Bồi dưỡng học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 8 - Pdf 21

Buổi 1.
Cụm văn bản truyện ký Việt Nam hiện đại
Bài 1: Văn bản Tôi đi học
Thanh Tịnh
I/ Một vài nét về tác giả - Tác phẩm
1. Tác giả.
- Thanh Tịnh sinh năm 1911, mất năm 1988. Tên khai sinh là Trần Văn
Ninh. Trước năm 1946 ông vừa dạy học, vừa làm thơ. Ông có mặt ở trên nhiều
lĩnh vực : Thơ, truyện dài, ca dao, bút ký nhưng thành công hơn cả là truyện
ngắn
Truyện ngắn của ông trong trẻo mà êm dịu. Văn của ông nhẹ nhàng mà
thÊm sâu, mang dư vị man mác buồn thương, vừa ngọt ngào, vừa quyến luyến
Ông để lại sự nghiệp đáng quý:
+ Về thơ: Hận chiến trường, sức mồ hôi, đi giữa mùa sen.
+ Truyện: Ngậm ngải tìm trầm, Xuân và Sinh
2. Tác phẩm:
- Tôi đi học in trong tập truyện ngắn Quê mÍ(1941), thuộc thể loại hồi ký:
ghi lại những kû niệm đẹp của tuổi thơ trong buổi tiu trường
II/ Phân tích tác phẩm
1. Tâm trạng của chú bé trong buổi tựu trường
a. Trên đường tới trường:
- Là buổi sớm đầy sương thu và gió lạnh chú bé cảm thấy mình trang trọng
và đứng đắn trong chiếc áo vải dù đen dài – Lòng chỉ tưng bừng, rộn rã khi được
mẹ âu yếm nắm tay dắt di trên con đường dài và hẹp – Cậu bé cảm thấy mình xúc
động, bỡ ngỡ, lạ lùng – Chỉ suy nghĩ về sự thay đổi – Chỉ bâng khuâng thấy mình
đã lớn.
b. Tâm trạng của cậu bé khi đứng trước sân trường
- Ngạc nhiên, bỡ ngỡ, vì sân trường hôm nay thật khác lạ, đông vui quá -
Nhớ lại trước ®©ythÊy ngôi trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng.
Nhưng lần này lại thấy ngôi trường vừa xinh xắn, oai nghiêm đĩnh đạc hơn – Chỉ
lo sợ vẩn vơ, sợ hãi khép nép bên người thân – Chỉ cảm thấy trơ trọi, lúng túng,

c. Giọng văn nhẹ nhàng, trong sáng, gợi cảm .
d. Chất thơ còn thể hiện ở những hình ảnh so sánh tươi mới giàu cảm
xúc
V/ Bài tập:
Qua văn bản “Tôi đi học”, em hãy kể lại kû niệm ngày đầu tiên đi học.
Buổi 2.
Bài 2: Văn bản trong lòng mẹ
(Trích : Những ngày thơ ấu – Nguyên Hồng)
I. Vài nét về tác giả, tác phẩm
1. Tác giả:
- Nguyên Hồng sinh ở thành phố Nam Định, nhưng Hải Phòng cửa biển đã
khơi dậy và gắn bó với ông, với sự nghiệp văn chương của ông. Tác phẩm của
ông thường viết về những con người nghèo khổ dưới đáy xã hội, với một lòng
yêu thương đồng cảm vì vậy ông được coi là nhà văn của những con người cung
khổ .
- Trong thế giới nhân vật của ông xuất hiện nhiều người bà, người mẹ,
người chị , những cô bé, cậu bé khốn khổ nhưng nhân hậu . Ông viết về họ bằng
cả trái tim yêu thương và thắm thiết của mình. Ông được mệnh danh là nhà văn
2
của phụ nữ và trẻ em. Văn xuôi của ông giàu chát trữ tình, nhiều khi dạt dào cảm
xúc và hết mực chân thành. Ông thành công hơn cả ở thể loại tiểu thuyết.
2. Tác phẩm
- Những ngày thơ ấu là tập hồi ký tự truyện gồm 9 chương:
Chương 1: Tiếng kèn.
Chương 2: Chĩa thương xót chúng tôi.
Chương 3: Truỵ lạc.
Chương 4: Trong lòng mẹ
Chương 5: Đêm n«en
Chương 6: Trọn đêm đông.
Chương 7: Đồng xu cái .

