KINH NGHIỆM PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH
GIỎI MÔN VĂN
KINH NGHIỆM PHÁT HIỆN VÀ BỒI DƯỠNG
HỌC SINH GIỎI MÔN VĂN Ở TRƯỜNG THPT KHÔNG
CHUYÊN
1. Đặt vấn đề
1.1. Bàn về chuyện dạy văn trong không khí văn chương
buồn tẻ như ở nhà trường THPT hiện nay đã khó, nói đến
chuyện bồi dưỡng học sinh giỏi (HSG) môn văn lại càng khó
hơn. Với tôi, chuyện người thầy phát hiện và bồi dưỡng học
sinh giỏi cũng như người trồng hoa. Bông hoa đẹp bởi bàn tay
người chăm bón, nâng niu. Nhưng đâu phải khi nào hoa cũng
khoe sắc rực rỡ. Chỉ cần một cơn trở gió, một sự thay đổi tiết
trời, một sự lãng quên bất cẩn của người là hoa kém sắc, cây
không trổ bông.
Có đồng nghiệp nói với tôi rằng, giỏi văn chỉ là "thiên
bẩm". Là người trực tiếp giảng dạy môn văn đã nhiều năm ở
phổ thông, tôi không nghĩ như vậy. Với tôi, người thầy dạy văn
trong trường học không phải là chất xúc tác trong quá trình biến
đổi chất! Năng khiếu và tri thức văn chương nói riêng, tri thức
văn hoá nói chung được bồi đắp theo năm tháng, gắn liền với sự
nhạy bén của tố chất cá nhân đã làm nên hồn văn ở học sinh.
1.2. Trong nhà trường THPT, nhất là ở những trường không
chuyên, việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi như thế nào
để đạt kết quả tốt, quả là một vấn đễ không đơn giản. Trường
Huỳnh Thúc Kháng chúng tôi, việc bồi dưõng HSG đã có sự
quan tâm và đầu tư nhất định. Hằng năm, qua các kỳ thi HSG
tỉnh chúng tôi đã gặt hái được những thành công đáng kể. Song
đáng tiếc là số học sinh đạt giải môn văn lại chưa nhiều. Điều
này có nguyên nhân từ cả hai phía. Trước hết là từ phía người
tượng, sự liên tưởng để sống sâu sắc hơn với những cái mình đã
đọc, đã học.
HSG văn là những học sinh có những tư chất bẩm sinh,
như tiếp thu nhanh, có tri nhớ bền vững, có khả năng phát hiện
vấn đề và có khả năng sáng tạo (có ý tưởng mới trong bài làm).
HSG văn phải có vốn tri thức phong phú và hệ thống, thuộc
nhiều thơ văn trong và ngoài chương trình qua sự tìm đọc, tích
luỹ; phải có sự hiểu biết càng nhiều càng tốt về con người và xã
hội.
Chẳng hạn nhờ có sự say mê tìm đọc mà một học sinh đã biết
thêm ý kiến của thầy giáo Mai Văn Hoan về cách hiểu câu thơ:
"Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng " là phải dựa vào đặc điểm
cây bồ đề - một loại cây cao chừng15m, búp non, phủ lông mịn
màu vàng, hoa nhỏ mọc thành chùm. Bồ đề có hai loại: loại hoa
trắng gọi là cánh kiến trắng, loại hoa vàng gọi la cánh kiến vàng.
Loại cánh kiến hoa vàng thường mọc trên vùng sỏi sạn ở độ cao
300-700 m. Nhựa của nó vừa là loại thuốc quí, vừa để chế ra
chất keo gắn kết rất chặt. Phải chăng vì những phẩm chất đó mà
nhà thơ Chế Lan Viên so sánh "Tình yêu ta như cánh kiến hoa
vàng" - một tình yêu đẹp được ươm mầm trong gian khổ, khó
khăn và khăng khít keo sơn mãi mãi.
Một trong những biểu hiện không thể thiếu và thường khó
giấu của HSG văn là rất giàu cảm xúc và thường nhạy cảm trước
mọi vấn đề, trước cuộc sống. Biểu hiện thường thấy ở những
học sinh này là dễ vui nhưng cũng rất dễ buồn trước những vấn
đề đặt ra trong tác phẩm và nhất là do sự tác động qua lời giảng
của giáo viên. Thường thì đây là những học sinh sống rất tình
cảm, thích gần gũi với thầy cô, bạn bè và với mọi người, hay bộ
lộ quan điểm tình cảm và chiều sâu nội tâm của mình thông qua
cách phát biểu trực tiếp hoặc gián tiếp qua các bài viết. Sự nhạy
lộ ra ở từng học trò phải được nhận biết, nét tài hoa của từng học
sinh cần phải được ghi nhận và trân trọng. Khi chấm bài, thầy cô
không chỉ chú trọng những bài chu đáo, khuôn mẫu, đầy đủ mà
còn quan tâm đến những bài có thể có chỗ chưa sâu, nhưng có
chỗ độc đáo, sâu sắc phải sửa kỹ, phê kĩ, thật sự nghiêm khắc
khi đánh giá và có nhật kí chấm bài. Dĩ nhiên, một bài viết
không thể đánh giá được quá trình nhưng đó là sự khởi đầu để
định hướng phát hiện, bổ sung ở những bài viết tiếp theo vì việc
tuyển chọn HSG không chỉ dừng lại ở một số bài viết mà phải
theo dõi cả quá trình học tập.
