phòng giáo dục - đào tạo NI THNH
Tài liệu tham khảo
Lu hành nội bộ
Tháng 10/2012
Đề cơng bồi dỡng học sinh giỏi Ngữ văn lớp 9.
(Cô giáo Nguyễn Thị Hồng Chắt su tầm và biên soạn)
KHI NIM Môn Văn là môn học của tâm hồn. Mặc dù đã rất cố gắng
trong quá trình biên soạn nhng vì kinh nghiệm, thời gian và khả năng có hạn nên chắc
1
chắn còn nhiều thiếu sót. Chúng tôi mong nhận đợc sự góp ý của các thầy giáo, cô
giáo để nội dung tài liệu đợc phong phú và đạt hiệu quả cao hơn.
Tài liệu tham khảo bồi dỡng HSG
môn ngữ văn 9
*****
Giáo viên biên soạn và su tầm: Nguyễn Thị Hồng Chắt.
Đơn vị công tác: Trờng THCS Thị Trấn Hng Hà.
Hệ thống kiến thức dạy - học
Thời gian Tên chuyên đề Nội dung cơ bản
Tháng 8/2013
1. Củng cố, ôn tập
một số đơn vị
kiến thức cũ.
2. Chuyên đề 1:
Văn nghị luận
1.1. Khái quát một số kiến thức về văn bản
trong chơng trình Ngữ văn 6,7,8.
1.2. Ôn tập kiểu bài nghị luận chứng minh.
*Truyền kì mạn lục
6. Chuyên đề 4:
Kĩ năng làm văn
nghị luận.
Nam: thành phần cấu tạo, các nội dung chính,
đặc điểm thi pháp
4.2. Giới thiệu chi tiết về văn học trung đại
Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ VI đến thế kỉ
XVIII.
4.3. Các bài tập củng cố chuyên đề.
5.1. Giới thiệu khái quát về tác giả và tập
Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.
5.2. Tìm hiểu chi tiết về Chuyện ngời con gái
Nam Xơng
5.3. Luyện đề củng cố kiến thức chuyên đề.
6.1. Rèn luyện các kĩ năng xác định đề, xây
dựng dàn ý, dựng đoạn, hành văn, khái quát,
liên hệ, nâng cao, vận dụng lí luận văn học
6.2. Kết hợp luyện đề với kiến thức các chuyên
đề đã học và các kiến thức mở rộng, tổng hợp.
Tháng 10/ 2013
Tháng 11/ 2013
7. Chuyên đề 5:
*Truyện Kiều
Nguyễn Du
7.1. Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và tác phẩm
Truyện Kiều.
7.2. Tìm hiểu chi tiết các đoạn trích học và
đọc thêm trong Truyện Kiều.
7.3. Luyện đề với các kiểu bài: thuyết minh,
văn học giai đoạn này: hình tợng ngời lính, ng-
ời lao động, ngời phụ nữ
9.4. Luyện đề về văn học hiện đại Việt Nam.
Tháng 2,3/2013 10. Ôn tập tổng hợp
và luyện đề
10.1. Củng cố kiến thức cơ bản và nâng cao
trong chơng trình.
10.2. Hệ thống những nét lớn từng thời kì văn
học, từng chủ đề, so sánh, đối chiếu các vấn đề
có sự tơng đồng trong kiến thức chơng trình.
10.3 Luyện đề tổng hợp, kết hợp với việc tiếp
tục rèn kĩ năng làm văn của HS: làm văn nghị
luận văn học và nghị luận xã hội.
11.1.Ngoài các bớc tiến hành ôn tập nh trên,
GV tích cực ra đề kiểm tra đánh giá, HS làm
bài, chấm chữa bằng nhiều hình thức khác
nhau.
11.2. Bổ sung những kiến thức về các văn bản
khác trong chơng trình (một số văn bản nớc
ngoài, các văn bản học thêm ), đặc biệt có
thể còn có kiến thức của các lớp 6,7,8
11.3 Giải đáp các thắc mắc của HS.
11.4. Chuẩn bị điều kiện tốt nhất để HS tự tin
tham gia kì thi HSG các cấp.
