MỤC LỤC
Đề mục
Nội dung
I
1
2
3
4
5
II.
1
2
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………...
Lí do chọn đề tài……………………………………………………
Mục đích nghiên cứu……………………………………………….
Đối tượng nghiên cứu………………………………………………
Phương pháp nghiên cứu…………………………………………...
Những điểm mới của SKKN……………………………………….
NỘI DUNG………………………………………………………...
Cơ sở lí luận………………………………………………………..
Thực trạng của vấn đề……………………………………………...
Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề…………………….
Trang
1
2
Phần Văn…………………………………………………………...
4
III.
1
2
Phần Tập làm văn………………………………………………….
Hiệu quả của sáng kiến……………………………………………..
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ………………………………………….
Kết luận…………………………………………………………….
Kiến nghị…………………………………………………………...
5
6
11
12
17
18
18
18
I. MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài.
Xã hội ngày càng phát triển, con người cũng đòi hỏi ngày càng phải tiến bộ, phát
triển toàn diện để theo kịp thời đại. Bên cạnh việc am hiểu khoa học kĩ thuật hiện đại
tiên tiến, con người phải cảm nhận được cái hay, cái đẹp của cuộc sống. Để đáp ứng
được nhu cầu ngày càng cao của xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhấn mạnh đến
nhiệm vụ của giáo dục trong giai đoạn hiện nay là phải đổi mới căn bản và toàn diện
- Tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích nâng cao chất lượng học
sinh giỏi trong nhà trường nói chung, nâng cao chất lượng học sinh giỏi môn Ngữ
văn nói riêng. Nghiên cứu và thực hiện đề tài còn giúp nâng cao năng lực chuyên
môn, phương pháp sư phạm cho giáo viên. Có cơ hội trao đổi với đồng nghiệp để
học hỏi kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung, bồi
dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn nói riêng.
- Đề tài hướng đến giúp học sinh có phương pháp, cách thức trong quá trình ôn
luyện đội tuyển học sinh giỏi môn Ngữ văn.
3. Đối tượng nghiên cứu.
- Để thực hiện đề tài tôi đã lựa chọn đối tượng học sinh lớp 8 Trường THCS Vân
Du do tôi trực tiếp giảng dạy.
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào những vấn đề trọng tâm của
chương trình ôn luyện, cụ thể là: Hướng dẫn học sinh nắm vững các dạng bài tập
Tiếng Việt, các tác phẩm Văn học, phương pháp làm các dạng bài phần Tập làm văn.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp tôi đã sử dụng:
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết, vận dụng thực hành.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp hướng dẫn thực hành, luyện viết là chủ yếu.
2
5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm.
- Trong năm học 2016- 2017, tôi tiếp tục nghiên cứu và phát triển đề tài: “Một số
kinh nghiệm trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn”
- Những điểm mới so với đề tài tôi đã từng vận dụng:
+ Thay đối tượng áp dụng: Đề tài cũ tôi áp dụng đối với học sinh giỏi lớp 9, đề
tài này tôi áp dụng đối với đối tượng là học sinh giỏi lớp 8.
+ Thay đổi nội dung kiến thức: Trong đề tài cũ nội dung kiến thức bồi dưỡng
học thật sự phù hợp thì kết quả mới được như mong muốn. Thực tiễn dạy học môn
Ngữ văn vốn gặp nhiều khó khăn, từ xu thế của xã hội đến tâm lí của học trò; từ đặc
trưng trừu tượng của môn học đến lượng kiến thức dài hơn môn học khác…Những
tác động khách quan đó đòi hỏi người thầy phải lao động nghiêm túc thì mới gặt hái
được thành công.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
Trước hết, ta thấy bộ môn Ngữ Văn là môn học thuộc lĩnh vực khoa học xã hội,
môn học này có tính đặc thù riêng biệt, nó mang tính trừu tượng, đòi hỏi phải có tư
3
duy trừu tượng và cảm xúc, không giống bất kỳ môn học nào trong hệ thống chương
trình. Hơn thế nữa học tốt môn học này sẽ bổ trợ rất nhiều cho các môn học khác như
về kĩ năng giao tiếp, giáo dục giá trị sống, đạo đức xã hội. Thế nhưng để dạy và học
tốt môn học này không phải là vấn đề đơn giản, nó đòi hỏi cả người dạy lẫn người
học phải thực sự say mê, tâm huyết mới có thể truyền thụ và lĩnh hội được.