- Là phụ nữ gặp nhiều trái ngang, bất hạnh trong cuộc đời . Thời xuân sắc là
một phụ nữ đẹp nhất phố hàng cau, bị ép duyên cho một người hơn gấp đôi tuổi
mình. Bà chôn vùi tuổi xuân trong cuộc hôn nhân ép buộc. Chồng chỊt, với trái
tim khao khát yêu thương, bà đã đi bước nữa thì bị cả xã hội lên án.
- Luôn sống tình nghĩa : Đến ngày giỗ đầu của chồng- về.
- Yêu thương con: Khi gặp con khi được ôm hình hài máu mủ đã làm cho
ngươi mẹ lại tươi đẹp.
3. Hình ảnh bà cô
Có tâm địa xấu xa độc ác. Bà là người đại diện, là người phát ngôn cho
những hủ tục phong kiến. Bà được đào tạo từ xã hội phong kiến nên suy nghĩ của
bà mang nặng tính chất cổ hủ.
4. Nghệ thuật đoạn trích
Những ngày thơ Âu là cuốn tiểu thuyết tự truyện thuộc thể hồi ký có sự kết
hợp hài hoà giữa sự kiện và bày tỏ cảm xúc, là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách
nghệ thuật của Nguyên Hồng tha thiết, giàu chất trữ tình và thấm đẫm cảm xúc.
5. Luyện tập:
Đề 1:
Em hãy kể lại đoạn trích trong lòng mẹ theo ngôi thứ ba.
Đề 2:
Qua đoạn trích: Trong lòng mẹ, em hãy làm sáng tỏ nhận định sau: “Đoạn trích
trong lòng mẹ đã ghi lại những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”.
Gợi ý:
a. Đau đớn xót xa đến tột cùng:
Lúc đầu khi nghe bà cô nhắc đến mẹ, Hồng chỉ cố nuốt niềm thương, nỗi
đau trong lòng. Nhưng khi bà cô cố ý muốn lăng nhục mẹ một cách tàn nhẫn,
trắng trợn Hồng đã không kìm nén được nỗi đau đớn, sự uất ức : “Cổ họng
nghẹn ø lại , khóc không ra tiếng ”. Từ chỗ chôn chặt kìm nén nỗi đau đớn, uất ức
trong lòng càng bừng lên dữ dội.
b. Căm ghét đến cao độ những cổ tục .
Cuộc đời nghiệt ngã, bất c«ng®· tước đoạt của mẹ tất cả tuổi xuân, niềm

nhân vật mà thương cảm mà xót xa đau đớn, hay sung sướng, hả hê.
2. Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ .
a. Nhà văn đã thấu hiểu và đồng cảm sâu sắc cho nỗi bất hạnh của
người phụ nữ
Thấu hiểu nỗi khổ về vật chất của người phụ nữ. Sau khi chồng chỊt vì nợ
nần cùng túng quá, mẹ Hồng phải bỏ đi tha hương cầu thực, buôn bán ngược xuôi
để kiếm sống . Sự vất vả, lam lũ đã khiến người phụ nữ xuân sắc một thời trở nên
tiều tụy đáng thương “Mẹ tôi ăn mặc rách rưới, gầy rạc đi ”…
Thấu hiểu nỗi đau đớn về tinh thần của người phụ nữ : Hủ tục ép duyên đã
khiến mẹ Hồng phải chấp nhận cuộc hôn nhân không tình yêu với người đàn ông
gấp đôi tuổi của mình. Vì sự yên Âm của gia đình, người phụ nữ này phải sống
âm thầm như một cái bóng bên người chồng nghiện ngập. Những thành kiến xã
hội và gia đình khiến mẹ Hồng phải bỏ con đi tha hương cầu thực , sinh nở vụng
trộm dấu diÕm.
b. Nhà văn còn ng îi ca vẻ đẹp tâm hồn, đức tính cao quý của người phụ
nữ:
Giàu tình yêu thương con. Gặp lại con sau bao ngày xa cách, mẹ Hồng xúc
động đến nghẹn ngào. Trong tiếng khóc sụt sùi của người mẹ, người đọc nh cảm
nhận được nỗi xót xa ân hận cũng nh niềm sung sướng vô hạn vì được gặp con.
Bằng cử chỉ dịu dàng âu yếm xoa đầu, vuốt ve, gãi rôm mẹ bù đắp cho Hồng
những tình cảm thiếu vắng sau bao ngày xa cách.
5
c. Là người phụ nữ trọng nghĩa tình
Dẫu chẳng mặn mà với cha Hồng song vốn là người trọng đạo nghĩa, mẹ
Hồng vẫn trở về trong ngày dỗ để tưởng nhớ người chồng đã khuất.
d. Nhà văn còn bênh vực, bảo vệ người phụ nữ:
Bảo vệ quyền bình đẳng và tự do , cảm thông vời mẹ Hồng khi chưa đoạn
tang chồng đã tìm hạnh phúc riêng.
Tóm lại: Đúng nh một nhà phê bình đã nhận xét “Cảm hứng chủ đạo bậc nhất
trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả. Những ngày thơ ấu lại chính là niềm cảm