Chuyên đề
Từ văn bản đến bài văn nghị luận xã hội
a. Cơ sơ lí luận
4
Tích hợp là quan điểm cơ bản của việc đổi mới nội dung chơng trình SGK và
đổi mới phơng pháp dạy học trong bộ môn Ngữ văn của nhiều năm nay. Trong chơng
hội và con ngời thời kì đó. Vốn có tinh thần cộng đồng ngay từ buổi đầu hình thành
dân tộc, lại phải trải qua nhiều cuộc xâm lăng, phải thờng xuyên vật lộn với những
khắc nghiệt của thiên nhiên để sinh tồn và phát triển nên tinh thần yêu nớc, ý thức
cộng đồng đã trở thành truyền thống sâu sắc và bền vững của dân tộc Việt Nam. T t-
ởng yêu nớc thể hiện trong tinh thần phục hng dân tộc ở thời Lí, trong hào khí Đông
5
A thời Trần, trong ý thức sâu sắc và đầy tự hào về đất nớc, về dân tộc ở thơ văn
Nguyễn Trãi. Tinh thần ấy lại sôi nổi, mạnh mẽ, thiết tha hơn bao giờ hết trong thơ
văn chống Pháp, trong văn học yêu nớc đầu thế kỉ XX, đặc biệt là trong văn học của
hai thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Tinh thần yêu nớc còn thể hiện
trong những rung động và niềm yêu mến, tự hào về quê hơng, thiên nhiên đất nớc, tự
hào về tiếng nói của dân tộc
Các sáng tác văn học còn đề cao tinh thần nhân đạo - tình yêu thơng con ngời -
một truyền thống sâu đậm của văn học Việt Nam. Tất cả đều hớng về khẳng định
những giá trị tốt đẹp của con ngời, lên tiếng mạnh mẽ bênh vực cho quyền sống của
con ngời đồng thời nói lên khát vọng về hạnh phúc, mơ ớc về tự do, lẽ công bằng.
Nhiều tác phẩm hớng tinh thần nhân đạo vào những tầng lớp nghèo khổ, tố cáo mạnh
mẽ những bất công xã hội, những thế lực thống trị, áp bức và lên tiếng đòi quyền sống
xứng đáng cho con ngời. Các tác phẩm văn học mới đặc biệt hớng vào khẳng định
những phẩm chất tốt đẹp và sức mạnh giải phóng của quần chúng nhân dân lao động,
ngợi ca những tình cảm cộng đồng nh tình đồng chí, đồng bào.
Nhiều tác phẩm đề cập đến những vấn đề gần gũi thiết thực trong đời sống tinh
thần của mỗi con ngời nh tình cảm gia đình, sự giật mình thức tỉnh của lơng tâm trớc
vòng xoáy cuộc đời, truyền thống uống nớc nhớ nguồn, những bài học đạo đức nhẹ
nhàng mà sâu sắc về cái đẹp, tình yêu thơng loài vật
Văn học Việt Nam có lịch sử lâu dài, gắn bó mật thiết với lịch sử, với vận mệnh
của nhân dân, lu giữ và toả chiếu tinh hoa, bản sắc tâm hồn dân tộc qua các thời đại;
là vốn quý của nền văn hoá dân tộc; nuôi dỡng và bồi đắp tâm hồn, tính cách, t tởng
cho các thế hệ ngời Việt Nam trong hiện tại và tơng lai. Tất cả các nội dung đó đều
mang một ý nghĩa xã hội sâu sắc và đều có thể trở thành một đề tài độc đáo cho các
điểm và lập luận. Về xuất phát điểm, bài nghị luận về một sự việc, hiện tợng đời sống
xuất phát từ sự thực đời sống mà nêu t tởng, bày tỏ thái độ. Bài nghị luận về vấn đề t
tởng đạo lí, sau khi giải thích, phân tích thì vận dụng các sự thật đời sống để chứng
minh nhằm trở lại khẳng định (hay phủ định) một t tởng nào đó. Đây là nghị luận
nghiêng về t tởng, khái niệm, lí lẽ nhiều hơn; các phép lập luận giải thích, chứng
minh, tổng hợp thờng đợc sử dụng nhiều.
