A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Người xưa từng nói “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Nguyên khí
thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống
thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng
nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên ”(Trích “Hiền
tài là nguyên khí của quốc gia”- Thân Nhân Trung).[1]
Tiếp nối truyền thống ấy, ngày nay Đảng và Nhà Nước ta luôn coi “giáo
dục là quốc sách hàng đầu Việt Nam”[2], luôn xác định “Nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [3] là mục tiêu quan trọng mà ngành giáo dục
hướng tới.
Bộ giáo dục và đào tạo đã có rất nhiều chủ trương mới về công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi. Đó là chú trọng tiếp tục xây dựng hệ thống các trường
chuyên một cách hoàn thiện hơn; khuyến khích và tôn vinh những học sinh có
thành tích cao trong học tập; các học sinh có năng khiếu được học với chương
trình nâng cao phù hợp với năng lực và nguyên vọng của các em; những năm
trước, học sinh đạt giải học sinh giỏi quốc gia từ giải ba trở lên còn được tuyển
thẳng vào Đại học theo nguyện vọng...
Chính vì vậy mà có thể nói công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là công tác mũi
nhọn và trọng tâm của ngành giáo dục. Nó có tác dụng tích cực, thiết thực và
mạnh mẽ trong việc nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên và kích thích
tinh thần say mê học tập của học sinh, nâng cao chất lượng và khẳng định uy tín,
thương hiệu nhà trường, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo
dục nói chung.
2. Năm nào cũng vậy, Sở giáo dục và đào tạo Thanh Hoá đều tổ chức kì
thi chọn học sinh giỏi các cấp, trong đó có thi học sinh giỏi THPT. Kì thi này
nhằm lựa chọn và tôn vinh những học sinh có thành tích cao trong các môn học.
Đồng thời, kết quả của cuộc thi này cũng là một căn cứ, một “kênh” thông tin
quan trọng để Sở giáo dục và đào tạo đánh giá chất lượng giáo dục của mỗi
trường học trong phạm vi toàn tỉnh. Vì thế, hàng năm, trường THPT Triệu Sơn 2
vẫn coi công tác bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
học sinh giỏi.
6. Năm học 2016 – 2017, đội tuyển Học sinh giỏi môn Ngữ văn của
trường THPT Triệu Sơn 2 tham dự kì thi HSG tỉnh và đã đạt kết quả rất cao, cụ
thể là: Đạt 05/05 giải, trong đó có 01 giải Nhất, 03 Giải Nhì và 01 giải Ba, xếp
thứ 01 trên 106 trường THPT trong toàn tỉnh.
Với tất cả mọi nỗ lực của cá nhân trong thực tiễn trải nghiệm công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi văn (đặc biệt là học sinh lớp 12) qua một số năm học; với cả
niềm mong ước và hy vọng là được trao đổi kinh nghiệm dạy học cùng đồng
nghiệp, mong nhận được sự góp ý chân thành của những người trong nghề; và
mong góp một phần nhỏ bé của mình trong việc nâng cao chất lượng giáo dục
mũi nhọn của tỉnh nhà... tôi lựa chọn đề tài : Một số kinh nghiệm bồi dưỡng đội
tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn có hiệu quả ở trường THPT Triệu Sơn 2.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Việc tôi áp dụng những giải pháp trong sáng kiến trên vào việc bồi dưỡng
đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn trước hết để góp phần nâng cao hiệu quả
của việc dạy học, nhằm đạt kết quả cao nhất trong kì thi Học sinh giỏi môn Văn
cấp tỉnh.Vì đây là một thước đo để đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường.
Thứ hai, những giải pháp này nhằm tạo được sự phấn khởi trong học tập,
nhất là tạo được hứng thú cho học sinh trong các chuyên đề bồi dưỡng học sinh
giỏi, tránh được sự dàn trải về kiến thức.
Sau nữa, việc nghiên cứu đề tài còn là cơ hội để tôi củng cố, bồi đắp và
nâng cao kiến thức chuyên môn của bản thân.
Đây cũng là dịp tốt để chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm dạy học sinh giỏi với
các đồng nghiệp của mình - không chỉ trong trường THPT Triệu Sơn 2 mà còn là
các đồng nghiệp nói chung khi đang tham gia giảng dạy môn Ngữ văn..