tích tô qua bao tháng ngày đã khiến tình cảm của đứa con dành cho mẹ như một
niềm tín ngưỡng thiêng liêng, thành kính. Trái tim của Hồng nh đang rớm máu,
6
rạn nứt vì nhớ mẹ. Vì thế thoáng thấy người mẹ ngồi trên xe, em đã nhận ra mẹ,
em vui mừng cất tiếng gọi mẹ mà bấy lâu em đã cất dấu ở trong lòng.
c. Sung sướng khi được sống trong lòng mẹ.
Lòng vui sướng được toát lên từ những cô chi vội vã bối rối từ giọt nước
mắt giận hên, hạnh phúc tức tưởi, mãn nguyện.
d. Nhà thơ thÊu hiÎu những khao khát muôn đời của trẻ thơ:
Khao khát được sống trong tình thương yêu che chở của mẹ, được sống
trong lòng mẹ.
Buổi 3, 4.
Các yếu tố hình thức nghệ thuật cần chú ý khi
phân tích thơ trữ tình
I. Đặc trưng của thơ trữ tình và một số lỗi cần tránh.
Thơ là một hình thái nghệ thuật đặc biệt. Hệ thống cảm xúc, tâm trạng và
cách thể hiện tình cảm, cảm xúc được xem như là đặc trưng nổi bật của thơ trữ
tình. Trong các tác phẩm thuộc các thể loại nh văn xuôi tự sự, kịch, cũng có
cảm xúc, tâm trạng, nhưng cách thể hiện thì rất khác so với thơ trữ tình. Cảm xúc
của tác giả có trong các thể loại văn học kĨ trên là thứ cảm xúc ®îc thể hiện một
cách gián tiếp thông qua hệ thống hình tưîng nhân vật, các sự kiện xã hội và diễn
biến của câu chuyện Trái lại, trong thơ trữ tình, tác giả bộc lộ trực tiếp cảm xúc
của mình. Rõ ràng khi đọc đoạn thơ:
“ Nay xa cách lòng tôi luôn tưëng nhớ
Màu nưíc xanh, cá bạc, chiếc thuyền vôi,
Thoáng con thuyền rÊ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá !
( Quê h¬ng - Tế Hanh)
ngưêi đọc cảm nhận ®îc rất rõ tấm lòng và tình cảm nhớ nhung da diết của
nhà thơ Tế Hanh đối với quê hư¬ng, nơi ông đã sinh ra, lớn lên và gắn bó

thỡ thc cht nhõn vt tr tỡnh ú cng chớnh l tỏc gi. Th L mn li con h
trong võn bỏch tho dc bu tõm s ca chớnh ụng v ni chỏn ghột cỏi xó hi
gi di, nghốo nn, nh nhng, ng ngn ng thi; núi lờn khỏt vng t do,
khỏt vng v cỏi thi mt i khụng tr li Trong trõng hp ny, khi ụng vit:
Ta sng mói trong tỡnh thơng ni nh - Thu tung honh hng hỏch nhng
ngy xa thỡ ta l con h v cng chớnh l Th L.
Phõn tớch th tr tỡnh thc cht l ch ra ting lũng sõu thm ca chớnh nh
th. Nhng ting lũng y li c th hin rt cụ ng v hm xỳc bng mt hỡnh
thc ngh thut c ỏo - ngh thut ngụn t. Tip xỳc vi mt bi th tr tỡnh
trc ht l tip xỳc vi cỏc hỡnh thc ngh thut ngụn t ny. Nh th gi lũng
mỡnh qua nhng con ch, trong nhng con ch v cỏc hỡnh thc biu t c ỏo
khỏc. Tt c thỏi sung sng, h hờ, bừ hờn ca Nguyn Khuyn i vi tờn
quan tun mt cớp c gi qua ch lốn trong cõu th Tụi nghe k cp nú
lốn ụng. Ting kờu au n, t ngt ca nh th T Hu trc s ra i ca chỳ
bộ liờn lc đợc th hin qua ch thụi ri v hỡnh thc góy nhp ca cõu th Bng
loố chp - Thụi ri, Lm i ! (Lm) Nh th, phõn tớch th tr tỡnh trc
ht phi xut phỏt t chớnh cỏc hỡnh thc ngh thut ngụn t m ch ra vai trũ v
tỏc dng ca chỳng trong vic th hin tỡnh cm, thỏi ca nh th.
8
Nắm chắc đặc điểm và yêu cầu trên, HS cũng sẽ tránh được các lỗi dễ mắc
trong việc phân tích và cảm thụ thơ trữ tình. Trong các bài phân tích, bình giảng
thơ trữ tình, HS thường mắc một số lỗi sau đây:
a, Chỉ phân tích nội dung và tư tưởng được phản ánh trong bài thơ, không
hề thấy vai trò của hình thức nghệ thuật. Đây thực chất chỉ là diễn xuôi nội dung
bài thơ ra mà thôi.
b, Có chú ý đến các hình thức nghệ thuật, nhưng tách rời các hình thức
nghệ thuật ấy ra khỏi nội dung (thưêng là gần đến kết bài mới nói qua một số
hình thức nghệ thuật được nhà thơ sử dụng trong bài).
c, Suy diễn một cách máy móc, gượng ép, phi lÝ các nội dung và vai trò, ý
nghĩa của các hình thức nghệ thuật trong bài thơ. Nghĩa là nêu lên các nội dung t-