Nh vậy, kiểu bài nghị luận xã hội trớc hết đợc dùng để bàn luận, đánh giá, nhận
xét về những vấn đề xã hội, những hiện tợng, sự việc hoặc những vấn đề t tởng đạo lí
trong đời sống xã hội, đời sống tinh thần của con ngời. Nh trên đã chỉ ra, các tác
phẩm văn học cũng trở thành một nguồn đề tài vô cùng phong phú, có nhiều nội dung
trở thành đối tợng của kiểu bài nghị luận. Trong chơng trình Ngữ văn 9, nhiều tác
phẩm đã tái hiện cuộc sống đất nớc và hình ảnh con ngời Việt Nam trong suốt thời kì
lịch sử từ sau Cách mạng tháng Tám 1945. Đất nớc và con ngời Việt Nam trong hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ với nhiều gian khổ, hi sinh nhng rất anh
hùng, công cuộc lao động xây dựng đất nớc và những quan hệ tốt đẹp của con ngời.
Những điều chủ yếu mà các tác phẩm đã thể hiện chính là tâm hồn, tình cảm, t tởng
con ngời trong một thời kì lịch sử có nhiều biến động lớn lao, những đổi thay sâu sắc:
tình yêu quê hơng đất nớc, tình đồng chí, sự gắn bó với cách mạng, lòng kính yêu Bác
Hồ, những tình cảm gần gũi bền chặt của con ngời nh tình bà cháu, tình mẹ con trong
sự thống nhất chung những tình cảm rộng lớn. Dới đây là một số ví dụ cụ thể để minh
chứng và có thể coi là một t liệu vận dụng trong quá trình giảng dạy nhằm mục đích
củng cố sâu sắc hơn kiến thức đọc hiểu của học sinh, khả năng liên hệ đến thực tế và
rèn thêm kĩ năng làm văn nghị luận xã hội cho các em.
7
III. Từ văn bản đến bài văn nghị luận xã hội.
1. Yêu cầu chung của bài văn nghị luận xã hội lấy đề tài từ các văn bản.
a. Mục đích kiểu bài:
- Củng cố kiến thức văn bản cho học sinh, giúp các em hiểu thêm về ý nghĩa
của văn chơng trong đời sống xã hôi. Khẳng định tính giáo dục, tính t tởng của tác
phẩm, và bồi đắp thêm tình cảm cho học sinh với văn học, tình cảm với cuộc sống,
thức.
- Diễn đạt bằng các hình thức lập luận của văn nghị luận: giải thích, chứng
minh, phân tích, tổng hợp. Dẫn chứng của kiểu bài này có phạm vi rộng, nhiều nhất là
trong đời sống xã hội và có thể trong cả văn học, lịch sử
2 . Một số đề văn nghị luận xã hội từ các văn bản .
Đề số 1: Trong bài thơ Con cò nhà thơ Chế Lan Viên có viết:
Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời, lòng mẹ vẫn theo con
ý thơ gợi cho em những suy nghĩ gì về tình mẹ trong cuộc đời của mỗi con ngời.
Để làm đợc đề bài này, học sinh cần xác định đúng các yêu cầu sau:
- Kiểu bài: Nghị luận xã hội (nghị luận về một vấn đề t tởng đạo lí)
- Nội dung nghị luận: Vẻ đẹp (ý nghĩa) của tình mẹ trong cuộc đời mỗi con ngời.
- Phạm vi t liệu: Những hiểu biết và suy nghĩ của cá nhân về tình mẹ trong cuộc sống
của mỗi ngời.
- Các nội dung cần viết:
+ Giải thích qua ý thơ của tác giả Chế Lan Viên (ý phụ): Dựa trên nội dung bài
thơ Con cò, đặc biệt là hai câu thơ mang ý nghĩa triết lí sâu sắc khẳng định tình mẹ
bao la, bất diệt. Trớc mẹ kính yêu, con dù có khôn lớn trởng thành nh thế nào đi
chăng nữa thì vẫn là con bé nhỏ của mẹ, rất cần và luôn đợc mẹ yêu thơng, che chở
suốt đời.
+ Khẳng định vai trò của mẹ trong cuộc sống của mỗi ngời (ý chính): Mẹ là ng-
ời sinh ra ta trên đời, mẹ nuôi nấng, chăm sóc, dạy dỗ chúng ta. Mẹ mang đến cho
con biết bao điều tuyệt vời nhất: nguồn sữa trong mát, câu hát thiết tha, những nâng
đỡ, chở che, những yêu thơng vỗ về, mẹ là bến đỗ bình yên của cuộc đời con, là niềm
tin, là sức mạnh nâng bớc chân con trên đờng đời, Công lao của mẹ nh nớc trong
nguồn, nớc biển Đông vô tận. (Dẫn chứng cụ thể)
+ Mỗi chúng ta cần phải làm gì để đền đáp công ơn của mẹ? Cuộc đời mẹ
không gì vui hơn khi thấy con mình mạnh khoẻ, chăm ngoan, giỏi giang và hiếu thảo.