3. Bồi dưỡng HSG văn
3.1. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng HSG
Theo phân phối chương trình môn văn, số tiết dạy chính
khoá trong tuần của giáo viên ở trường THPT không chuyên, chỉ
bằng 1/2 số tiết dạy của giáo viên trường chuyên. Thời lượng để
dạy một tác phẩm cũng ít hơn rất nhiều. Vì vậy, giáo viên không
có điều kiện đi sâu, giảng kỹ tác phẩm; học sinh ít có cơ hội để
được ôn luyện bài bản như học sinh ở các trường chuyên. Đây là
một thực tế hết sức bất lợi cho cả thầy và trò trường không
chuyên trong những kì thi HSG tỉnh vì cả học sinh trường
chuyên và không chuyên đều cùng thi chung một đề (dĩ nhiên,
những học sinh trường chuyên là những học sinh đã được tuyển
chọn kỹ lưỡng lúc vào trường lại được học tập, bồi dưỡng có hệ
thống sẽ có lợi thế hơn nhiều so với các em ở trường không
chuyên). Những khó khăn đó chính là bài toán nan giải đối với
những giáo viên giảng dạy ở trường không chuyên như chúng
tôi. Tuy nhiên, dù khó khăn bao nhiêu chúng tôi cũng phải tìm
được một cách giải, một lối thoát cho mình.
Sau khi đã Shát hiện và thành lập được đội ngũ HSG công
việc tiếp theo là xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch bồi
bật một vấn đề nào đó liên quan đến phong cách của một tác gia,
hay một đặc điểm quan trọng của tiến trình lịch sử văn học dân
tộc Nhìn chung, tinh thần nhất quán của đề thi HSG là theo
sát chương trình. Từ nhận thức đó, trong quá trình ra đề rèn
luyện kỹ năng cho học sinh, tôi thường tập trung vào một số
dạng đề cơ bản sau:
a. Đề kiểm tra khả năng cảm thụ tác phẩm văn học
Dạng đề này phải gắn với những tác phẩm hay có trong chương
trình.D
Ví dụ:
+ Nhận xét về nghệ thuật "tả cảnh ngụ tình"của Nguyễn Du
trong Truyện Kiều, có ý kiến cho rằng:
" Thiên nhiên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là thiên
nhiên biết xúc động, biết cảm nhận được mọi tâm trạng con
người. Nó hiện lên như một người bạn tri kỷ, cùng chịu đựng
nỗi đau, cùng chia sẻ niềm vui với con người. "
Dựa vào những hiểu biết của em về Truyện Kiều, hãy làm
sáng tỏ ý kiến trên.
+ Kết thúc tác phẩm "Đời thừa", nhân vật Hộ tự xỉ vả
mình:
-Anh anh chỉ là một thằng khốn nạn!
Còn nhân vật Từ nói:
-Không! Anh chỉ là một người khổ sở chính vì
em mà anh khổ!
Từ kết thúc trênT, anh (chị) phân tích và bình luận về tình
cảm nhân đạo sâu sắc của nhà văn Nam Cao được thể hiện trong
tác phẩm.
+ Phân tích vẻ đẹp của dòng sông Bạch Đằng trong bài
Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu
Qua dạng đề này có thể kiểm tra được kiến thức cơ bản của
sinh hiểu và biết khái quát năng cao thành những vấn đề lí luận
văn học cơ bản.
c. Đề rèn luyện kỹ năng so sánh văn học
Đây là một trong những dạng đề khó, nhưng học sinh dễ có
cơ hội để phát huy năng khiếu và sở trường riêng của một HSG.
Nó đòi hỏi học sinh vùa nắm được những vấn đề cụ thể, chi tiết,
vừa biết khái quát tổng hợp và lý giải vấn đề. Có thể so sánh tác
phẩm cùng đề tài, cảm hứng trong một giai đoạn văn học, của
một tác giả hoặc khác giai đoạn, khác tác giả
Ví dụ:
+ Có ý kiến cho rằng, "Mời trầu" và "Tự tình", hai bài thơ,
hai giọng điệu khác nhau nhưng cùng một "chất" Xuân Hương.
Hãy phân tích và làm sáng tỏ ý kiến trên.
+So sánh sự giống và khác nhau giữa bài thơ "Thu vịnh"
của Nguyễn Khuyến và " Đây mùa thu tới" của Xuân Diệu.
+ So sánh bức tranh mùa thu trong thơ Xuân Diệu qua bốn
câu mở đầu bài "Thơ duyên" và "Đây mùa thu tới".
+ Vẻ đẹp hình tượng người lính qua hai bài thơ "Đồng chí "
của Chính Hữu và "Tây Tiến" của Quang Dũng.
