dự thi là: 1 em
- Số học sinh đạt giải: 1 em
Năm học 2012 – 2013: - Số học sinh tham gia dự thi là: 2 em
- Số học sinh đạt giải: 2 em
Cụ thể số học sinh đạt học sinh đạt giải HSG cấp tỉnh môn Ngữ văn ở các lớp ban
KHTN là:
Năm học
Trong số 3 em học sinh học các lớp ban KHTN đạt giải trên đã có 2 em nửa cuối
Học kì 2 của lớp 12 đã quyết định chuyển sang khối thi có môn Văn.
Kết quả này cho thấy: Số học sinh ở các lớp ban KHTN tham gia chưa nhiều và chưa đạ
giải cao nhưng ở một nhà trường vẫn còn lực lượng đông đảo HSG môn Văn được chọn
ở các lớp khối C, D thì con số trên là điều đáng để tự hào. Và rõ ràng bước tiến qua hằng
năm về số lượng học sinh tham gia cũng như tỉ lệ 100% học sinh tham gia thi đều đạt giải
đã phản ánh được hiệu quả của những phương pháp, hình thức lựa chọn, phát hiện để bồi
dưỡng học sinh giỏi mà tôi đã nêu ra ở trên
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI
I. KẾT LUẬN
Dạy Văn vừa là khoa học Sư phạm vừa là là một nghệ thuật. Người giáo viên khi đã chọn
nghề dạy học là phải có tâm yêu nghề, say sưa với chuyên môn, miệt mài với học sinh dù
là có thể chỉ là công việc “đãi cát tìm vàng”. Mục tiêu hướng tới và là niềm hạnh phúc
nhất trong cuộc đời của người thầy là đào tạo bồi dưỡng được thật nhiều học trò giỏi. Đó
là tâm nguyện của tôi cũng như bao nhiêu đồng nghiệp khác. Tuy nhiên để có được thành
quả tốt đẹp thì không chỉ dựa vào khả năng vốn có của học sinh mà mỗi người giáo viên
chúng ta phải luôn tìm tòi, sáng tạo, trăn trở và nỗ lực không ngừng với nhiều cách thức
và phương pháp tối ưu nhất theo mình để giảng dạy, bồi dưỡng cho các em.
Hy vọng rằng những kinh nghiệm nho nhỏ trong bài viết này sẽ nhận được các ý kiến trao
đổi quý báu từ các đồng nghiệp để chúng ta hoàn thiện mình và học hỏi lẫn nhau góp
phần nâng cao hơn nữa hiệu quả trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi - đặc biệt là bồi
dưỡng học sinh giỏi ở các lớp theo ban KHTN, một công tác rất vất vả, nặng nề nhưng
cũng rất đỗi tự hào của người giáo viên dạy Văn.
II. KIẾN NGHỊ
- Tạo điều kiện về thời gian và tài liệu hỗ trợ hơn nữa cho giáo viên dạy Văn ở các
lớp ban KHTN có HSG.
- Tăng cường giao lưu trao đổi và học hỏi kinh nghiệm với các trường khác trong và
ngoài tỉnh.
- Có cơ chế ưu tiên thời gian đặc biệt, động viên khuyến khích đối với các học sinh ban
KHTN tham gia bồi dưỡng HSG môn Văn nói riêng và các bộ môn Xã hôi nói chung.