một tị đặc biệt trong vốn ngôn ngữ chung của nhân loại. Các em đều biết rằng
trong những tình huống giao tiếp thông thường của cuộc sống, im lặng lắm khi lại
nói được rất nhiều: khi căm thù tột đỉnh, lúc xao xuyến bâng khuâng, khi cô đơn
buồn bã, lúc xúc động dâng trào Những cung bậc tình cảm này nhiều khi không
thể mô tả được bằng chữ nghĩa. Dấu câu và sự ngắt nhịp là một trong những ph-
ương tiện hữu hiệu để thể hiện "sự im lặng không lời". Nhiều khi người ta chỉ
nghĩ đến nhiệm vụ của dấu câu là tách ý, tách đoạn của câu văn . Thực ra bên
cạnh nhiệm vụ ấy, dấu câu và sự ngắt nhịp còn có một chức năng rất quan trọng,
đó là tạo nên "ý tại ngôn ngoại", hàm nghĩa và gợi ra những điều mà từ không nói
hết, nhất là trong thơ. Tâm trạng nhà thơ chi phối trực tiếp cách tổ chức, vận hành
nhịp điệu của bài thơ. Với cảm xúc ào ạt, sôi nổi, đầy hứng khởi tríc khí thế lao
động sản xuất của miền Bắc thời kỳ bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội, Tố Hữu
có những câu thơ với nhịp điệu nhanh mạnh , khỏe khoắn, linh hoạt và sôi nổi:
Đi ta đi! Khai phá rừng hoang
Hỏi núi non cao, đâu sắt đâu vàng?
Hỏi biển khơi xa, đâu luồng cá chạy?
Sông Đà, sông Lô, sông Hồng, sông Chảy
Hỏi đâu thác nhảy, cho điện quay chiều?
(Bài ca mùa xuân 1961)
Trước hiện thực đổi thay ở một vùng quê, nơi mình từng hoạt động bí mật,
Tố Hữu hồi tưëng những tháng ngày đã qua với những xúc động bồi hồi. Tâm
trạng nôn nao, xao xuyến của một ngưêi lâu ngày quay trở lại chèn cũ đầy kû
niệm đã được ông thể hiện bằng một nhịp điệu chậm, sâu lắng, phù hợp với sự
hồi tëng và chiêm nghiệm:
Mời chín năm rồi. Hôm nay lại bưíc
Đoạn đường xa, cát báng lưng đồi.
Ôi có phải sóng bồi thêm bãi trước
Hay biển đau xa rút nước xa rồi?
(Mẹ T¬m)
Câu thơ của ChỊ Lan Viên " Đất nước đẹp vô cùng . Nhưng Bác phải ra đi

mảnh, đứt ra nhiều đoạn, không có gì hàn gắn nổi.
Dấu câu và cách ngắt nhịp không chỉ quan trọng với thơ mà ngay cả khi
đọc văn xuôi, các em cũng cần chú ý . Thư đọc hai đoạn văn sau đây :
Đoạn 1 : Hàng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rông nhiều và trên
không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỉ niệm mơn man
của buổi tựu trâng . Tôi quên thỊ nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở
trong lòng tôi nh mÂy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng " ( Tôi
đi học - Thanh Tịnh )
Đoạn 2 : Không được ! Ai cho tao lương thiện ? Làm thỊ nào cho mất đ-
ược những vỊt mảnh chai trên mặt này ? Tao không thể là ngời lương thiện nữa .
Biết không ! Chỉ còn một cách biết không ! Chỉ còn một cách là cái này !
Biết không ! Hắn rút dao ra, xông vào, Bá Kiến ngồi nhám dậy, Chí Phèo đã
văng dao tới rồi . ( Chí Phèo - Nam Cao )
Đoạn văn của Thanh Tịnh 62 chữ, chỉ có 2 câu, 2 dấu chấm và 2 dấu phảy,
nhịp điệu nhẩn nha, không có gì gấp gáp, vội vàng . Cả đoạn văn là những tiếng
nói thì thầm, nhỏ nhẹ nh lá rông cuối thu, lãng đãng nh mây bạc lưng trời Tất cả
nhằm diễn đạt một tâm trạng, một tấm lòng đang" náo nức những kỉ niệm mơn
man của buổi tựu trâng" .
Đoạn văn của Nam Cao 63 chữ ( tương đương với đoạn trên )nhưng ®îc chia
làm 9 câu với 5 dấu cảm thán, 4 dấu chấm lửng, 3 dấu chấm phẩy, 2 dấu chấm
11
hỏi và 2 dấu chấm khiến nhịp điệu câu văn trở nên gấp gáp, khÈn trương Chưa
kể đến sự cộng hưởng của ngữ nghĩa do các từ ngữ và hình ảnh, chỉ riêng nhịp
điệu do hệ thống dấu câu ở trên tạo nên đã giúp Nam Cao tái hiện rất thành công
cuộc đối mặt quyết liệt và dữ dội giữa Chí Phèo và Bá Kiến . Cả cuộc đời Chí
triền miên trong cơn say, mệt mỏi và u tối . Bỗng giây phút này hắn bừng tỉnh và
sáng láng. Giây phút ấy dâng nh rất ngắn ngủi nên Chí phải nói rất nhanh, làm rất
gấp, tức khắc và quyết liệt Chính cách chấm câu và ngắt nhịp ấy đã giúp Nam
Cao diễn tả rất thành công tâm trạng uất ức, dồn nén và tình thỊ gấp gáp khÈn tr-
ương của màn bi kịch này.