Mỗi chúng ta cần rèn luyện, học tập và chăm ngoan để mẹ vui lòng: vâng lời, chăm
chỉ, siêng năng, học giỏi, biết giúp đỡ cha mẹ (Có dẫn chứng minh hoạ).
hơng, đấu tranh trớc những tệ nạn xã hội đang diễn ra ở quê hơng. Khi trởng thành trở
về quê hơng lập nghiệp, dựng xây quê mình ngày một giầu đẹp
+ Có thái độ phê phán trớc những hành vi phá hoại cơ sở vật chất, những suy
nghĩ cha tích cực về quê hơng: chê quê hơng nghèo khó, chê ngời quê lam lũ, lạc hậu,
làm thay đổi một cách tiêu cực dáng vẻ quê hơng mình
+ Liên hệ, mở rộng đến những tác phẩm viết về gia đình và quê hơng để thấy ý
nghĩa của quê hơng trong đời sống tinh thần của mỗi con ngời: Quê hơng (Đỗ
Trung Quân), Quê hơng (Giang Nam), Quê hơng (Tế Hanh), Nói với con (Y
Phơng)
+ Nâng cao: Nguồn cội của mỗi con ngời là gia đình và quê hơng, nên hiểu
rộng hơn quê hơng không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên, quê hơng còn là Tổ quốc;
10
tình yêu gia đình luôn gắn liền với tình yêu quê hơng, tình yêu đất nớc. Mỗi con ngời
luôn có sự gắn bó những tình cảm riêng t với những tình cảm cộng đồng
Đề số 3: Trớc khi vĩnh biệt cõi đời, nhà thơ Thanh Hải gửi lại lời trăng trối
bằng những thật câu thơ giản dị:
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mơi
Dù là khi tóc bạc.
(Trích Mùa xuân nho nhỏ )
Theo em tác giả đã nhẹ nhàng nhắc chúng ta điều gì qua những dòng thơ ấy?
Bài viết của học sinh cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Hiểu khái quát về ý thơ của nhà thơ Thanh Hải: Những câu thơ bày tỏ những
suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trớc mùa xuân của đất nớc, thể hiện khát vọng đợc
hoà nhập vào cuộc sống của đất nớc, đợc cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé của mình
nơi trên trái đất nhng về cuối đời anh mắc bệnh trọng nằm liệt giờng mọi hoạt động
của anh đều phải nhờ vào ngời thân. Chính lúc này anh mới nhận ra vẻ đẹp của những
cánh hoa bằng lăng, của mặt sông Hồng màu đỏ nhạt, một dải đất bồi dấp dính phù
sa, của những sắc màu thân thuộc nh da thịt, nh hơi thở thân thuộc. Đó là những phát
hiện vừa mới mẻ, vừa muộn màng gửi gắm tâm trạng của một con ngời nặng trĩu
những từng trải, đau thơng: yêu quê hơng nhng một đời phải li hơng, thờng hờ hững
và mắc vào những điều vòng vèo, chùng chình nên bây giờ cảm thấy tiếc nuối, xa xôi.
Qua đó nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi đến mọi ngời một thông điệp: Cái đẹp
thật gần gũi, cái đẹp nằm ngay trong những điều giản dị, tiêu sơ của cuộc đời mà mỗi
ngời vì sự thờ ơ có thể lãng quên.