+ Phân tích đặc sắc riêng về cảm hứng đất nước ở bài thơ
"Đất nước" của Nguyễn Đình Thi và "Đất nước" (Chương V C
-Trích Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm.
+ Những tương đồng và khác biệt trong cách cảm nhận và
thể hiện số phận người nông dân nghèo qua hai tác phẩm Vợ
chồng A Phủ (Tô Hoài) và Vợ nhặt (Kim Lân).
3.2.2. Rèn luyện kỹ năng phân tích đề
Xét đến cùng, việc dạy HS làm bài, rèn luyện kỹ năng
nghị luận văn học là một trong những khâu quan trọng, ảnh
hưởng quyết định đến kết quả thi HSG. Đây là khâu yếu nhất
của HS (kỹ năng phân tích đề, lập dàn ý, dựng đoạn, liên kết
Bước đầu tiên trong rèn kỹ năng lập dàn ý tôi thường yêu
cầu học sinh phải lập dàn ý sơ lược theo yêu cầu: +đề xuất được
hệ thống luận điểm sẽ triển khai trong bài viết; + xác định mối
quan hệ giữa các luận điểm, tầm quan trọng của mỗi luận điểm
trong việc thể hiện các yêu cầu của bài; + sắp xếp các luận điểm
theo trình tự chặt chẽ, khoa học.
Để giúp học sinh thực hiện được yêu cầu trên, tôi thường
hướng dẫn các em đặt hệ thống câu hỏi và tự trả lời: + câu hỏi
tìm luận điểm: Yêu cầu trọng tâm của đề là gì? Vấn đề cần giải
quyết có thể triển khai ở những khía cạnh, phương diện nào? +
Câu hỏi xác định quan hệ và vai trò của luận điểm: Những khía
cạnh, phương diện ấy quan hệ với nhau như thế nào? Phương
diện nào thể hiện tập trung và rõ nét các yêu cầu trọng tâm của
đề? + Câu hỏi sắp xếp luận điểm: Các khía cạnh, nội dung cần
nghị luận được trình bày như thế nào là tối ưu nhất?
Những nội dung này học sinh được suy nghĩ trong vòng
25-30 phút, sau đó học sinh sẽ trình bày ngắn gọn bằng hình
thức nói (yêu cầu phải nói rõ căn cứ để nhận thức đề, đề xuất
luận điểm và sắp xếp ý). Cuối cùng giáo viên mới chữa hoàn
chỉnh.
Chẳng hạn, với đề văn: Trong kiệt tác TKiều, Nguyễn
Du viết:
"Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng".
Anh (chị) hiểu như thế nào về câu thơ trên? Bằng sự hiểu
biết về Truyện Kiều và bài thơ Độc Tiểu Thanh kí của ND, hãy
làm sáng tỏ ý thơ trên. /.
Ở đề trên, học sinh cần đề xuất được các luận điểm chính
sau:
- Giải thích ý nghĩa câu thơ của ND ("những điều trông thấy""?
theo các hình thức:
+Viết thành văn một đoạn ý: - Đoạn văn giải thích; - Đoạn
văn chứng minh một luận điểm trong bài (thường là luận điểm
chính); - Đoạn văn bình luận nâng cao.
+Viết thành bài văn hoàn chỉnh ở nhà trên cơ sở dàn ý đã
được giáo viên chữa (khoảng 2 bài /1 tuần).
+Viết thành bài văn hoàn chỉnh trên lớp trong thời gian
quy định (180 phút). Yêu cầu trước hết đối với học sinh là phải
diễn dạt lưu loát rõ ý; chữ viết sạch sẽ, dễ đọc, không mắc lỗi
chính tả, dùng từ, viết câu. Từ đó nâng dần yêu cầu học sinh
phải viết được những đoạn văn hay, có cách dùng từ chính xác,
sáng tạo, mới lạ, có giọng văn riêng, thể hiện được dấu ấn,
phong cách của người viết.
Để đạt được những yêu cầu đó, học sinh phải tham khảo
những bài văn mẫu do giáo viên lựa chọn, định hướng; Có thể
học tập cách viết của các bạn của mình (những đoạn, những ý
mà giáo viên cho là đúng và hay). Hình thức này rất có hiệu quả
bởi đó là những đoạn văn, bài văn hay do chính các em viết; Các
em rất tự hào khi có được bài văn, đoạn văn hay mà được thầy
cô và bạn mình trân trọng.
Kỹ năng viết thành văn phải được tiến hành thường xuyên
bằng hình thức ra đề cho các em làm thêm ở nhà, giáo viên
tranh thủ chấm và chữa kỹ cho các em.
3.2.5. Chấm và chữa bài
Đối với các em HSG§, khi chấm bài giáo viên phải chỉ ra
được điểm mạnh, yếu cơ bản của mỗi bài; theo dõi và động viên
kịp thời mức độ tiến bộ của mỗi học sinh trong từng bài viết.
Khi chấm, giáo viên phải chỉ ra các lỗi cụ thể về dùng từ, viết
câu, tổ chức ý phân tích cho học sinh hiểu nguyên nhân và
định hướng cách chữa để học sinh có thể tự sửa chữa các lỗi của