cùng chung phần vần (êi-êi, u-u) hoặc phần vần na ná nhau (ay-©y). Với sự hòa
12
âm này, các câu thơ nh níu kéo, lu giữ lấy nhau trong từng đoạn hay cả bài thơ.
Một chỉnh thể âm thanh hài hòa uyển chuyển do những vần có thanh bằng liên
kết với nhau nh tạo ra sự trầm lắng về âm điệu cũng nh hồn thơ góp phần không
nhỏ trong việc biểu đạt có hiệu quả tâm trạng thương cảm, mến phục và trân
trọng của Tố Hữu đối với thi hào Nguyễn Du.
Căn cứ vào cấu trúc âm thanh - sự hòa âm của vần ngời ta chia thành vần
chính và vần thông. Vân chính là vần có âm giống nhau:
Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe nh non nước vọng lời nghìn thu
vần thông là vần có âm na ná nh nhau:
Nhân tình nhắm mắt, cha xong
Biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như ?
(Tố Hữu - Kính gửi cơ Nguyễn Du).
Căn cứ vào vị trí các từ hiệp vần với nhau để chia thành vần lưng và vần
chân. Vần lưng là lối gieo vần đứng giữa câu. Trong các câu thơ trên, từ thứ 6
(lời, ru, đây, cùng) của câu bát hiệp vần với từ cuối (trời, du, nay, xong) của câu
lục. Vần chân là lối hiệp vần ở cuối câu:
Chẳng phải rằng ngây chẳng phải đần,
Bởi vì nhà khó hóa bần thần.
MÂy đời thầy kiện mà thua mẹo,
Nghĩ phận thằng cùng phải biết thân.
(Nguyễn Công Trứ - Cảnh nghèo)
Trong cách phân chia vần theo vị trí của các từ hiệp vần với nhau, lại còn
có thể chia ra thành các loại:
- Vần liền (ví dụ đoạn thơ trích dẫn trên của Tố Hữu, bài thơ ThỊ non níc
của Tản Đà).
- Vần cách: Trời đất cho ta một cái tài,
Giắt lng dành để tháng ngày chơi.

- S¬ng nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi
(Xuân Diệu)
- ¤ hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông
(Bích Khê)
- Mùa xuân cùng em lên đồi thông
Ta nh chim bay trên tầng không
(Lê Anh Xuân)
… Ngưîc lại có những câu thơ, số lượng vần trắc xuất hiện rất nhiều, cũng
tạo nên những âm hưëng lạ, cần được chú ý:
- Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh
(Nguyễn Du)
- Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
(Quang Dòng)
Có khi hai loại vần này lại sóng đôi nhằm diễn đạt một tâm trạng phức tạp.
Tài cao phận thấp chí khí uất
Giang hồ mê chơi quên quê hương
(Tản Đà)
14
Câu trên với 5 thanh trắc liên tục diễn tả một tâm trạng nh bị dồn nén, uất
ức, nghẹn tắc. Câu dưới lại toàn thanh bằng vừa nh một tâm sự, buông thả, phó
mặc vừa như một tiếng thở dài.
Có khi vần bằng, trắc được sử dụng nh một biện pháp chơi chữ: Mỗi một
câu thơ là một loại vần do một thanh đảm nhận nh bài thơ Tình hoài của Lê Ta
trong phong trào Thơ mới:
Trời buồn làm gì trời rầu rầu
Em không yêu anh em đi đâu
Lắng thấy tiếng suối thấy tiếng khóc
Một bông một dạ một nặng nhọc

Bởi vì mọi nội dung cần thể hiện của TPVH không thể có cách nào khác là nhờ
vào hệ thống từ ngữ này. Các phương tiện như dấu câu, nhịp điệu, ngữ âm ở trên
cũng chỉ có ý nghĩa khi nằm trong một văn bản mà từ ngữ là nền tảng. Nhà văn
muốn mô tả, tái hiện hiện thực phải thông qua từ ngữ. Muốn nói đến nỗi lòng của
mình, tình cảm và tư tưëng của mình cũng phải thông qua từ ngữ. Muốn đánh giá
được nhà văn viết về những điều đó nh thế nào lại cũng phỉ thông qua chữ nghĩa
trong tác phẩm… "Văn học là nghệ thuật của ngôn từ" chính là nh vậy. Do tầm
quan trọng ấy mà ngưêi ta coi lao động của nhà văn là thứ lao động chữ nghĩa,
nhà văn là phu chữ… Có thể nói ngôn từ là một đặc trưng quan trọng và nổi bật
của văn học. Vì thế các em cần lu ý một số điểm sau:
Thứ nhất: Phân tích TPVH không thể thoát li và bỏ qua yếu tố từ ngữ.
Muốn phân tích tốt từ ngữ, trước hết phải nắm vững nghĩa của từ (nghĩa chung
và nghĩa trong văn cảnh cụ thể) sau đó luôn luôn suy nghĩ để trả lời các câu hỏi:
- S¹i sao tác giả dùng từ này mà không dùng từ khác?
- Tại sao từ ngữ này lại xuất hiện nhiều nh thỊ?
- Có bao nhiêu từ đồng nghĩa với từ ấy? Có thể thay từ ấy bằng một từ ngữ
khác được không?
- Trong câu ấy, đoạn ấy, những từ ngữ nào cần gây chú ý phân tích. ở đây
cũng cần nhắc em, trong một đoạn, một bài văn, bài thơ không phải từ nào, câu
nào cũng đáng phân tích, cũng có giá trị như nhau, chính vì thế biết phát hiện
những từ ngữ đáng phân tích cũng là một năng lực, một trình độ. Trong thực tế
không ít em rơi vào tình trạng hoặc là phân tích tất cả, câu nào cũng phân tích, từ
nào cũng khen hay, hoặc là từ ngữ đáng phân tích thì lại bỏ qua, từ không đáng
dùng thì say sa tán tụng. Trong trâng hợp phân tích những tác phẩm văn học dịch
phải thật thận trọng khi phân tích từ ngữ. Bởi vì những từ được đưa ra bình giá
chưa chắc đã phải là những từ mà tác giả dùng trong nguyên bản.
Thứ hai: Người ta nói nhiều đến việc phân tích hình ảnh trong TPVH. Bởi
vì cách nói của văn học, cách thể hiện của văn chư¬ng là cách nói, cách viết bằng
hình ảnh. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng hình ảnh trong tác phẩm văn học là gì,
nếu không phải là do hệ thống từ ngữ tạo nên. Vì thế phân tích hình ảnh thực ra