2
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu việc áp dụng một số giải pháp bồi dưỡng đội tuyển học sinh
Qua một số năm bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi (Từ lớp 10 đến lớp
12, chủ yếu là học sinh lớp 12) tôi đã có được những thành công nhất định và
trên cơ sở ấy đúc rút ra một số kinh nghiệm. Vậy nên với đề tài này tôi mạnh
dạn đưa ra những suy nghĩ của mình với mong muốn thiết tha là được trao đổi
kinh nghiệm với các đồng nghiệp, chia sẻ, học tập lẫn nhau để cùng tiến bộ; góp
phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên và hiệu quả học tập của học
sinh nói chung. Đó cũng là nội dung, mục đích hướng tới chủ yếu của sáng kiến
kinh nghiệm .
II. THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ
TÀI
1. Những thuận lợi và khó khăn đối với giáo viên khi thực hiện đề tài
Khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này, bản thân tôi đã có những thuận lợi
và khó khăn nhất định.
1.1. Thuận lợi
- Yếu tố khách quan ảnh hưởng tích cực đến vấn đề liên quan đến đề tài:
+ Ban giám hiệu, lãnh đạo nhà trường có sự quan tâm, động viên đúng mức đến
công tác bồi dưỡng học sinh giỏi; đồng nghiệp nhiệt tình, hỗ trợ đắc lực trong
giảng dạy...
- Các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng tích cực tới đề tài:
+ Là một giáo viên nhiệt tình và tâm huyết, tôi thường xuyên nghiên cứu giảng
dạy, dành nhiều thời gian để suy ngẫm về chuyên môn, về tính hiệu quả của giờ
lên lớp, đặc biệt là giờ dạy bồi dưỡng học sinh giỏi.
+ Bản thân tích cực chịu khó trao đổi với đồng nghiệp trong và ngoài trường để
học hỏi và rút ra được những kinh nghiệm cần thiết áp dụng vào quá trình bồi
dưỡng. Vì thế qua từng năm công tác kinh nghiệm giảng dạy cũng được tích luỹ
phong phú hơn.
4
1.2. Khó khăn
kiến kinh nghiệm vào thực tiễn bồi dưỡng học sinh giỏi thì kết quả thay đổi rõ
rệt. Học sinh chủ động và lạc quan khi tham gia vào đội tuyển, học tập sôi nổi có
hứng thú và tin tưởng vào kết quả khi làm bài. Số lượng và chất lượng giải đều
tăng lên (Sẽ chứng minh ở phần kiểm nghiệm). Đó là điều vui mừng không thể
nói hết bằng lời.
III. MỘT SỐ KINH NGHIỆM BỒI DƯỠNG ĐỘI TUYỂN HỌC SINH
GIỎI MÔN NGỮ VĂN CÓ HIỆU QUẢ Ở TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 2
Muốn bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi đạt kết quả cao, theo tôi cần phải
chú ý đến rất nhiều yếu tố: đó là có sự chỉ đạo kịp thời, sát sao, sự quan tâm sâu
sắc từ phía Ban giám hiệu và các tổ chức trong nhà trường ; là sự ủng hộ, tạo
5
điều kiện của gia đình học sinh, của giáo viên chủ nhiệm... nhưng quan trọng
nhất vẫn là hai yếu tố giáo viên đứng lớp và học sinh.
Phương pháp để tiếp nhận và tìm hiểu văn học vô cùng phong phú, khó có
thể nói hết được. Mỗi giáo viên bồi dưỡng và người tiếp nhận văn học đều có
góc nhìn và cảm nhận riêng. Song trong khuôn khổ đề tài này tôi chỉ xin tập
trung vào những giải pháp mà bản thân tôi đã và đang làm cũng như những điều
tôi chiêm nghiệm được qua thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng học sinh giỏi.
Tôi (và đồng nghiệp của mình trong tổ Văn trường THPT Triệu Sơn 2) đã
rút ra những kinh nghiệm hữu hiệu sau đây trong quá trình bồi dưỡng học sinh
giỏi.