+ Khẳng định cái đẹp nằm trong những điều giản dị, gần gũi: cái đẹp trong lời
ăn tiếng nói, trong trang phục giản dị hợp ngời hợp cảnh, trong gia đình với ngôi nhà
sạch sẽ gọn gàng, trong cách trang trí nhẹ nhàng thanh thoát không một chút cầu kì,
phô trơng; cái đẹp trong một buổi sớm mai trên con đờng quen thuộc từ nhà đến tr-
ờng, trong những bông hoa dại ven đờng mong manh bé nhỏ; cái đẹp trong những cử
chỉ thân mật gắn bó giữa bạn bè
+ Con ngời cần phải tự ý thức để nhận ra và trân trọng những giá trị và vẻ đẹp
bình dị, đích thực của cuộc sống. Trớc hết mỗi ngời phải biết yêu cái đẹp, trân trọng
và nâng niu vẻ đẹp trong cuộc đời. Mỗi ngời phải biết tạo ra cái đẹp cho mình và cho
mọi ngời để tô điểm cho cái đẹp của cuộc sống quanh ta. Có thể liên hệ tới những câu
nói ăn cho mình mặc cho ngời hoặc Không có ngời phụ nữ náo xấu, chỉ có những
ngời phụ nữ không biết làm đẹp mà thôi
+ Phê phán những quan niệm sai lầm về cái đẹp của nhiều ngời trong cuộc sống
hiện nay: đẹp là phải ăn mặc sành điệu, đúng mốt hợp thời trang, đẹp là phải sống
trong ngôi nhà cao tầng trang trí cầu kì sang trọng trong khi chủ nhân của những
trang phục, ngôi nhà đó sống cha đẹp; đẹp là phải đi đến những nơi xa lạ, những nơi
có danh lam thắng cảnh trong khi ngời khách du lịch ấy cha nhận thức đúng đắn về
việc giữ gìn môi trờng xung quanh, xem thờng những nơi từng gắn bó, thân quen từ
trớc
12
+ Những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong cuộc
sống hiện nay:
Trong nhiều tổ chức, nhiều tập thể vẫn có những cá nhân hết lòng cống hiến
sức khoẻ, năng lực, tâm huyết để dựng xây cơ quan, đơn vị mình công tác. Họ có thể
là những lãnh đạo của cơ quan, họ cũng có thể là các nhân viên, bảo vệ, là các bạn
cán bộ lớp, các thành viên trong lớp Đơn vị đó vì vậy mà không ngừng lớn mạnh
góp thêm vào việc xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, phong trào của nhà trờng
(Dẫn chứng minh hoạ, có thể trong các văn bản đã học)
13
Nhng trớc những biến động và đổi thay không ngừng của nền kinh tế thị trờng,
nhu cầu cuộc sống cá nhân ngày một khác đã trở thành khá phổ biến những quan
niệm cho rằng trớc hết phải vì cuộc sống của chính mình, vì lợi ích của riệng mình. Vì
vậy trớc tập thể nhiều cá nhân đã không đóng góp hết mình và dựa dẫm ỉ lại vào số
đông theo suy nghĩ Nớc nổi thì bèo nổi. Họ tìm cách để thu vào túi mình những
nguồn lợi lớn nhất để ổn định cuộc sống gia đình và hởng thụ, họ thờ ơ trớc những
thay đổi của đơn vị mình, thờ ơ trớc những khó khăn của mọi ngời xung quanh. Họ
không giám đấu tranh trớc những cái sai, cái xấu, bàng quan và vô u vì sợ liên luỵ đến
mình, ảnh hởng đến danh tiếng, chức sắc, thu nhập Có thể nói mối quan hệ giữa cá
nhân và tập thể trong cuộc sống ngày nay có phần xấu đi, dờng nh mọi ngời chỉ còn
làm việc theo trách nhiệm và làm vừa đủ, vừa đúng thậm chí cha hoàn thành công việc
của mình (Dẫn chứng ở tập thể lớp, ở địa ph ơng hoặc ở một cơ quan đơn vị mà em
biết).
+ Trớc hiện trạng đó mỗi cá nhân chúng ta cần phải làm gì? Xác định lại quan
điểm đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, nêu cao tinh thần đoàn kết, ý
thức cộng đồng, tinh thần trách nhiệm của mỗi ngời trong tổ chức, đơn vị mình công
tác và sinh hoạt. Tập thể phải bảo vệ quyền lợi của mỗi cá nhân, bênh vực cá nhân,
động viên, khích lệ họ vợt lên mọi hoàn cảnh để có nhiều đóng góp vì lợi ích chung
+ Liên hệ mở rộng đến những quan điểm của ngời xa:
Một cây làm chẳng lên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Con đờng đi đến thành công trong học tập có giống con đ ờng trên mặt đất?
Phần cảm thụ văn học
1. Lí thuyết và kĩ năng phần cảm thụ văn học GV tham khảo nội dung đợc học ở các
lớp dới.