những góc cạnh câu viết của mình, xem lại có nên cứ gồ ghề chân chất nh thỊ,
hay là nên gọt nó tròn trĩnh đi thì nó dễ vào lỗ tai người tiêu thụ hơn…" (Về tiếng
ta - Tuyển tập Nguyễn Tuân. Nxb Văn học, H. 1982).
Thứ ba: Để tạo cách nói, cách viết có hình ảnh, gợi hình tượng bằng từ
ngữ, các nhà văn có thể vận dụng nhiều cách: khi thì dùng từ láy:
Lưng dậu phất phơ làn khói nhạt
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
(Nguyễn Khuyến)
Hoặc
Nỗi niềm chi rứa Huế ơi,
Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên
(Tố Hữu)
Khi thì dòng những từ ngữ tưîng hình, tượng thanh:
Thuyền câu thấp thoáng dân trên vách
Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà
(Nguyễn Khuyến)
Ngay cả trong văn xuôi cũng vậy. Hình ảnh lão Hạc được Nam Cao khắc
hoạ bằng một đoạn văn ngắn với một số từ rất gợi hình tượng: "Mặt lão đột nhiên
17
co rúm lại. Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu
lão nghẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu nh con nít. Lão hu hu
khóc" (Lão Hạc).
Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc cũng được các nhà văn sử dụng rất hiệu quả
trong việc miêu tả hiện thực.
Cá non xanh dợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
(Nguyễn Du)
hoặc:
"Lưng trời ai nhuộm mà xanh ngắt"
(Nguyễn Khuyến)

chói mắt, trắng bệch là trắng mất sinh khí, trắng bong là trắng như m¬Ý, trắng
tinh là trắng nguyên chất, trắng xoá là trắng rộng khắp một vùng, trắng phau là
trắng sạch sẽ, trắng ngần là trắng sạch và trong, trắng muốt là trắng sạch mà trơn
nhẵn, trắng ngà là trắng quý phái, trắng hếu là trắng nhô ra thô bỉ, trắng dã là chỉ
màu mắt kẻ gian giảo, trắng nhởn là trắng lố bịch ( chỉ răng hoặc mắt ) vv. Và
nh thỊ sẽ là rất khó khi dịch những câu thơ sau ra một ngôn ngữ khác sao cho lột
tả hết được các màu sắc ấy :
- Cầu trắng phau phau đôi ván ghép ( Hồ Xuân Hư¬ng )
- Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ ( Bà Huyện Thanh quan )
- Tiếc thay hạt gạo trắng ngần ( Ca dao )
- Rõ ràng trong ngọc trắng ngà ( Nguyễn Du )
- Bữa thấy bong bong che trắng lốp muốn tới ăn gan ( Đồ Chiểu )
- Có phải thịt da em mềm mại trắng trong ( Lâm Thị Mü Dạ )
- Hòn đá xanh rì lún phún rêu ( Hồ Xuân Hương )
- Cá non xanh rợn chân trời ( Nguyễn Du )
- Lng trời ai nhuộm mà xanh ngắt ( Nguyễn Khuyến )
- Xanh om cổ thụ tròn xoe tán ( Bà Huyện Thanh Quan )
- Tháng tám mùa thu xanh thắm ( Tố Hữu )
- Cửa son đỏ loét tùm hum nóc ( Hồ Xuân Hương )
- Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe ( Nguyễn Khuyến )
- Má đỏ au lên đẹp lạ thường ( Hàn Mặc Tư )
- §êng quê đỏ rực cờ hồng ( Tố Hữu )
Thứ tư: Ngôn từ văn học là loại ngôn từ đã được chắt lọc từ ngôn ngữ đời
thường, được nâng cấp, sửa sang, làm cho nó càng óng ¶, giàu đẹp hơn. Các biện
pháp tu từ chính là những phương tiện quan trọng để thực hiện nhiệm vụ trang
điểm cho ngôn từ văn học. Có rất nhiều biện pháp tu từ: ẩn dụ, hoán dụ, nhân
hoá, điệp từ, điệp ngữ, so sánh… Theo GS Đinh Trọng Lạc có tới 99 ph¬ng tiện
và biện pháp tu từ trong tiếng Việt. Tất cả những cách ấy đều nhằm mục đích
giúp ngời nói, ngời viết có nhiều cách diễn đạt hay hơn, đẹp hơn, phong phú hơn
và do vậy hiệu quả cao hơn. Phân tích các biện pháp tu từ tức là chỉ ra tính hiệu

