Đề tài: Thực trạng dạy bồi dỡng học sinh giỏi
môn tiếng việt & một số biện pháp bồi dỡng cho học sinh.
Đặt vấn đề:
Để dạy tốt, học tốt môn tiếng việt ở tiểu học ( tập đọc, chính tả, từ ngữ ngữ
pháp ) đã khó, còn bồi dỡng học sinh giỏi môn tiếng việt ở tiểu học để có kết quả
cao thì lại càng khó hơn. Làm sao để số học sinh dự bồi dỡng học sinh giỏi nắm
vững nội dung, chơng trình học ở bậc tiểu học là một việc làm hết sức khó khăn
của ngời giáo viên.
Tập đọc là phân môn quan trọng trong chơng trình tiếng việt ở tiểu học dạy tốt
môn này không những rèn luyện cho học sinh kĩ năng đọc mà còn phát triển ở
các em vốn từ ngữ phong phú, tạo điều kiện cho các em học tốt các phân môn từ
ngữ, ngữ pháp, tiếng việt, chính tả, tập làm văn có đọc tốt thì mới hiểu nội dung
yêu cầu hoặc cảm nhận đợc cái hay cái đẹp của bài văn bài thơ và hiểu rõ ý nghĩa
giao tiếp học tập đợc cách viết văn của tác giả .
phân môn từngữ ngữ pháp đựơc coi là môn dạy khó thành công trong các giờ lên
lớp vì ở các tiết này đòi hỏi ngời giáo viên phải nắm vững vốn từ vững, ngữ pháp
để cung cấp vốn từ, mở rộng vốn từ, cung cấp câu đoạn văn cho học sinh làm sao
đúng ngữ pháp về câu, từ kết cấu chặt chẽ các câu đoạn, ý bài viết.
Kể chuyện cũng đợc coi là môn dạy khó vì giọng kể của giáo viên không hấp
dẫn, nói năng, điệu bộ cử chỉ không mềm mại vì tuổi tác làm thế nào để học
sinh có ấn tợng sâu sắc với câu chuyện qua lời kể cử chỉ điệu bộ của giáo viên từ
đó học sinh hiểu nội dung cốt chuyện hiểu đợc ý nghĩa giáo dục giá trị đạo đức
hành văn câu chuyện.
Các tiết dạy ở trên lớp tập đọc từ ngữ ngữ pháp kể chuyện trong tuần giáo viên
cần hệ thống nội dung liên quan hộ trợ lẫn nhau nhằm giúp học sinh thực hành
viết bài tập làm văn tốt hơn.
1
Hay nói cách khác học sinh làm đợc bài văn hay tức là biết tổng hoà kiến thức
của các môn học trên với nhau biết vận dung vốn từ ngữ ngữ pháp nói và viết
mạch lạc câu văn hay đúng ngữ pháp ngời đọc dễ hiểu ( toát lên nhiều ý hay của
bài văn ) biết dùng hình ảnh so sánh hay nhân hoá.
Còn khi dạng từ ngữ ngữ pháp cũng vì sợ không đủ thời gian để giải quyết hết
nội dung cần truyền đạt trong bài, nên từ ngữ cần ghi nhớ nên giáo viên cũng lần
lợt đa ra đầy đủ có kèm theo các câu hỏi gơi ý để học sinhtrả lời vì thế giờ từ ngữ
ngữ pháp thời gian thờng kéo dài phần mới, còn phần luyện, thực hành bị xem
nhẹ và ít hớng dẫn cho học sinh các từ này thờng vận dụng các bài làm văn theo
thể loại nào ( kể, tả, tờng thuật, viết th ).
Vì thế khi dạy bài tập đọc có một số từ khó: khó về mặt ngữ nghĩa, khó về cách
đọc. Việc giảng từ khó đọc từ khó cần đợc đặt ra trong quá trình luyện đọc của
học sinh. Khi đợc đặt trong cảnh, trong môi trờng ngôn ngữ, học sinh dễ hiểu, dễ
đọc các từ đó- hay việc dùng từ, ngữ đặt trong văn cảnh nào thì hợp lý mà lại
hay? Hay từ ngữ này hay trong hoàn cảnh nào và hoàn cảnh nào cha hợp lý? Câu
tối nghĩa ( dạy từ ngữ ngữ pháp ) thế mà nhiều giáo viên lại tách phần giảng từ
khó, luyện đọc về ngữ nghĩa và vận dụng các từ ngữ đặt đúng trong các văn cảnh
thì giáo viên cho thành một mục riêng và tiến hành sau khi đã đọc, đọc xong
bài ?