2. Một số lu ý khi cảm thụ văn học trong làm văn lớp 9:
- Ngoài kĩ năng cảm thụ đã học, HS cần gia tăng trong bài viết của mình cách đánh
giá, bình luận, khả năng liên hệ, so sánh, khái quát về đối tợng cảm thụ.
- Hành văn sắc sảo, có thể bộc lộ quan điểm của cá nhân trớc đối tợng cảm thụ, có thể
đi ngợc với những cách cảm nhận thông thờng nhng phải đủ lời lẽ để thuyết phục mọi
ngời về quan điểm cá nhân đa ra.
- Vì lớp 9 là năm cuối cấp nên nội dung cảm thụ có thể có những vấn đề đã đợc học
trong các chơng trình lớp dới, chơng trình đang học và cả những kiến thức ngoài ch-
ơng trình (mới) để đánh giá khả năng cảm thụ của các em một cách khách quan.
3. Một số nội dung cảm thụ văn học:
- Một bài thơ, một bài ca dao, một đoạn trích trong tác phẩm thơ hoặc truyện (Có thể
trong chơng trình lớp 9 hoặc các lớp 6,7,8 và các văn bản khác ngoài chơng trình.
- Cảm thụ trên cơ sở so sánh các nội dung về cùng một đề tài, của cùng một tác giả,
cùng một thời đại
4. Một số đề bài tham khảo:
15
Đề 1: Cảm nhận vẻ đẹp cảnh ra khơi trong các đoạn thơ sau:
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá.
Chiếc thuyền nhẹ hăng nh con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vợt trờng giang.
Cánh buồm giơng to nh mảnh hồn làng
Rớn thân trắng bao la thâu góp gió
(Quê hơng, Tế Hanh)
Mặt trời xuống biển nh hòn lửa.
Sóng đã cài then đêm sập cửa.
Lúa cúi mình giấu quả
Ruộng bời con gió xanh.
Nớc màu đang chảy ngoan
Giữa lòng mơng máng nổi
Mạ đã thò lá mới
Trên lớp bùn sếnh sang.
Sao mà nh cổ tích
Mấy cô coi máy nớc
Mắt dài nh dao cau.
ôi con sông màu nâu
ôi con sông màu biếc
Dâng cho mùa sắp gặt
Bồi cho mùa phôi thai.
Nắng thu đang trải đầy
Đã trăng non múi bởi
Bên cầu con nghé đợi
Cả chiều thu sang sông.
(Tháng 10 năm 1973)
Phần văn học trung đại
A. Mục tiêu:
- Củng cố một số kiến thức văn học trung đại đợc học ở lớp dới, hệ thống kiến thức
văn học trong suốt một nghìn năm lịch sử thời phong kiến.
- Khắc sâu kiến thức về tình hình xã hội và tình hình văn học từ thế kỉ XVI đến thế kỉ
XIX.
- Hiểu đợc nội dung, nghệ thuật các tác phẩm văn học trung đại đợc học trong chơng
trình.
- Từ đó vận dụng kiến thức để làm văn.
B. Nội dung:
I. Tổng quan về văn học trung đại Việt Nam.
1. Khái quát về tình hình xã hội phong kiến Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XX.
Đề 4: Có ý kiến cho rằng kết thúc Chuyện ng ời con gái Nam Xơng vừa có hậu
nhng ít nhiều vẫn còn tính bi kịch.
Hãy phân tích để thấy đợc chiều sâu nhân đạo trong kết thúc đó.
Đề 5: Cảm nhận của em về chi tiết cái bóng trong Chuyện ng òi con gái Nam X-
ơng của nhà văn Nguyễn Dữ.
III. Tác giả Nguyễn Du và Truyện Kiều
18
Ngoài các kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm GV có thể nhấn mạnh một số
nội dung sau:
1. Các nhân tố làm nên thiên tài Nguyễn Du.
2. Giá trị nội dung và nghệ thuật của Truyện Kiều.
3. Mở rộng kiến thức đối với HSG về một số thành công khác của Truyện Kiều
4. Một số nội dung có thể trở thành chủ đề làm văn nghị luận:
- Trái tim yêu thơng con ngời của Nguyễn Du.
- Hình ảnh thiên nhiên trong Truyện Kiều:
+ Vẻ đẹp bức tranh mùa xuân (cảm nhận).
+ Hình ảnh ngọn cỏ trong những không gian khác nhau (so sánh).
+ Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Miêu tả ngoại hình, nội tâm nhân vật.