1. Người giáo viên phải nhiệt tình, tâm huyết, đam mê với nghề nghiệp
Như trên đã nói, thực tế dạy học văn ngày nay gặp rất nhiều rào cản, mà
những rào cản đó xuất phát từ nhiều phía: có thể là do chương trình quá nặng, do
giáo viên dạy kém nhiệt tình, tâm huyết, hoặc do xu hướng, thực trạng của nền
kinh tế thị trường đã khiến nhiều gia đình định hướng cho con em họ không theo
những môn khoa học xã hội...trước khá nhiều bất lợi như thế, người giáo viên
có thể đạt giải, vì từ trước tới thời điểm đó chưa có một học sinh nào đạt giải
học sinh giỏi tỉnh môn văn. Hơn nữa tôi nghĩ “Học sinh của mình xuất phát
điểm rất thấp, có dạy thì cũng không thể tiến bộ vượt bậc được, làm sao có thể
đọ sức được với những học sinh miền xuôi giỏi giang, lại học ngày học đêm?”.
Vì thế, nhiều lúc lòng nhiệt tình và sự quyết tâm của tôi không còn nữa. Kết quả
năm đó không em nào đạt giải.
Đến năm học 2006 – 2007, tôi tiếp tục dạy lớp 12 và có nhiệm vụ bồi
dưỡng đội tuyển. Năm đó tôi chỉ chọn 02 học sinh là Phạm Văn Long và
Nguyễn Hà Phương, cả hai em đều dân tộc Thái. Tôi đã động viên các em rất
nhiều để khích lệ tinh thần, và ba cô trò đều cố gắng (phần vì trách nhiệm nặng
nề, phần vì trong thâm tâm tôi vẫn mong học sinh của mình có thể đạt giải). Có
khi học sinh phải học cả ban đêm. Tôi giao bài tập cho các em viết rồi đọc, sửa
chữa...kết quả năm đó em Hà Phương đạt giải khuyến khích cấp tỉnh. Niềm vui
vỡ oà trong tôi. Tôi nhận ra rằng không có gì là không thể, nếu mình nhiệt tình,
biết động viên học sinh và luôn khát khao chiến thắng thì sẽ góp phần quan
trọng đem lại thành công. Dù rằng kết quả còn vô cùng khiêm tốn nhưng nó là
động lực giúp tôi bước tiếp hành trình gian nan của mình.
Năm học 2016 – 2017, sau 13 năm cố gắng không biết mệt mỏi trong việc
bồi dưỡng học sinh giỏi, đội tuyển học sinh giỏi của trường THPT Triệu Sơn 2
đã được xếp thứ nhất trên 106 trường THPT trong toàn Tỉnh (Học sinh đạt giải
Nhất là em Dương Hồng Hà – lớp 12A1 do tôi trực tiếp dạy trong ba năm).
Vì thế tôi thiết nghĩ, ngày nay dù càng nhiều những phương pháp, kĩ thuật
dạy học mới ra đời, các thầy cô giáo có thể tham khảo nhiều cách thức khác
nhau và áp dụng vào công tác giảng dạy. Tuy nhiên dù sử dụng phương pháp
nào đi nữa thì thầy cô cũng chỉ có thể thành công khi chủ động được kiến thức
và thật sự tâm huyết , “sống chết” với nghề.
2. Chủ động phân loại học sinh, phát hiện ra những học sinh có khả năng về
môn văn để tiến hành tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi
Đây là công việc mà tôi cũng như các đồng nghiệp trong tổ Văn trường
THPT Triệu Sơn 2 đã và đang làm để có thể phát hiện và lựa chọn được những
mặt vừa cung cấp kiến thức cho các em, mặt khác rèn kĩ năng làm bài và giúp
các em ổn định tâm lí khi thi. Trong những năm học ấy, đội tuyển HSG của
Triệu Sơn 2 phủ giải từ 75% đến 100%. Tuy nhiên chất lượng giải chưa cao.
Từ năm học 2014 – 2015 đến năm học 2016 – 2017 (3 năm – một khóa
học sinh), tôi và đồng nghiệp đã làm khác đi trong việc chọn đội tuyển. Chúng
tôi nhận ra rằng, muốn có chất lượng thật tốt thì phải đào tạo từ “gốc” chứ
không phải chỉ có mình “ngọn”. Nghĩa là việc tuyển chọn phải thực hiện ngay từ
lớp 10 và phải tranh thủ thời gian bồi dưỡng liên tục qua ba năm học mà không
đợi đến lớp 12, vì khi ấy thời gian gấp gáp, hiệu quả sẽ không cao.