Đối với giáo viên: Qua trao đổi với một số đồng nghiệp tôi nhận thấy đa phần
các đồng chí giáo viên đang còn đang mơ hồ về phương pháp, cách thức bồi dưỡng
học sinh. Giáo viên còn dạy theo cảm hứng thích phần nào thì tập trung đi sâu vào
phần đó. Kiến thức của một số giáo viên chưa đủ sâu, rộng. Một số giáo viên thì mới
chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức cho học sinh, chưa chú trọng rèn luyện kỹ
năng làm bài của học sinh. Hơn nữa một số giáo viên chưa thật sự tâm huyết để đầu
tư thời gian và công sức trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Chính vì thế mà việc
bồi dưỡng học sinh giỏi của một số trường vẫn chưa đạt được kết quả như mong
muốn, thậm chí còn rất thấp.
Đối với học sinh: Để đáp ứng với xu thế thi cử hiện nay, học sinh phải học đều,
dàn trải tất cả các môn học để có kiến thức nền tảng nên thời gian dành cho một môn
học còn chưa nhiều. Hơn nữa vốn kiến thức xã hội của các em còn rất hạn chế do sự
va chạm với thực tiễn cuộc sống còn ít, nên khi gặp vấn đề đặt ra từ cuộc sống hằng
ngày các em còn núng túng. Văn hóa đọc của các em còn chưa được quan tâm. Các
36
6
16,6
13
36,1
12
33,3
10
27,7
Tổng số
66
7
10,6
18
27,2
17
25,7
13
19,6
Nhìn vào bảng số liệu trên cho thấy, HS yêu thích và học giỏi môn Ngữ văn thấp
hơn nhiều so với các môn học khác, đặc biệt là các môn Toán, Lí, Hóa. Tuy nhiên,vẫn
còn một số em yêu thích học văn. Đây chính là động lực để các thầy cô giáo dạy văn
truyền tâm huyết cho công tác đào tạo nhân tài.
3. CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
3.1 Tìm và lựa chọn học sinh vào đội tuyển Văn.
Để lựa chọn những học sinh có năng khiếu văn vào đội tuyển Văn là một việc làm
khó, đòi hỏi người giáo viên phải hết sức khéo léo và có kinh nghiệm.
Trước tiên, phải chọn học sinh có khả năng học văn tốt, yêu thích môn Văn, có
sức viết tốt, biết phát hiện vấn đề, chữ viết đẹp.
tương ứng với khối lớp đó. Đặc biệt ở mỗi khối lớp tôi đều chú trọng đến khâu vận
dụng kiến thức đã học để rèn luyện kĩ năng viết bài, rèn kĩ năng phát hiện và cảm thụ
văn học.
3.3. Xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi.
Theo tôi, xây dựng nội dung chương trình là khâu quan trọng nhất trong quá
trình bồi dưỡng học sinh giỏi, khâu này đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng,
nắm vững kiến thức từng bài, từng kiểu bài, dạng bài.
3.3.1. PhÇn Tiếng Việt: Bên cạnh việc dạy cho học sinh nắm vững kiến thức trong
chương trình, tôi trọng tâm bồi dưỡng, rèn luyện kĩ năng làm bài tập phát hiện và
phân tích các biện pháp tu từ Tiếng Việt. Phát hiện và phân tích giá trị biểu cảm của
từ ngữ. Phát hiện và phân tích tác dụng của các loại dấu câu trong văn bản nghệ thuật.
*Dạng bài tập phát hiện và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ:
Để học sinh làm tốt dạng bài tập này, trước tiên tôi củng cố kiến thức phần lí
thuyết để học sinh nắm vững đặc điểm, tác dụng của từng biện pháp tu từ. sau đó
hướng dẫn học sinh cách làm bài cụ thể.
Biện pháp tu
từ
Khái niệm
5
So sánh
Nhân hóa
Ẩn dụ
Hoán dụ
Điệp ngữ
Nói quá
Sau khi học sinh đã nắm vững phần lí thuyết, tôi hướng dẫn học sinh làm dạng
bài tập về biện pháp tu từ Tiếng Việt. Đối với dạng bài tập về phát hiện và phân tích
tác dụng của các biện pháp tu từ Tiếng Việt tôi hướng dẫn cho học sinh các bước làm cụ thể:
Bước 1: Giới thiệu cảm xúc chung về đoạn thơ (đoạn văn) đó.