- Giáo viên cha nhuần nhuyễn phơng pháp mới - học sinh đợc làm nhiều hơn.
học sinh đợc trinh bày ý kiến riêng của mình, học sinh đợc trao đổi với các bạn
- Giáo viên cha thích hợp kịp thời nội dung bài này có liên quan vận dụng đến
nội dung bài kia( ý bài tập -đọc từ ngữ cần dùng để bổ sung viêt một bài văn,
đoạn văn hay giàu hình ảnh ).
3
- Số ít giáo viên cha thực sự say-hng phấn khi dạy tiếng việt xem tiếng việt là
môn khó dạy vì nó rộng không có đáp án cụ thể nh môn toán.
Tóm lại: việc dạy môn tiếng việt để học sinh có vốn từ ngữ-ngữ pháp phong phú,
biết vận dụng vào viết văn hay_ làm áao khi đọc bài văn, bài dự thi học sinh giỏi
của mình ngời đọc hiểu:
+ Nắm đợc nội dung chiónh của đề.
+ Hiểu đợc nghĩa và ý, từ ( ý 1, ý2 (phần từ ngữ-ngữpháp )).
+ Biết đợc dụng ý của tác giả( qua đề cảm thụ).
+ Bộc lộ đơc thế giới nội tâm của mình, qua bài viết tập làm văn.
Số học sinh đợc
kiểm tra
Tập đọc Cảm thụ văn Từ ngữ-ngữ pháp TLV
Giỏi Khá TB Yếu
Giỏi Khá TB Giỏi Khá
T
B
Yếu Giỏi Khá TB
1 5A 10 3 2 3 2 3 2 3 2
2 5C 10 5 2 2 1 4 3 2 1
III ) nguyên nhân:
Giáo viên cha tự rèn luyện, nghiên cứu để nâng cao năng lực chuyên môn đặc
biệt là kiến thức tiếng việt.
Thí dụ: sau mỗi bài tập đọc, học sinh hiểu nội dung bài là các em có thể viết đợc
thành bài văn, đoạn văn cảm thụ hay hiểu đợc ý nghĩa sâu xa của bài học đó.
Tre Việt Nam- Nguyễn Duy: nòi tre đâu chịu mọc cong
Có manh áo cộc tre nhờng cho con.
Đó là hình ảnh măng tre nhọn nh chông gợi cho ta thấy sự kiêu hãnh, hiên ngang
bất khuất của loài tre hay cũng chính là dân tộc việt Nam!
Hình ảnh cây tre lng trần phơi nắng phơi sơng có ý nói đến sự dãi dầu chịu đựng
mọi gian khổ thử thách trong cuộc sống.
Hình ảnh có manh áo cộc tre nhờng cho con gợi cho ta nghĩ đến sự che chở hy
sinh tất cả( mà ngời mẹ dành cho con)thể hiện lòng nhân ái và tình mẫu tử thật
cảm động.
5
Bài: mùa hoa bởi: - cái hay ở bài là tình cảm yêu quê hơng đất nớc của anh bộ
đội. Mỗi lần nghĩ về quê là mỗi lần lòng anh thấy xốn xangnghĩ về mùa hoa bởi
nơi sinh ra và lớn lên quê hơng Hà Tĩnh.
Bài: con chuồn chuồn nớc: tác giả dùng tính từ miêu tả, hình ảnh so sánh gợi lên
cái đẹp trong sáng, hấp dẫn của chú chuồn chuồn nớc khiến ngời đọc
kinh nghiệm, tich luỹ kiến thức về tiếng việt. Thông qua giờ tập đọc- tập làm văn
để giúp học sinh cảm thụ ý văn hay, hình ảnh đẹp do tác giả viêt nên mà ngời
giáo viên là ngời hớng dẫn, gợi ý, học sinh hiểu chủ động tiếp thu một cách thú
vị, tích cực, thoải mái, khám phá nhiều điều mới mẻ.