Thứ nữa, phải chọn đúng đối tượng. Không phải ngay từ đầu ta đã có sẵn
“Ngọc” mà phải “Đãi cát tìm vàng”. Tôi đã học theo một số kinh nghiệm của
thầy Lê Văn Khải - giáo viên trường THPT Đào Duy Từ - Thanh Hóa. (Xem
phụ lục 1). Có thể nói giải pháp này đã phát huy hiệu quả tối đa.
3. Lập kế hoạch bồi dưỡng đội tuyển và phân công người dạy rõ ràng
Song song với việc thành lập đội tuyển, tôi đã lập bản kế hoạch bồi dưỡng
đội tuyển và dự kiến người dạy hỗ trợ với mình (Căn cứ vào sở trường của mỗi
người mà phân công chuyên đề dạy phù hợp) để trình tổ trưởng chuyên môn và
Ban giám hiệu xét duyệt.
Trong kế hoạch tôi dự kiến các chuyên đề ôn luyện, số tiết thực
hiện...Thông thường kế hoạch của tôi gồm các nội dung sau: Tên chuyên đề;
thời gian thực hiện; người thực hiện; số tiết cho từng chuyên đề; thời gian kiểm
tra chất lượng lần 1, 2, 3, 4; người chấm bài.
Khi làm được điều này, tôi thấy chủ động trong việc dạy học, không còn
gặp phải tình trạng dạy chồng chéo lên nhau, ai thích gì dạy nấy, hay dạy học
gấp rút về sau mà bỏ quá nhiều thời gian “chết” như các năm trước đó nữa.
4. Sưu tầm, giới thiệu các tài liệu tham khảo yêu cầu học sinh tự học, tự tìm
hiểu ở thư viện và nhiều nguồn khác
Tài liệu tham khảo rất quan trọng đối với việc mở rộng kiến thức cho học
sinh. Đối với học sinh giỏi, tài liệu có tầm quan trọng đặc biệt. Sau khi đã tuyển
8
Mặc Tử, giáo viên không chỉ hướng dẫn học sinh đọc thêm các tập thơ của Xuân
Diệu trước cách mạng tháng tám, tập thơ Lửa Thiêng của Huy Cận, các tập thơ
của Hàn Mặc Tử mà cần đọc kỹ cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài
Chân để học tập, cảm nhận những lời bình giảng độc đáo, súc tích. Và còn nhiều
những tài liệu nghiên cứu phê bình của các tác giả nổi tiếng khác về văn học rất
giá trị mà học sinh cần phải đọc.
Tôi còn tăng cường biện pháp kiểm tra, nắm bắt vấn đề tự học và nghiên
cứu của học sinh. Nếu có học sinh chưa thực hiện đầy đủ, còn có những lỗ hổng
kiến thức thì giáo viên phải đôn đốc, nhắc nhở và có biện pháp cần thiết để học
sinh làm việc. Nói tóm lại, không đọc hay đọc ít là một hạn chế rất lớn không
tránh khỏi đối với một học sinh giỏi. Đọc nhiều, đọc rộng sẽ phát huy được
nhiều mặt tích cực nhất là ở những học sinh có ít nhiều năng khiếu văn chương.
5. Giáo viên cung cấp và yêu cầu học sinh sưu tầm, ghi chép vào một cuốn
sổ riêng những lời nhận định, đánh giá sắc nét, độc đáo của các nhà văn,
nhà thơ, nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học và những câu thơ, đọan
9
thơ hay của nhiều tác giả văn học qua các giai đọan văn học gắn với các
chuyên đề mà giáo viên bồi dưỡng.