Bước 2: Phát hiện, gọi tên đầy đủ những biện pháp tu từ có từ đoạn thơ (đoạn văn)
chỉ rõ những từ ngữ thực biện pháp tu từ đó.
Bước 3: Phân tích được giá trị của các biện pháp tu từ .
Bước 4: Trình bày những nhận xét, đánh giá chung về tác dụng của các phép tu từ đã
được sử dụng trong đoạn thơ (đoạn văn) đó .
Ví dụ 1:
Xác định và phân tích giá trị biểu cảm của biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:
“...Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.”
(Quê hương -Tế Hanh) [3]
Hướng dẫn HS cách làm bài:
- Giới thiệu: Câu thơ được trích trong bài thơ “ Quê hương” của Tế Hanh, miêu tả
hình ảnh con thuyền sau chuyến ra khơi. Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật
nhân hóa chiếc thuyền “im”, “nằm”; bến “mỏi”; nghệ thuật ẩn dụ “ nghe”
6
- Phân tích tác dụng của từng phép tu từ:
+ Nghệ thuật nhân hóa giúp cho hình ảnh con thuyền như một con người cụ thể có
tâm hồn và những cảm xúc sâu lắng, gần gũi với cuộc sống lao động của người dân
làng chài. Tác giả không chỉ “thấy” con thuyền đang nằm im trên bến mà còn thấy sự
mệt mỏi, say sưa, còn “cảm thấy” con thuyền ấy như đang lắng nghe chất muối thấm
dần trong từng thớ vỏ của nó.
+ Nghệ thuật ẩn dụ chuyền đổi cảm giác làm cho hình ảnh con
thuyền như đang lắng nghe “chất muối”- hương vị mặn mòi
mãnh của con thuyền ra khơi.
- Đánh giá: Việc kết hợp linh hoạt và độc đáo các biện pháp so sánh, nhân hóa , sử
dụng các động từ mạnh đã gợi ra trước mắt người đọc một phong cảch thiên nhiên
tươi sáng, vừa là bức tranh lao động đầy hứng khởi và dạt dào sức sống của người dân
làng chài.
Ví dụ 3: Xác định và nêu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử
dụng trong khổ thơ sau:
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
7
Người thuê viết nay đâu ?
Giấy đỏ buồn không thắm ;
Mực đọng trong nghiên sầu...
(Trích Ông đồ - Vũ Đình Liên) [4]
Hướng dẫn cách làm bài:
- Giới thiệu chung về đọan thơ: Đoạn thơ trên trích trong bài thơ Ông đồ của nhà thơ
Vũ Đình Liên đoạn thơ diễn tả tâm trạng của ông đồ khi bị mọi người xa lánh, lãng quên.
- Trong đoạn thơ tác giả sử dụng thành công các biện pháp tu từ: nhân hoá, câu hỏi tu từ.
- Phân tích tác dụng:
+ Câu hỏi tu từ: Người thuê viết nay đâu? Câu hỏi như một lời tự vấn lòng mình
nhằm diễn tả nỗi buồn trĩu nặng, nỗi xót xa trước sự lãng quên của người đời với ông đồ.
+ Phép nhân hóa: Giấy đỏ “buồn”, Mực đọng thành “nghiên sầu”
- Nêu được tác dụng:
Gợi không gian cảnh buồn vắng, tình cảnh ông đồ dần dần trở nên buồn chán. Người
buồn nên những vật dụng đã từng gắn bó thân thiết với cuộc đời ông đồ cũng sầu thảm
theo: giấy đỏ buồn, bẽ bàng không thắm, mực đọng lại bao sầu tủi trở thành nghiên sầu...
- Đánh giá: Nhờ sử dụng thành công các biện pháp tu từ nhân hóa, câu hỏi tu từ tác
giả đã làm nổi bật tình cảnh và nỗi buồn của ông đồ khi nền nho học bị bãi bỏ đồng
thời thể hiện niềm xót thương của tác giả trước tình cảnh của ông đồ.
đang tàn tạ, lãng quên : ông đồ
Ví dụ 2: Phát hiện và phân tích giá trị của từ láy và các biện pháp tu từ trong đoạn thơ
sau:
Mẹ gom lại từng trái chín trong vườn
Rồi rong ruổi trên nẻo đường lặng lẽ
Ôi, những trái, na, hồng, ổi, thị….
Có ngọt ngào năm tháng mẹ chắt chiu!