IV ) một số biện pháp:
1) Khi dạy các bài từ ngữ giáo viên cần cung cấp cho học sinh lý thuyết về từ
gồm cấu tạo từ, các lớp từ.
Về cấu tạo từ: từ ghép, từ láy, từ tợng hình
Thí dụ: hoang phí, đoàn kết, nhanh nhẹn, chậm chạp, róc rách, líu lo, kĩu kịt, áo
quần, sách vở, ăn uống
Giáo viên tập trungvào việc giải nghĩa từ để học sinh nắm vững cấu tạo từ, để
phân loại chính xác.
áo dài: áo dài mà mặc ngắn nh thế này làkhông hợp nữa( thêm xem)
cây cối, hỏi han: có vẻ âm thanh giống nhau là từ láy
tre pheo :một tiếng mất nghĩa thì xếp vào từ ghép
quần áo: từ ghép tổng hợp vì quan hệ giữa 2 tiếng ngang nhau nếu có thêm đợc
một từ ở giữa thì gọi là từ ghép tổng hợp
thí dụ: quần và áo, xe cộ -> xe và cộ
nhằm phát huy vốn từ dựa vào cấu tạo, yêu cầu học sinh tìm những từ có nhiều
tiếng trong đó cótiếng mới, xấu
mới mới lạ xấu xấu xa
mới tinh xấu xí
7
mới mẻ
Các lớp từ: từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, gần nghĩa.
Thí dụ: cao, thấp, nông, sâu, chết, hy sinh
b) Khi dạy bồi dỡng yêu cầu cần đạt của phần lý thuyếtvề từ là khái quát thành
kiểu dạng bài :
*) Cho từ rồi yêu cầu xác định ( từ đơn, từ ghép, từ láy )
*) Cho từ trong câu nhận định kiểu cấu tạo(từ đơn, từ ghép, từ láy)
a) Khi dạy phân môn ngữ pháp ngời giáo viên phải cung cấp cho học sinh giỏi
sáu mạch kiến thức cơ bản đó là:
*) Khái niệm câu: câu đơn bình thờng và câu đặc biệt, câu có đủ chủ ngữ vị ngữ
và câu rút gọn
*) Thành phần câu( chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ )
*) Phân loại câu theo cấu tạo
*) Phân loại theo mục đích nói ( câu hỏi, câu kể, câu cầu khiến, câu cảm)
*) Dấu câu ( chấm, phẩy, dấu ngoặc kép, ngoặc đơn, dấu hai chấm, dấu cảm )
*) Từ loại: danh từ, động từ, tính từ
b) Khi dạy bồi dỡng cho học sinh, giáo viên có thể yêu cầu cao hơn bằng nhiều
cách:
- Chữa lỗi câu sai:
Ví dụ : Hãychữa lại mỗi câu sai sau bằng 2 cách khác nhau( chỉ đợc thay
đổi nhiều nhất 2 từ ở mỗi câu)
+ Vì sóng to nên thuyền không bị đắm.
+ Tuy Minh đau chân nhng bạn vẫn phải nghỉ học.
- Thêm vị ngữ:
Ví dụ : Điền vào chỗ trống của các dòng sau những từ ngữ thích hợp để tạo
thành các câu miêu tả cảnh vật ở vùng cao.
9
Đã sang tháng Tám, vùng cao trời . những dãy núi dài .nớc đàn
bò con vàng, con đen. Đàn dê Nơng ngô Nơng lúa
-Đảo ý vẫn giữ nguyên nội dung thông báo.
Thí dụ: Lom khom dới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
- Cho sẵn đờng rang giới hoặc không cho sẵn đờng ranh giới
Thí dụ : + Hoa thảo quả nảy dới gốc cây kín đáo và lặng lẽ.
+ Cờ bay đỏ những mái nhà, đỏ những cành cây, đỏ những góc
phố.
-Xác định chức vụ ngữ pháp của từ và cụm từ trong câu:
mà ngời đọc càng yêu quý hơn.
Thí dụ : Bài " Rừng mơ"
Tác giả dùng từ quả vàng chíu chít: chíu chít gợi lên quả rất nhiều sai xúm
xít với nhau.