Trong quá trình giảng dạy, tôi đã yêu cầu học sinh sưu tầm ghi chép từ
trong sách vở, tài liệu những lời nhận định hay, những đánh giá độc đáo, đặc sắc
của những tác giả tên tuổi về tác phẩm văn học, về vấn đề mang tính lý luận văn
học, hay những câu thơ, đoạn thơ, đoạn văn hay của nhiều tác giả gắn với các
chuyên đề mà tôi bồi dưỡng. Nội dung này tôi đã yêu cầu học sinh ghi vào một
cuốn sổ riêng để các em đọc lại nhiều lần và ghi nhớ. Những tư liệu này rất quý
giá đối với học sinh. Nó vừa giúp các em mở mang vốn tri thức, khám phá vấn
đề theo chiều rộng, chiều sâu, vừa là những dẫn chứng quan trọng, hấp dẫn, tiêu
biểu, tạo nên những điểm nhấn, điểm sáng, giàu sức thuyết phục hơn trong các
bài làm.
Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
10
Vần thơ của Bác, vần thơ thép
Mà vẫn mêng mông bát ngát tình” [5].
(Đọc thơ bác - Hoàng Trung Thông)
- “Đây là bức chân dung của một bậc đại nhân, đại trí, đại dũng. Nhưng trong
ba phẩm chất ấy, đại nhân là cái gốc, là cơ sở” [5].
( Viên Ưng, Trung Quốc.)
- “ Nhật kí trong tù là một tác phẩm lớn, một viên ngọc mà tác giả hình như chỉ
đánh rơi vào kho tàng văn học - như một hành động ngẫu nhiên. ” [5].
(Đặng Thai Mai)
Khi dạy đến chuyên đề truyện ngắn 1945 - 1975 với tác phẩm Vợ nhặt của
Kim Lân, tôi cung cấp cho học sinh một số nhận định:
-“Kim Lân là người một lòng đi về với đất, với người, với những thuần hậu
nguyên thuỷ của cuộc sống nông thôn”. [5]. (Nguyên Hồng)
-“Dù kề bên cái đói, cái chết, người ta vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về
ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai”(Kim Lân). [5].
-“Hãy biết sống cả những khi cuộc đời trở nên không thể chịu được nữa”. [5].
( Lời nhân vật Pa-ven Coóc-sa-ghin trong Thép đã tôi thế đấy của Ô-xtơ-rốpxki)
Dạy về Truyện kí sau 1975 với bài Ai đã đặt tên cho dòng sông? của
Hoàng Phủ Ngọc Tường, để làm rõ vẻ đẹp trầm mặc của sông Hương, tôi tìm
cho học sinh bài Sông Hương một nét thơ của tác giả Lam Hồ trên Văn học và
tuổi trẻ(Số tháng 3 năm 2004):
“ Sông trầm mặc như muôn đời vẫn thế
Chảy vô tình để bồ kết đưa hương
Nét thơ Đường thả giữa lòng xứ Huế
Hay câu Kiều của dân tộc yêu thương?” [5].
Hay những câu thơ nói lên đặc trưng dòng chảy Hương giang khi qua thành
Đối với bồi dưỡng học sinh giỏi, việc dạy bồi dưỡng theo các chuyên đề
là điều cần thiết và nên làm nhiều nhất để cung cấp kiến thức cho học sinh, đồng
thời giúp các em rèn luyện kĩ năng làm bài tốt hơn.
Qua theo dõi cách ra đề của những năm gần đây, tôi thấy cấu trúc đề
thường là 02 câu. Phần Nghị luận xã hội chiếm 8/20 điểm, gắn với các đề mở,
tập trung vào những vấn đề thực tế hoặc những câu chuyện súc tích và giàu ý
nghĩa. Phần nghị luận văn học chiếm 12/20 điểm, thường tập trung vào những
tác phẩm có tính ngợi ca về con người, vẻ đẹp đất nước, cách mạng hoặc thiên
về những tác phẩm có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc; có khi lại thiên về
những tác phẩm mới được đưa vào sách giáo khoa và mỗi đề đều gắn với lí luận
văn học...
* Vì thế, trong những năm qua tôi đã biên soạn và dạy cho học sinh một
số chuyên đề bám sát chương trình thi. Chẳng hạn, khi dạy về Kĩ năng làm văn
nghị luận xã hội, tôi chia nhỏ làm hai dạng đề chính là Nghị luận về một tư
tưởng, đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống.Với mỗi dạng, tôi lần lượt
cho học sinh ôn lại khái niệm, nhắc lại cách thức làm bài gắn với bố cục của bài
làm, giới thiệu một số dạng đề, yêu cầu học sinh xác định đề, lập dàn ý rồi sau
đó giáo viên sẽ củng cố lại. Cuối cùng giao bài tập về nhà cho học sinh làm.