(Lương Đình Khoa)
Hướng dẫn cách làm bài:
- Viết thành đoạn văn: Giới thiệu chung về đoạn thơ, đoạn thơ đã sử dụng thành công
biện pháp tu từ: Liệt kê và từ láy.Trước hết về từ láy “rong ruổi”: từ láy gợi hình ảnh
mẹ với gánh hàng trên vai trên chặng đường dài, gợi cuộc đời mẹ nhiều bươn trải, lo
toan. “Nẻo đường lặng lẽ”: liên tưởng đến hình ảnh con đường vắng lặng một mình mẹ
cô đơn với gánh hàng để kiếm sống nuôi con.“Ôi”, từ cảm thán : bộc lộ một cảm xúc
vừa ngỡ ngàng ,vừa thán phục. Nghệ thuật liệt kê: na, hồng, ổi, thị… những món quà
quê hương được chắt chiu từ bàn tay mẹ qua bao tháng năm.Vị ngọt từ những loài quả
được kết tinh từ những giọt mồ hôi rơi, từ bàn tay khéo léo, từ đức tảo tần hi sinh của
mẹ. Đoạn thơ đã làm nổi bật vẻ đẹp thầm lặng của một bà mẹ chắt chiu, lam lũ. Đồng
thời nói lên sự cảm thông sẻ chia của đứa con với nỗi vất vả, nhọc nhằn của mẹ. [5]
* Dạng bài phát hiện và phân tích tác dụng của các loại dấu câu trong văn bản nghệ
thuật.
Dạng bài tập phát hiện và phân tích tác dụng của các loại dấu câu trong đoạn thơ, bài
thơ giúp giáo viên phát hiện năng khiếu cảm thụ thơ văn, đặc biệt là khả năng phát
hiện được những nét đặc sắc trong nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ của học sinh. Đối
với dạng bài tập này tương đối khó nếu các em không biết cách làm bài thì khi bắt
gặp dạng bài tập này trong đề thi thì hầu như các em không làm được, hoặc làm rất
lan man không đúng. Cho nên những dạng bài tập này bản thân tôi hay chú trọng và
rèn luyện nhiều cho các em.
Khi hướng dẫn học sinh làm dạng bài tập này tôi hướng dẫn học sinh viết dưới
dạng 1 đoạn văn và lần lượt đi theo các bước cụ thể như sau:
phong thái ung dung lạc quan cách mạng của người chiến sĩ trong hoàn cảnh tù đày.
Ví dụ: Đến với bài thơ Ngắm trăng của Bác, tôi hướng dẫn học sinh nắm được tình
yêu thiên nhiên sâu sắc của Bác và phong thái ung dung lạc quan cách mạng của
người chiến sĩ trong hoàn cảnh tù đày.
Ngoài những định hướng trên, tôi lồng ghép và triển khai kiến thức từng văn bản cụ
thể ở phần Tập làm văn.
3.3.3. PhầnTập làm văn.
Phần Tập làm văn có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng trong cấu trúc của đề thi
học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh. Chính vì vậy trong quá trình bồi dưỡng học sinh
giỏi tôi dành nhiều thời lượng để hướng dẫn học sinh nắm vững cách thức làm bài ở
từng dạng bài cụ thể.
* Dạng bài nghị luận xã hội: Đối với dạng bài nghị luận xã hội, tôi đã hướng dẫn
cho các em nắm chắc kiến thức, bản chất của kiểu bài, cách thức làm bài. Dạng bài
11
nghị luận xã hội có nhiều kiểu bài, để học sinh không bị núng túng trong quá trình
làm bài tôi đã hướng dẫn học sinh nhận diện, định hướng cách làm bài cụ thể.
- Kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng, đời sống:
Sau đây là dàn ý chung và dàn ý minh họa cho đề văn: Suy nghĩ về hiện tượng vi
phạm an toàn giao thông hiện nay.
Phần
Dàn ý chung
Dàn ý cụ thể
MB
Giới thiệu chung về sự việc Giới thiệu chung về hiện tượng vi phạm an
hiện tượng
toàn giao thông hiện nay.
TB
Phân tích mặt đúng, mặt sai, -Nêu thực trạng của vấn đề: những biểu
vẫn còn đó làm cho Giôn-xi tự thấy mình “thật là một con bé hư… Muốn chết là một
tội”. Cô lại hi vọng một ngày nào đó sẽ được vẽ vịnh Na-plơ và như lời bác sĩ nói
cô đã thoát “khỏi nguy hiểm”của bệnh tật.
