Một số kinh nghiệm chọn lọc và bồi dưỡng học sinh giỏi môn văn ở các lớp ban KHTN để đạt kết quả cao - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỌN LỌC VÀ BỒI DƯỠNG HỌC
SINH GIỎI MÔN VĂN Ở CÁC LỚP BAN KHOA HỌC TỰ NHIÊN
ĐỂ ĐẠT KẾT QUẢ CAO"

1


2


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Hơn mười năm ra trường và được phân công về trường THPT Hoằng Hóa 3 làm nhiệm
vụ giảng dạy, dù công tác ở một địa bàn đóng xa trung tâm, “xa phủ”, “xa tỉnh” với hơn
80% học sinh bãi ngang, dù vị rí xếp loại toàn đoàn luôn nằm trong Top khiêm tốn của
Tỉnh nhưng những năm gần đây, môn Văn luôn đóng góp một lực lượng học sinh giỏi
hùng hậu, luôn mang về cho trường 8 đến 9 giải mỗi năm với việc chọn lọc học sinh giỏi
ở đa dạng các khối lớp. Trong đó có phải kể đến sự góp mặt ngày càng nhiều về lượng và
chất của các học sinh giỏi môn Văn đến từ các lớp ban Khoa học Tự nhiên (KHTN). Là
ban học của những lớp có học sinh mũi nhọn chủ yếu theo hai khối A, B nhưng bằng
nhiệt tình, bằng “con mắt xanh” trong cách nhìn nhận và đánh giá, chỉ trong một thời gian
ngắn với vẻn vẹn 3,4 tiết/ tuần trong phân phối cho phép, chúng tôi cũng đã ươm mầm và
bồi dưỡng được một số học sinh cùng đứng trong đội tuyển học sinh giỏi (HSG) của
trường và đã gặt hái những thành công nhất định.
2. Người giáo viên trực tiếp đứng lớp luôn tâm niệm và xác định một điều rằng: Một
trong những mục tiêu quan trọng của nghề dạy học là đào tạo ra những học sinh giỏi và
một trong những niềm sung sướng, vinh dự, hạnh phúc nhất trong cuộc đời người thầy là
đào tạo và bồi dưỡng được những học sinh giỏi. Muốn vậy, thì ngoài năng lực, tố chất

thông. Nó góp phần phát hiện bồi dưỡng để tiến tới đào tạo một phẩm chất, một lực
lượng lao động đặc biệt của xã hội, lao động sáng tạo nghệ thuật. Nó kích thích cổ vũ
mạnh mẽ ý thức tự giác, lòng say mê và ý chí vươn lên trong học tập, tu dưỡng của học
sinh nói chung. Nó còn là một việc làm thiết thực góp phần nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cho giáo viên và tạo nên bề dày thành tích, “thương hiệu” cho các nhà
trường Phổ thông hiện nay.
Xuất phát từ bản chất bộ môn, thực tế của rất nhiều nhà trường hiện nay có học sinh giỏi
văn được chọn lọc ở các lớp khối A, B và từ những kết quả thành công bước đầu của bản
thân có được qua hai khóa học liên tiếp với việc phát hiện, chọn lọc và bồi dưỡng học
sinh giỏi văn ở các lớp ban KHTN, tôi ấp ủ và mong muốn có một sự sẻ chia nho nhỏ
những kinh nghiệm của mình. Tôi chọn đề tài: Một số kinh nghiệm chọn lọc và bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Văn ở các lớp ban Khoa học Tự nhiên để đạt kết quả cao.
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5


Bồi dưỡng học sinh giỏi là một việc làm cần thiết đối với tất cả các cấp học trong nhà
trường, ở đây tôi chỉ nghiên cứu trong phạm vi hẹp. Đó là bàn về một số biện pháp, hình
thức bồi dưỡng học sinh giỏi, cụ thể là bồi dưỡng học sinh giỏi môn Văn ở các lớp ban
KHTN.
III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp tự nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.
- Phương pháp thực nghiệm và đối chứng.
- Phương pháp thống kê tổng hợp.
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ rất quan trọng, đầy những khó
khăn, bởi vì học sinh giỏi là những học sinh có tố chất đặc biệt về khả năng cảm thụ, khả
năng tư duy và nhất là khả năng viết. Người giáo viên phải có quá trình tích lũy kinh