hiu quạnh, buồn bã, cô đơn, vắng lặng . ở đó ta gặp toàn những :" Ao thu lạnh lẽo
nưíc trong veo - một chiếc thuyền câu bé tẻo teo "; nhà ông ở cũng chỉ là " ba
gian nhà cá thấp le te " với cái "ngõ tối đêm sâu đóm lập loè "
Không gian thường gắn với điểm nhìn, điểm quan sát mô tả của tác giả .
Câu thơ " Trông lên mặt sắt đen sì " trong truyện Kiều của Nguyễn Du cho thấy
ngời viết đứng phía dưới nhìn lên. Nhà thơ Tố Hữu cho rằng như thế, Nguyễn Du
đã đứng về phía quần chúng lao động để quan sát bọn thống trị . Cũng như thế
chữ Kìa trong câu thơ :" Kìa hội thăng bình tiếng pháo reo" của Nguyễn Khuyến
cho ta thấy ông như đứng tách ra khỏi cái hội tây ồn ào, đầy những trò nhăng
nhít do bọn thực dân bày ra mà quan sát và ngẫm nghĩ, mà căm giận, mà đớn đau,
chua xót
Đi liền với không gian nghệ thuật là thời gian nghệ thuật, bởi vì một hành
động bao giờ cũng diễn ra ở một địa điểm vào một thời gian nhất định . Có điều
khi đọc tác phẩm văn học ta quên đi thời gian hiện thực, nhập vào tác phẩm, sống
cùng với nhân vật, cùng chứng kiến con ngời và sự việc theo thời gian trong tác
phẩm . Vì thế đang đọc giữa ban ngày mà cứ tëng nh đêm đã khuya lắm rồi; quên
hiện tại mà cứ nghĩ mình đang ở " ngày xưa ngày xa" vào "đời Vua Hùng V¬ng
thứ 18" hay " năm Gia Tĩnh Triều Minh" . Do được thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ
thuật, nên thời gian trong tác phẩm văn học được cảm nhận và mô tả rất linh
20
hoạt . Nguyễn Du đã dồn 4 mùa trong một câu thơ :" Sen tàn cúc lại nở hoa -
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân " .
Ngược lại Aimatèp đã mô tả " Một ngày dài hơn thỊ kỉ " . Thời gian trong cuộc
đời là thời gian tuần tự, còn trong tác phẩm văn học thời gian có thể đảo ngược
quá khứ, xen lẫn ngày hôm nay và những ngày đã xa khuất ngàn năm tríc cũng
nh tưëng tưîng ra ngày mai chưa đến . Thời gian trong tác phẩm văn học là thời
gian tâm lÝ, không trùng khít với thời gian ngoài đời, vì thế không nên hiểu thời
gian ấy một cách máy móc, cứng nhắc và áp đặt . Khi nhà thơ viết : Hôm qua,
hôm nay, ngày mai, dạo này, tháng tríc, năm sau, dạo ấy, vào một đêm hè thì
không nên cố tìm xem đó là thời điểm cụ thể nào trong cuộc đời . Nếu nh Hoàng

21
cảnh: " Cá non xanh tận chân trời - Cành lê trắng điểm một vài bông hoa " thì ai
chẳng biết đó là mùa xuân Khi Tố Hữu viết: " Trăng lên, trăng đứng, trăng tàn"
cũng là để chỉ thời gian đang trôi đi của một đêm và đó cũng có thể hiểu là các
thời điểm của một đời người. Đọc câu thơ của Trần Hữu Thung:"Cam ba lần có
trái- Bởi ba lần ra hoa" chắc các em đều hiểu thỊ là thời gian ba năm đã trôi qua .
Nh thỊ không gian và thời gian đều có rất nhiều cách thức biểu hiện khác
nhau. Đấy chính là chỗ để các nhà thơ thể hiện sự sáng tạo và những cách cảm
nhận độc đáo, riêng biệt trong tác phẩm của mình.
Buổi 5.
nam cao và tác phẩm lão hạc
A. Cuộc đời, con người nam cao
1. Cuộc đời
Ông xuất thân trong gia đình trung nông . Ông là người con trai cả trong
gia đình đông anh em, ông là người duy nhất được học hành chu đáo. Học xong
trung học, ông vào Sài Gòn kiếm sống 3 năm. chuyến đi này đã ảnh hưởng không
nhỏ đến việc sáng tác của nhà văn . Vì ốm đau, ông trở về quê dạy học , rồi sống
vất vưởng bằng nghề viết văn. Cuộc đời của một giáo khổ trường tư, của một nhà
văn nghèo đã ảnh hưởng sâu sắc đến phong cách viết văn của Nam cao. Sau cách
mạng, Nam Cao tiếp tục sáng tác phục vụ kháng chiến. Năm 1951, trên đường đi
công tác, nhà văn đã hi sinh.
2. Con người Nam Cao
Hiền lành, ít nói, lạnh lùng. Là nhà văn luôn gắn bó sâu nặng với quê
hương và những người nghèo khổ. Mỗi trang viết của nhà văn là trang viết đày
cảm động về con người quê hương.
3. Quan điểm sáng tác:
4. Phong cách viết truyện ngắn của Nam Cao.
Truyện của Nam Cao rất mực chân thực , thẫm đẫm chất trữ tình, đậm đà
chất triết lý . Nam cao đặc biệt sắc sảo trong việc khám phá và diễn tả những quá
trình tâm lý phức tạp của nhân vật . Ngôn ngữ của Nam cao gần với ngôn ngữ