Mơ chín nhiều nh sao trên trời quây quần vừa nêu đợc số lợng nhiều vô kể
của rừng mơ vừa làm cho rừng mơ sinh động hẳn lên.
Nghe khát vị mơ chua- Nếu thay từ khát bằng từ "thèm" thì câu thơ không
còn hay nữa.
Thí dụ : Bài " cây dừa" - Trần ĐăngKhoa - tiếng việt 2
Dùng phép nhân hoá đợc thể hiện trong các từ: Bàn tay đón gió, gật đầu gọi
trăng. Các từ ngữ này có tác dụng vật vô tri là cây dừa cũng có những biểu hiện
tình cảm nh con ngời. Dừa cũng mở rộng vòng tay đón gió cũng gật đầu mời gọi
trăng lên. Qua cách nói nhân hoá, cảnh vật trở nên sống động có hồn và có sức
gợi cảm, gợi tả.
- Phép so sánh đợc thể hiện trong các từ ngữ: quả da ( giống nh) đàn lợn con. Tàu
dừa ( giống nh ) chiếc lợc cách so sánh ở đây khá bất ngờ, thú vị thể hiện sự liên
11
tởng, tởng tợng phong phú của tác giả. Cách so sánh này cũng có tac sdụng làm
cho cảnh vật trở nên sống đọng có đờng nét hình khối. Có sức gợi tả, gợi cảm
cao.
* Qua mỗi bài thơ, bài văn hay mà tác giả đã dùng nhiều hình ảnh đẹp, giáo viên
phải hớng dẫn cho học sinh cách cắt nghĩa các hình ảnh thơ, văn.
Thí dụ: bài Luỹ Tre- Nguyễn Công Dơng
" Luỹ tre cong gọng vó
kéo mặt trời lên cao"
Các sự vật: ngọn tre- gọng vó- mặt trời vốn dĩ không liên quan đến nhau, nhng
qua liên tởng, tởng tợng của tác giả thể hiện trên hai dòng thơ trên, các sự vật này
dờng này nh có sự liên hệ với nhau: ngọn tre cong cong nh cái gọng vó, cái gọng
vó lai đang kéo mặt trời lên cao. Cảnh vật nh hoà quyện với nhau, tạo nên sự
sống động cho hình ảnh thơ.
Thí dụ: tìm từ dùng sai trong từng câu sau và sửa lại cho đúng và hay:
a) Chúng ta cần tố cáo những khuyết điểm của bạn để giúp nhau cùng tiến bộ
b) Một không khí nhộn nhịp bao phủ thành phố
- Giáo viên cần dành một thời gian nhất định để học sinh thực hành viết nháp,
thực hành việc cụ thể. Có thực hành cụ thể học sinh dễ thâm nhập để viết văn và
các em có thể viết nháp đợc vài lần thì mới chải chuốt đợc thành văn.
- Khi ra đề tập làm văn giáo viên cần tổng hợp nhiều dạng đề:
+) Đề ra theo thể loại có nâng cao.
+) Đề cho nội dung bố cục cho trớc.
+) Đề theo lối văn tự sự.
+) Đề theo lời kể của nhân vật- hay của mình nhập vai nhân vật.
13
-Ngời giáo viên luôn mang trong mình những suy nghĩ tìm hiểu, ghi chép tích luỹ
những ý thơ áng văn hay hoặc là những ảnh đẹp mà đâu đó các nhà thơ, nhà văn
đã diễn tả thông qua lối viết văn tả cảnh, kể chuyện, tờng thuật.
V ) một số kết quả b ớc đầu:
Từ những lý do nêu trên tôi băn khoăn suy nghĩ tìm ra một số biện pháp để giáo
viên vận dụng, thể nghiệm vào những bài dạy, bài học cụ thể . Kết quả đã đợc
nâng lên nh sau:
Năm học
Tổng số lớp
khối 5
Số học sinh
giỏi tỉnh
Trong đó
Nhất Nhì Ba
03 - 04
7 lớp
260 học sinh
kinh nghiệm với đồng nghiệp nhằm nâng cao chất lợng giảng dạy môn tiếng
việt nói chung và việc bồi dỡng học sinh giỏi nói riêng có kết quả ngày càng cao.
15