Vậy việc bồi dưỡng học sinh môn Văn không nằm ở trường chuyên, lớp theo khối có
môn Văn như vậy, chúng tôi gặp khó khăn gì?
1. Trước hết là việc dạy của người thầy. Do phải bám sát việc thực hiện theo phân
phối chương trình, người thầy không có điều kiện đầu tư về chiều sâu trong giờ giảng;
thời gian tập trung bồi dưỡng cho HSG cũng không nhiều (thường thì những em được
chọn đi thi HSG chỉ được tập trung bồi dưỡng 8 - 10 buổi). Về phía học sinh, ngoài vấn
đề năng khiếu - chất lượng đầu vào chưa cao, còn có một đặc thù nữa là các em phải
dành hết thời gian và tâm sức cho các môn Tự nhiên (Khối A, B) mà sau này sẽ chon để
thi Đại học. Thiết nghĩ, việc phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi nếu được đầu tư một
cách thích đáng và tiến hành bài bản, kết quả sẽ khả quan hơn, kéo theo đó là hứng thú
học văn sẽ phần nào được cải thiện nên phát hiện bồi dưỡng năng khiếu văn chương.
2. Về phía học sinh, do nhiều nguyên nhân (chủ quan và khách quan), học sinh
không còn mặn mà với môn văn và số đông đã lựa chọn vào học các môn Tự nhiên để
tìm kiếm một cơ hội việc làm tốt hơn cho tương lai.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đời sống con người
được nâng cao, chúng ta được tiếp cận với nhiều loại hình giải trí khác nhau và lĩnh hội
thông tin bằng nhiều hình thức nhanh chóng qua internet, điện thoại di động làm cho văn
hóa nghe nhìn dường như đã lấn át văn hóa đọc khiến học sinh lười đọc sách, lười suy

8


nghĩ, suy nghĩ hời hợt, quan tâm đến những lợi ích vật chất trước mắt hơn những giá trị
nhân văn sâu bền, thụ động trong tiếp thu, phụ thuộc vào những bài văn mẫu. Nạn “văn
mẫu” đã làm thui chột tư duy, thui chột sự sáng tạo trong tiếp nhận văn học của phần lớn
học sinh.
3. Trường tôi đứng chân trên khu vực bãi ngang tám xã ven biển của huyện Hoằng Hóa
nên kinh tế còn nghèo nàn, khó khăn, dân trí thấp. Việc đầu tư cho con em học hành còn
nhiều hạn chế. Chất lượng đầu vào ở những trường vùng biển còn rất thấp so với mặt
bằng chung trong huyện và trong tỉnh. Đa số học sinh chỉ đạt học lực trung bình, trung

sinh có thể đi xa hơn nữa nếu được bồi dưỡng bài bản, dài hơi.

10


Thứ nữa là tôi không chỉ chọn những học sinh tạo ấn tượng ở ngay bài làm đầu tiên hoặc
có kiến thức nhưng lại đều đều, không tiến, không lùi qua các bài kiểm tra mà tôi chọn
những học sinh có sự trưởng thành rõ rệt theo thứ tự các bài kiểm tra số 1, số 2, số 3...
đặc biệt là ở hai năm học lớp 11 và lớp 12 - là năm nội dung học cũng là phạm vi nội
dung thi trong chương trình thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Đó là những học sinh yêu văn và
có những nỗ lực trong việc thể hiện mình và biết tìm tòi, trân trọng với các đề bài kiểm
tra do cô giáo giao.
Thực tế trong các trường THPT hiện nay cho thấy phải rất khó khăn để một giáo viên
Văn dạy các lớp ban KHTN có thể động viên, bồi dưỡng để các em chịu “gật đầu” mọt
cách tự nguyện và coi việc mình được cô giáo lựa chọn là một trọng trách để nghiêm túc
“bớt chút” thời gian đầu tư cho công tác ôn luyện cùng đội tuyển của trường. Bản thân
giáo viên dạy cũng phải luôn tạo được hứng thú bộ môn và hiểu học sinh để đánh thức
niềm say mê, sự miệt mài trong các em, hướng các em thi đua để tạo được những thành
tích. Người ta thường nói “khiển tướng không bằng khích tướng”, tôi luôn làm công tác
tư tưởng với các em trong mỗi giờ học, khích lệ các em và kêu gọi lớp học đó cùng tôi cổ
vũ và tạo điều kiện cho các bạn tham gia trước hết là dạt mục tiêu thi đua với các bạn
khối C, D trong toàn trường, sau đó là vì mục tiêu cao hơn ở kì thi cấp tỉnh.