khiến anh phẫn chí, bỏ làng đi đồn điền cao su với một giấc mộng viển vông có
bạc trăm mới về. Nghèo đói đã đẩy anh vào tấn bi kịch không có lối thoát.
Không chỉ giúp ta hiểu được nỗi đau trực tiếp của người nông dân. Truyện
còn giúp ta hiểu được căn nguyên sâu xa nỗi đau của họ. Đó chính là sự nghèo
đói và những hủ tục phong kiến lạc hậu.
II. Truyện ngắn Lão Hạc giúp ta hiểu được vẻ đẹp tâm hồn cao quý của
người nông dân
1. Lòng nhân hậu
Con đi xa, bao tình cảm chất chứa trong lòng lão dành cả cho cậu vàng.
Lão coi nó nh con, cưu mang, chăm chút nh một đứa cháu nội bé bỏng côi cút :
lão bắt rận, tắm , cho nó ăn bàng bát nh nhà giầu, âu yếm, trò chuyện gọi nó là
cậu vàng, rồi lão mắng yêu, cưng năng . Có thể nói tình cảm của lão dành cho nó
như tình cảm của người cha đối với người con.
Nhưng tình thế đường cùng, buộc lão phải bán cậu vàng. Bán chã là một
chuyện thường tình thỊ mà với lão lại là cả một quá trình đắn đo do dự. Lão cãi
đó là một sự lừa gạt, một tội tình không thể tha thứ. Lão đã đau đớn, đã khóc, đã
xưng tội với ông giáo , mong được dịu bíy nỗi dằng xé trong tâm can.
Tự huỷ diệt niềm vui của chính mình, nhưng lại sám hối vì danh dự làm
người khi đối diện trước con vật. Lão đã tự vẫn. Trên đời có bao nhiêu cái chết
23
nhẹ nhàng, vậy mà lão chọn cho mình cái chết thật đau đớn, vật vã dường như
lão muốn tự trừng phạt mình trước con chó yêu dấu.
2. Tình yêu thương sâu nặng
Vợ mất, lão ở vậy nuôi con, bao nhiêu tình thương lão đều dành cho con
trai lão . Trước tình cảnh và nỗi đau của con, lão luôn là người thấu hiểu tìm cách
chia sẻ, tìm lời lẽ an ủi giảng dải cho con hiểu dằn lòng tìm đám khac. Thương
con lão càng ®au®ín xót xa khi nhận ra sự thực phũ phàng : Sẽ mất con vĩnh
viễn “Thẻ của nó chứ đâu có còn là con tôi ”. Nh÷n ngày sống xa con,
lão không nguôi nỗi nhã thương, niềm mong mỏi tin con từ cuối phương trời .
Mặc dù anh con trai đi biền biệt năm sáu năm trời, nhưng mọi kû niệm về con

người nông dân. Là người sống gần gũi , gắn bó với người nông dân Nam Cao đã
nhìn sâu hơn vào nỗi đau tinh thần của nhà văn.
2. Bằng cái nhìn yêu thương trân trọng, Nam Cao đã nhận ra vẻ đẹp
tâm hồn đáng quý của lão Hạc trong cuộc sống không phải giành cho con
người.
a. Nhà văn nhận thấy từ thẳm sâu tâm hồn lão Hạc tÂm lòng nhân hậu thật
đáng quý
Nam Cao đã nhận ra tình cảm thân thiết máu thịt của con người dành cho
con người
Nam Cao còn phát hiện ra nỗi ân hận cao thượng và đức tính trung thực
của Lão Hạc qua việc bán con chó
Nhà văn càn nhận thấy ở người cha còm cõi xơ xác như lão Hạc tình yêu
thương con sâu nặng
b. Với phương chÂm cố tìm mà hiểu, Nam Cao đã phát hiện ra đằng sau vẻ
ngoài xấu xí gàn dở của Lão Hạc là lòng tự trọng và nhân cách trong sạch của lão
Hạc
Mở rộng: Có thể so sánh cách nhìn trân trọng đối với người nông dân của
Nam Cao và cách nhìn có phần miệt thị, khinh bỉ người nông dân của Vì Trọng
Phông. Trong tiểu thuyết Vỡ đê, Vì Trọng Phông tả người nông dân như những
con người không có ý thức không cảm xúc, coi họ như những bọn người xấu xa,
đểu cáng. Thấy được cái nhìn của Nam Cao là cái nhìn tiến bộ và nhân đạo sâu
sắc.
3. Là cách nhìn có chiều sau tràn đầy lạc quan tin tưởng.
Nam Cao nhìn người nông dân không phải bằng thứ tình cảm dông dưng
của kẻ trên hướng xuống dưới, càng không phải là hời hợt phiến diện. Nam Cao
luôn đào sâu, tìm tòi khám phá những ẩn khuất trong tâm hồn của lão Hạc , từ đó
phát hiện ra nét đẹp đáng quý : Đó là cái nhìn đầy lạc quan tin tưởng vào phẩm
hạnh tốt đẹp của người nông dân. Trước cách mạng, không ít nhân vật của Nam
cao đều bị hoàn cảnh khuất phục, làm thay đổi nhân hình lẫn nhân tính. Vậy mà
kì diệu thay hoàn cảnh khắc nghiệt đã không khiến một lão Hạc lương thiện thay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status