Ví dụ khi tôi dạy Kĩ năng làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
- Trước tiên tôi cho học sinh nhắc lại khái niệm: Nghị luận về một tư tưởng, đạo
lí là bàn về một tư tưởng, đạo lí nhằm giới thiệu, giải thích, phân tích, biểu
dương những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch xung quanh vấn đề bàn
luận, trên cơ sở đó rút ra bài học nhận thức và hành động cần thiết về tư tưởng,
đạo lí.
- Sau đó, tôi nhắc lại cách thức làm bài.
Có thể trình bày bài theo các bước cụ thể sau:
+ Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận.
+ Phân tích, biểu dương những mặt đúng, phê phán, bác bỏ những biểu
hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận.
+ Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí.
thật phù hợp với đạo lí làm người và phải hành động để góp phần làm cho cuộc
sống này tốt đẹp hơn. Làm văn nghị luận xã hội không phải là để nói khoác rồi
sau đó, khi vừa buông bút ra khỏi tay, ta lại làm ngược lại với những điều ta
viết.(Có học sinh phê phán rất gay gắt tình trạng học sinh trốn học chơi điện tử,
nhưng khi nạp bài xong lại đi ra quán nét ngay; trong phòng thi, có em viết cần
lên án, phê phán hiện tượng tiêu cực trong thi cử nhưng chính mình lại sử dụng
tài liệu ngay trong lúc làm bài nghị luận xã hội đó)...
Với các đề ra như vậy hướng vào chuyên đề sẽ kích thích học sinh làm
việc và tư duy một cách toàn diện.
* Trong quá trình dạy, tôi cũng rất chú ý đến chuyên đề kĩ năng làm văn
nghị luận văn học. Tôi đã dạy kĩ năng làm bài của một số dạng đề cơ bản mà tôi
thấy xuất hiện nhiều trong những đề thi học sinh giỏi, thi đại học gần đây: Nghị
luận về một bài thơ, đoạn thơ; một nhân vật văn học; một đoạn trích văn xuôi;
Dạng bài so sánh văn học; Nghị luận về một vấn đề văn học...
Sau khi dạy kĩ về cách làm bài, tôi ra đề để học sinh luyện tập. Có khi tôi
chỉ yêu cầu học sinh xác định đề, lập dàn ý hay viết phần mở bài, phần kết luận
để rèn chắc kĩ năng cho các em.
13
* Tôi đặc biệt quan tâm tới chuyên đề Lí luận văn học, bởi vì đối với một
bài văn của học sinh giỏi, bao giờ các em cũng phải biết vận dụng kết hợp
kiến thức lí luận với khả năng đọc – hiểu, cảm thụ văn bản để làm cho bài
viết “có tầm” hơn, đúng chất hơn.
Kiến thức lí luận văn học vốn là những kiến thức khái quát về bản chất,
giá trị của văn học, cấu trúc tác phẩm, quá trình văn học...được vận dụng trong
bài làm văn. Bài làm văn nếu thể hiện kiến thức lí luận tốt sẽ trở nên chắc chắn,
sâu sắc và thuyết phục.
Xác định được tầm quan trọng của lí luận văn học, tôi đã cung cấp cho
14
định mình, để thể hiện được “cái giọng riêng” mà “không thể tìm thấy trong cổ
họng của một người nào khác”(Tuốc – ghê - nhép). Do đó người nghệ sĩ sẽ lựa
chọn những yếu tố nghệ thuật theo cách riêng của mình để không lặp lại người
khác và không lặp lại chính mình.
3. Bàn luận
3.1. Khẳng định vấn đề
- Hình tượng sông Hương trong Ai đã đặt tên cho dòng sông? góp phần khẳng
định phong cách của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
- Nét độc đáo trong phong cách của nhà văn biểu hiện trước hết ở cách nhìn,
cách cảm thụ và giọng điệu riêng biệt.