11


Sau khi đã phát hiện và chọn lọc được HSG, công việc tiếp theo là làm sao để tổ chức tốt
các hoạt động bồi dưỡng riêng cho các em cùng với HSG ở các khối lớp khác giúp các
em mạnh dạn khi ôn luyện chung với với các bạn, bỏ được mặc cảm tự ti mình là dân
khối A. Hoạt động đó bao gồm: Cung cấp kiến thức, hướng dẫn tự học và rèn luyện kỹ

của nhà văn Nam Cao, ta có thể dùng câu chữ như: Là nhà văn tuy đến với văn đàn hiện
thực phê phán khá muộn nhưng đã sớm tìm cho mình một lối đi riêng. Ông đã biết lách
ngòi bút của mình vào chỗ da non nhất của lòng người để từ đó bật lên những tiếng tơ

13


đàn thánh thiện. "Chí Phèo" là một tác phẩm tiêu biểu cho lối viết ấy. Tác phẩm được
đánh giá là "Một thứ quả lạ của một phong cách chín ngay từ đầu"...
Một ví dụ khác: Ta có thể bắt đầu lời dẫn vào "Vội vàng" của Xuân Diệu bằng một
câu nói nổi tiếng của Anhxtanh: "Nếu đi ngang với vận tốc thì tháng ngày sẽ trở lên vĩnh
cửu", hay bằng chính một câu nói của Xuân Diệu : "Thời gian chỉ là sự cử động. Nếu tôi
đứng - nếu máu tôi ngừng... thời gian của tôi không còn nữa". Với "Đây thôn Vĩ Dạ" của
Hàn Mặc Tử chúng ta có thể dẫn vào bằng một câu nói rất nổi tiếng của Pôn Valêri : "Cái
đẹp làm ta tuyệt vọng"
Từ thực tế giảng dạy chúng tôi thấy rằng, khi dẫn vào bài với những câu từ như vậy
có thể tạo ấn tượng mạnh cho học sinh, đánh thức những tâm hồn phẳng lặng còn thờ ơ
với môn văn, các em sẽ tỏ thái độ trầm trồ xuýt xoa và sau đó là sự hào hứng, hồ hởi
bước vào bài mới.
Giáo viên cũng nên hướng học sinh giỏi vào việc tư duy trọng tâm các vấn đề trong tác
phẩm. Ví dụ khi giảng "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử, chúng ta không thể không
gieo vào tâm tư suy nghĩ, khơi dậy trong các em những khám phá tìm tòi cắt nghĩa, lí giải
về cấu trúc đặc biệt của bài thơ này. Bài thơ có ba khổ thơ, mỗi khổ thơ là một câu hỏi
gắn liền với đại từ phiếm chỉ "Ai?", "Vườn ai?", "Thuyền ai?", "Ai biết tình ai?". Và để
rồi giúp các em hiểu ra rằng: Cả bài thơ là một niềm dõi theo đến đau đáu, một khát khao

14


đến đớn đau mong được giao cảm, được cứu vớt trong chiều sâu của một cõi lòng cô độc,

Hầu trời và Tản Đà

3

Khái quát về Phong trào Thơ mới

4

Xuân Diệu

5

Hàn Mặc Tử với “Đây thôn Vĩ Dạ”

6

Huy Cận với “Tràng Giang”

7

Nguyễn Bính với “Tương tư”

8

Những bài Thơ mới khác

9

Khái quát về Văn xuôi lãng mạn VN 1930 - 1945



Các tác phẩm của Hồ Chí Minh

17

Khái quát VHVN 1945 đến hết thế kỉ XX

18

Thơ Tố Hữu : Từ ấy, Việt Bắc

19

Thơ Kháng chiến chống Pháp: Tây Tiến, Đất Nước

20

Thơ Kháng chiến chống Mĩ: Tây Tiến, Đất Nước,
Sóng

21

Thơ sau 1975: Đàn ghi ta của Lorca

22

Truyện ngắn 1945 - 1954

23


nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí trong đó đề cập đến những vấn đề xã hội quan
tâm. Đây là sự đổi mới thật sự phù hợp với xu hướng đưa văn học gần với cuộc sống để
đề thi bớt đi tính hàn lâm và nặng kiến thức sách vở.
Tôi thường tìm tòi và cho các em làm quen dần với những dạng đề thi HSG của các
năm trước đó hoặc đề hay của các trường khác trong và ngoài tỉnh bạn theo mức độ từ dễ
đến khó. Nhìn chung, tinh thần nhất quán của đề thi HSG là theo sát chương trình. Từ
nhận thức đó, trong quá trình ra đề rèn luyện kỹ năng cho học sinh, tôi thường tập trung
vào một số dạng đề cơ bản sau:
Dạng đề Nghị luận văn học:

18


*Đề kiểm tra khả năng cảm thụ tác phẩm văn học
Dạng đề này phải gắn với những tác phẩm hay, có trong chương trình Sách giáo
khoa.
Ví dụ:
+ Bức tranh cảnh và người xứ Huế trong đoạn thơ đầu của bài Đây Thôn Vĩ Dạ
(Hàn mặc Tử).
+ Vẻ đẹp của dòng sông Hương trong bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? của
Hoàng Phủ Ngọc Tường.
+ Cảm nhận của anh/chị về chi tiết “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá!” mà nhân
vật Chí Phèo cảm nhận được sau đêm gặp thị Nở (Chí Phèo - Nam Cao, Ngữ văn 11) và
chi tiết “Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha bổi hổi” mà nhân vật Mị nghe được trong
đêm tình mùa xuân (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Ngữ văn 12)
Qua dạng đề này có thể kiểm tra được kiến thức cơ bản của học sinh về tác phẩm:
nắm hệ thống chi tiết, hình ảnh; hiểu khái quát giá trị nội dung - nghệ thuật của tác phẩm;
năng lực chọn lựa và cảm thụ tác phẩm nghệ thuật ở nhiều cấp độ khác nhau: chỉnh thể
tác phẩm - hình tượng - chi tiết, hình ảnh, ngôn ngữ…
*Đề kiểm tra kiến thức về lý luận văn học trong từng tác phẩm cụ thể

thành thói quen luôn biết cách phân tích đề khi bắt gặp bất kì dạng đề, kiểu đề nào trong
khi thi.
2.2.4. Rèn kỹ năng lập dàn ý
Để giúp học sinh thực hiện được yêu cầu trên, tôi thường hướng dẫn các em đi tuần
tự theo các bước sau:
+ Tìm yêu cầu trọng tâm của đề, các khía cạnh, phương diện cần triển khai.
+ Xác định quan hệ và vai trò của luận điểm: Những khía cạnh, phương diện ấy quan hệ
với nhau như thế nào? Phương diện nào thể hiện tập trung và rõ nét các yêu cầu trọng tâm
của đề?
+ Sắp xếp luận điểm sao cho hợp lí, lôgic nhất.
Ví dụ: Lập dàn ý cho đề văn "Vẻ đẹp độc đáo và đa dạng của sông Hương qua bút kí Ai
đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường".

24


Với đề bài trên, học sinh phải xác định được phạm vi đề và gạch chân dưới những
từ ngữ quan trọng, là nội dung trọng tâm đề yêu cầu. Đó là các từ: Vẻ đẹp độc đáo, đa
dạng của Sông Hương.
+ Giải thích và tìm dẫn chứng cho: Vẻ đẹp độc đáo (Con sông thuộc về một thành phố
duy nhất, Dòng chảy như điệu slow dành riêng cho Huế, trôi thực chậm cơ hồ như không
chảy, đẹp thơ mộng, là người con gái dịu dàng của đất nước...). Vẻ đẹp đa dạng trên
nhiều phương diện: Dòng sông cuả cảnh sắc thiên nhiên đa dạng - Từ rừng Trường Sơn,
Cánh đồng Châu Hóa đến Huế và rời khỏi kinh thành Huế, dòng sông của thi ca, âm
nhạc, lịch sử, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc...
+ Đó còn là vẻ đẹp tài hoa, mê đắm của bút kí Hoàng Phủ Ngọc Tường (Học sinh so sánh
với Nguyễn Tuân và vẻ đẹp của con sông Đà trong bài tùy bút trước đó).
Những nội dung này học sinh được suy nghĩ trong vòng 25-30 phút, sau đó học
sinh sẽ trình bày ngắn gọn bằng hình thức nói (yêu cầu phải nói rõ căn cứ để nhận thức
đề, đề xuất luận điểm và sắp xếp ý). Cuối cùng giáo viên mới chữa hoàn chỉnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status