Qua những thay đổi của Giôn-xi em hãy viết một bài văn nghị luận thể hiện suy
nghĩ về nghị lực sống của con người.
Hướng dẫn cách làm:
12
Phần
Dàn ý chung
Dàn ý cụ thể
MB
- Giới thiệu chung - Dẫn dắt vấn đề : Vai trò của ý chí, nghị lực, niềm tin
về vấn đề cần nghị trong cuộc sống
luận
- Trích dẫn đoạn truyện, rút ra vấn đề nghị luận: Nghị
lực sống của con người.
TB
- Giải thích vấn đề - Giải thích vấn đề: Tóm tắt nội dung đoạn truyện, nêu
- Bàn luận vấn đề
ý nghĩa của đoạn truyện hướng đến vấn đề nghị luận.
- Bài học nhận thức - Bàn luận, mở rộng: Khẳng định, phân tích chứng
và hành động
minh vai trò của nghị lực sống của con người. Phê phán
những người có biểu hiện tiêu cực, bi quan.
- Bài học về nhận thức và hành động: Ý thức vai trò
quan trọng của nghị lực sống, biết cách rèn luyện và
duy trì ý chí, tinh thần mạnh mẽ. Biết yêu thương, cảm
thông và tiếp thêm niềm tin yêu cuộc đời, nghị lực
tự nhận thức, bản lĩnh và nghị lực vươn lên không
ngừng. Cuộc sống quá ngắn ngủi, hãy cứ cháy hết
mình đến tận cùng của khát vọng, ước mơ
KB
-Khẳng định vấn đề
-Liện hệ bản thân
- Khẳng định vấn đề .
Liên hệ bản thân.
13
* Dạng bài Nghị luận văn học:
Khi hướng dẫn học sinh làm dạng bài nghị luận văn học, tôi tập trung hướng dẫn
học sinh vào hai nhóm bài. Nghị luận về tác phẩm truyện (hay đoạn trích) và nghị
luận về đoạn thơ, bài thơ. Ở mỗi dạng bài tôi hướng dẫn để học sinh nắm vững lí
thuyết, rèn luyện làm bài thành thạo từng dạng đề. Mỗi dạng đề tôi minh họa dàn ý
chung và dàn ý được cụ thể hóa vào đề bài cụ thể như sau:
Phần
Nghị luận về tác phẩm truyện
MB -Giới thiệu tác giả, tác phẩm.
-Nêu ý kiến đánh giá sơ bộ về tác
phẩm.
TB
-Trình bày các luận điểm chính về nội
dung và nghệ thuật của tác phẩm.
(Có phân tích, chứng minh bằng các
luận cứ tiêu biểu và xác thực
- Luận điểm 3: Đánh giá về nghệ thuật của bài thơ
+ Thể thơ, giọng điệu, ngôn từ, cách sử dụng hình ảnh thơ độc đáo.
KB
- Khẳng định vấn đề.
- Liên hệ bản thân.
- Đối với dạng bài Nghị luận văn học gắn với lí luận.
Đây là vấn đề mới và khó đối với học sinh lớp 8 vì khả năng tư duy, suy luận
và nhận diện vấn đề lí luận của các em đang còn non nớt nên khi dạy dạng bài này
tôi phải tìm tòi, định hướng đi cụ thể để học sinh có thể tiếp cận được vấn đề. Bước
đầu tôi hướng dẫn học sinh xây dựng dàn bài để học sinh hình dung được hướng làm bài.
Dàn ý chung cho kiểu bài này như sau:
MB: - Dẫn dắt từ vấn đề lí luận văn học
14
- Trích dẫn ý kiến
- Giới thiệu tác phẩm cần chứng minh và phạm vi bài làm
TB: Ý 1. Giải thích ý kiến
Ý 2. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
Ý 3. Chứng minh, làm rõ vấn đề lí luận thông qua việc phân tích tác phẩm
Ý 4. Đánh giá, nâng cao.
KB: - Khẳng định lại vấn đề
- Suy nghĩ bản thân.
Sau khi xây dựng dàn ý cho kiểu bài này cần hướng dẫn các em từng bước một.