3.2. Biểu hiện của phong cách Hoàng Phủ Ngọc Tường khi xây dựng hình
tượng sông Hương
3.2.1 Cách nhìn, cách cảm thụ có tính chất khám phá
- Sông Hương luôn được cảm nhận ở vẻ đẹp giàu nữ tính - sông Hương được
miêu tả bằng một hệ thống từ ngữ gợi nét đẹp đặc trưng của người phụ nữ - Đó
là vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm, kín đáo nhưng cũng đầy gợi cảm.
- Sông Hương được miêu tả trong chiều sâu của những giá trị văn hóa: âm nhạc,
thi ca, cuộc đời...
3.2.2. Giọng điệu riêng biệt
- Giọng điệu tha thiết, yêu thương:
- Giọng điệu dịu dàng, mê đắm: hành trình của sông Hương được miêu tả trong
sự liên tưởng đến câu chuyện tình yêu mãnh liệt, say đắm với nhiều cung bậc
cảm xúc: mong đợi, vui sướng, ngập ngừng, bịn rịn, lưu luyến, nhớ nhung...
- Giọng điệu tự hào, trân trọng.
4. Đánh giá khái quát
- Thông qua cách nhìn, cách cảm thụ có tính chất khám phá, giọng điệu riêng
biệt, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã đem đến cho người đọc hình ảnh một sông
đầy đủ và thuyết phục nhất. Sau đó, tôi yêu cầu học sinh viết bài trong thời gian
ấn định (câu NLXH, NLVH hoặc cả bài) và chấm, chữa bài cho học sinh.
Đây là cơ sở để tôi nắm bắt khả năng của học sinh trên nhiều phương
diện, từ cách hiểu đề, xác định yêu cầu của đề ra, tìm ý và lập dàn ý đến cách
hành văn trong một bài làm cụ thể. Năng lực viết và cảm thụ văn học của học
sinh cũng bộc lộ rõ từ đây.
Sau khi nhận bài của học sinh, tôi đọc thật kĩ từng phần. Sau đó tôi cảm
nhận bài của các em bằng tâm trạng thư thái, nâng niu trân trọng những phát
hiện, tìm tòi của học sinh. Tôi tìm những lỗi trong bài viết: Lỗi chính tả, lỗi viết
tắt, viết số không đúng qui định; lối thiếu ý, lỗi diễn đạt, lỗi hành văn, cách trình
bày...Đặc biệt là lỗi về kĩ năng làm các dạng bài. Nếu học sinh mắc lỗi phần nào
thì sẽ chữa phần đó. Tiếp đến, tôi nhận xét một cách kĩ lưỡng, thấu đáo vào bài
làm (Có khi cần thiết tôi viết cả câu hay một đoạn vào bài để học sinh đối
chiếu). Nhận xét bao giờ cũng phải chỉ được ưu điểm, nhược điểm của học sinh
trong bài làm, đồng thời vừa phải có tác dụng động viên, nâng đỡ tinh thần để
các em tự tin vào chính mình, biết phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu
trong những bài sau.
Có thể nói, chấm bài là một khâu công phu, vất vả nhưng rất quan trọng,
cần thiết để giúp học sinh tiến bộ. Tuy nhiên thời gian lên lớp giữa thầy và trò
không nhiều, nên giáo viên không thể cho học sinh làm được nhiều bài trên lớp
khi bồi dưỡng vì rất mất thời gian. Để khắc phục điều này giáo viên có thể tranh
thủ sau vài buổi học có thể cho các em một đề văn và yêu cầu các em về nhà viết
và đề nghị các em tự giác độc lập làm bài và tự giới hạn bài viết của mình trong
16
một thời gian cho phép nhất định. Điều đó sẽ rèn luyện cho các em rất nhiều về
tư duy viết, tốc độ viết...
8. Giáo viên thường xuyên động viên, gần gũi, quan tâm đến học sinh,
+ Xác định đề, lập dàn ý trước khi viết; làm ngay câu nào mình thấy dễ hoặc
thấy thích hơn những câu khác; hoặc làm câu nhiều điểm trước.
+ Không được bỏ cuộc kể cả khi gặp những câu quá bất ngờ.
+ Cố gắng làm trọn vẹn tất cả các câu.
+ Chú ý dung lượng viết không quá ngắn (dưới 03 tờ) hoặc quá dài(quá 05 tờ).
+ Không được phân tâm khi thấy người bên cạnh xin giấy trước hoặc có những
câu từ gây nhiễu.
+ Chiến đấu hết khả năng của mình, chiến đấu vì cả gia đình, thầy cô và bè
bạn...
17
IV. KẾT QUẢ
1. Những kết quả ban đầu
Để có được những giải học sinh giỏi tỉnh, nhất là giải cao thì còn phụ thuộc
vào rất nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố học sinh trong khâu xác định đề và viết
bài. Tuy nhiên, sau 03 năm (01 khóa học sinh từ 2014 đến 2017) áp dụng những
giải pháp bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi, nhìn chung tôi đã thu được những
kết quả đáng tự hào(Kết quả riêng của cá nhân và cũng là thành tích chung của
tổ chuyên môn).
1.1. Về phía học sinh
- Trong quá trình học đội tuyển,các em thể hiện sự hứng thú rõ rệt, tin
tưởng, lạc quan vào kết quả khi thi. Đặc biệt các em có một tinh thần chiến đấu
rất mạnh mẽ trong thi cử - làm bài hết sức mình.
- Ngoài kiến thức cơ bản, học sinh say sưa sưu tầm những kiến thức mới
làm cho vốn kiến thức ngày càng phong phú. Thành công hơn nữa là trong
những bài thi tập trung toàn trường (thi học kì, thi học sinh giỏi, thi thử đại học
hay kì thi THPTQG), hầu như các em trong đội tuyển đều đạt từ điểm 8 trở lên.
Đây là điều tôi rất vui mừng.
- Tôi đã thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp về cách làm và được đồng
nghiệp yêu mến, Ban giám hiệu tin tưởng. Tất cả các giáo viên trong nhà trường
đều nhất trí rằng đây là một sáng kiến kinh nghiệm có tính thiết thực, tính hiệu
quả cao.
- Bản thân tôi cũng cảm thấy vui mừng và yêu nghề hơn, tự tin khi thấy mình đi
đúng hướng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục học sinh, nhất là trong thời
điểm hiện tại khi xu thế xã hội thiên về những môn tự nhiên và những môn “thời
thượng” thì sáng kiến kinh nghiệm này như củng cố thêm niềm tin và sức mạnh
cho những giáo viên Ngữ văn chúng tôi tiếp tục bền bỉ phấn đấu và cố gắng vì
sự nghiệp trồng người cao cả.
2. Bài học kinh nghiệm
- Để đạt kết quả tốt thì cả giáo viên và học sinh đều phải cố gắng, nỗ lực hết
mình. Giáo viên phải phối hợp với đồng nghiệp trong tổ để thực hiện, nhưng
người bồi dưỡng đóng vai trò chủ chốt và chịu trách nhiệm chính.
- Khi lựa chọn học sinh vào đội tuyển, nên chọn những em theo khối C, D; yêu
thích, tự nguyện vào đội tuyển, chỉ chú trọng chất lượng, không chú trọng số
lượng.
- Tuỳ vào tình hình, đặc điểm học sinh trong đội tuyển mỗi năm mỗi khác mà có
thể lựa chọn nội dung, giải pháp, thời gian bồi dưỡng đối với từng chuyên đề
thích hợp...
19
C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT:
I. KÊT LUẬN
- Đề tài “Một số kinh nghiệm bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn
có hiệu quả ở trường THPT Triệu Sơn 2” mang một ý nghĩa rất quan trọng và
là việc làm cần thiết. Bởi lẽ việc áp dụng các giải pháp của đề tài đã mang lại
những kết quả ngoài cả kì vọng của chúng tôi. Đóng góp của đề tài này là ở chỗ
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
20
Hoàng Thị Chiên
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1]. Hiền tài là nguyên khí của quốc gia – Thân Nhân Trung, SGK Ngữ văn 10,
tập hai, NXB Giáo Dục, Hà Nội, trang 31.
[2]. Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992.
[3]. Luật giáo dục năm 2005.
[4]. Mấy vấn đề về văn hóa giáo dục, Phạm Văn Đồng.
[5]. Tài liệu tự tích lũy của tác giả đề tài trên in – ter – net và tài liệu chuyên
môn khác qua quá trình dạy học.
21