Đối với phần Mở bài, không nên áp dụng máy móc như các dạng đề khác là
giới thiệu tác giả, tác phẩm mà phải dẫn dắt từ một vấn đề lí luận liên quan. Bởi lẽ,
nhận định về một vấn đề lí luận thường có tính đánh giá một đặc tính, một bản chất
của văn học cho nên nó có thể áp dụng cho mọi tác phẩm cùng thể loại. Nếu dẫn dắt
về tác giả, tác phẩm (phạm vi hẹp) sang vấn đề lí luận cần bàn (phạm vi rộng hơn) thì
bài làm sẽ khập khiễng, khó thuyết phục người đọc. Sau khi dẫn dắt từ vấn đề nghị
15
- "Nghệ thuật chỉ làm nên câu thơ": Nghệ thuật ở đây có thể hiểu là các yếu tố như:
Thể thơ, giọng điệu của bài thơ, biện pháp tu từ, hình thức ngôn ngữ, các phương
tiện biểu đạt...làm nên cái võ bên ngoài của câu thơ.
-"trái tim mới làm nên thi sĩ": Trái tim có thể hiểu là thế giới tâm hồn, tình cảm, tâm
tư của người sáng tác đã gửi gắm trong tác phẩm nghệ thuật nói chung, trong thơ ca
nói riêng. Chính tâm hồn, tình cảm, xúc cảm của thi sĩ mới làm nên cáinội dung bên
trong của câu thơ, bài thơ.
- Ý nghĩa của câu nói: Có đủ 2 yếu tố "nghệ thuật" và "trái tim" thì câu thơ (Tác
phẩm văn học) mới tồn tại. Chỉ có hình thức nghệ thuật mà không có trái tim của thi
sĩ thì không thể thành thơ. Chỉ có trái tim mà không có nghệ thuật thì không thể có
thơ hay được. Hai yếu tố này kết hợp hài hòa với nhau. Để có những bài thơ
hay đòi hỏi người nghệ sĩ vừa phải có tài, vừa phải có tâm..
=> Đánh giá ý kiến: Đây là ý kiến nhằm khẳng định, đề cao thiên
chức của nhà văn và quá trình sáng tạo nghệ thuật.
Ý 2: Chứng minh ý kiến trên qua bài thơ “Quê hương” của nhà thơ Tế Hanh
- Giới thiệu vài nét về tác giả Tế Hanh và bài thơ “ Quê Hương”
- Bài thơ “Quê hương” của nhà thơ Tế Hanh là một bài thơ hay, bài thơ được viết
bằng trái tim của người nghệ sĩ.( Phân tích nội dung bài thơ Quê hương để làm nổi
bật tình yêu que hương tha thiết của tác giả)
- Bài thơ Quê hương là một bài thơ không chỉ được viết nên từ trái tim của người
nghệ sĩ mà nó con được xây dựng nên bằng sự sáng tạo qua hình thức nghệ thuật của
bài thơ.( Phân tích, chứng minh)
Ý 3: Đánh giá nâng cao.
- Quê hương của Tế Hanh là một bài thơ vừa đặc sắc về nghệ thuật,
vừa tiêu biểu cho “trái tim”của nhà thơ.
-Ý kiến của Andre Chenien giúp ta cảm nhận sâu sắc và trân trọng
tài năng, trái tim của người nghệ sĩ trong việc sáng tạo nghệ thuật.
Tổng số HSG Ngữ văn
HSG Toán
HSG Vật lí
HSG Hóa
SL
TL %
SL
TL % SL TL % SL
TL %
8A
30
4
13,3
5
16,6
6
20,0
4
13,3
8B
36
16
44,4
14
38,8
13
38,8
12
33,3
Tổng số
11
tỉnh
1
1
3
Em Lam giải 3 cấp tỉnh
Em Lâm giải KK cấp tinh
Em Thủy giải nhì, em Hằng giải ba, em
2
Hồng giải KK cấp tỉnh
Em Thảo , em Hiếu giải nhì cấp huyện
Em Thảo giải nhất cấp huyện, em Hiếu
1
giải ba, em Mai Anh giải kk cấp tỉnh.
Em Nguyên giải nhì cấp tỉnh.
III- KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1- Kết luận:
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh
giỏi là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ này,
bản thân đã rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Người giáo viên phải thực sự tâm huyết với nghề, phải thu hút được đối tượng học
sinh giỏi đến và yêu thích môn Ngữ văn.
- Người giáo viên phải không ngừng học hỏi, trau dồi để có vốn kiến thức sâu rộng.
Đỗ Thị Thu Phương
18
19