+ Ngôn ngữ nhân vật
- Cảm nhận, nghị luận về một đoạn trích, một số câu thơ.
4. Một số đề bài ví dụ:
Đề 1: Sự ảnh hởng và sáng tạo của Nguyễn Du trong hai dòng thơ:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
so với câu thơ cổ của Trung Quốc:
Phơng thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa .
Đề 2: Có ý kiến cho rằng đằng sau bức chân dung xinh đẹp của Thuý Kiều và Thuý
vn chng li gi mt a v rt cao. Trong phm vi bi vit ny, chỳng tụi xin c
bn n ngh thut t cnh ca thi ho Nguyn Du trong tỏc phm on Trng Tõn
Thanh hay Truyn Kiu
Ngh thut t cnh ca Nguyn Du núi chung rt a dng, ti tỡnh v phong
phỳ. Chớnh Ngh thut t cnh ny ó lm tng rt nhiu thi v v giỏ tr cho truyn
Kiu.
Li t cnh dim tỡnh .
õy l li t cnh mang tớnh cỏch ch quan, man mỏc khp trong truyn Kiu.
Cnh vt bao gi cng bao hm mt ni nim tõm s ca nhõn vt chớnh hoc ph n
cha trong ú. Núi mt cỏch khỏc, Nguyn Du t cnh m thõm ý luụn luụn em cỏi
cm xỳc ca ngi i cnh cho chi phi lờn cnh vt. iu ny khin cho cnh vt
tr thnh linh hot nh cú mt tõm hn hay mt ni xỳc cm riờng t no ú. Chớnh
Nguyn Du ó t thỳ nhn s ch quan ca mỡnh trong lỳc t cnh qua hai cõu th:
20
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Trong khuynh hướng này , nghệ thuật tả cảnh của Nguyễn Du vượt khác hẳn
các thi nhân khác, kể cả những thi sĩ Phương Tây, vốn rất thiện nghệ trong lối tả cảnh
ngụ tình. Trong khi các thi sĩ này chỉ đi một chiều, nghĩa là chỉ tìm những cảnh vật
nào phù hợp với tâm trạng của con người thì mới ghi vào, còn Nguyễn Du thì vừa
đưa cảnh đến tâm hồn con người, lại đồng thời vừa đưa tâm hồn đến với cảnh, tạo
nên một sự giao hòa tuyệt vời hai chiều giữa cảnh và người, giữa cái vô tri và cái tâm
thức để tuy hai mà một, tuy một mà hai
Ví dụ như khi chị em Kiều đi lễ Thanh Minh về, tới bên chiếc cầu bắc ngang
một dòng sông nhỏ gần mả Đạm Tiên, thì cả người lẫn cảnh đếu cảm thấy nao nao
tấc dạ trong buổi chiều tà :
“Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”
“Nao nao” chỉ tâm sự con người, nhưng cũng chỉ sự ngập ngừng lãng đãng của
dòng nước trôi dưới chân cầu.
Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Lúc Kiều theo Mã Giám Sinh về Lâm Tri, thì lòng nàng cũng chẳng thực sự là
vui mà buồn hiu hắt như hàng lau bên vệ đường:
Gió chiều như gợi cơn sầu
Vi lô hiu hắt như màu khơi trêu
Và khi theo Sở Khanh để trốn Tú Bà, thì cảnh một đêm thu có trăng sáng
nhưng cũng lạnh lùng cũng chẳng khác chi tâm sự rối bời của Kiều :
Lối mòn cỏ nhạt màu sương
Lòng quê đi một bước đường một đau
Lúc thất vọng não nề, muốn gieo mình xuông sông Tiền Đường cho rũ nợ trần,
tâm sự Kiều cũng như mảnh trăng sắp tàn, chẳng còn chút gì lưu luyến nơi thế gian:
Mảnh trăng đã gác non đoài
Một mình luống những đứng ngồi chưa xong
Lối tả chân.
Ngoài lối tả cảnh diễm tình, Nguyễn Du còn điểm trang cho truyện Kiều bằng
nhiều bức tranh tả chân, tả rất thực, và thuần túy là những họa xinh đẹp, không ngụ
tình. Những bức tranh bằng thơ có khi tươi tắn, có khi sầu mộng được viết theo lối
văn tinh xảo.Chỉ cần một vài nét phác họa với những điểm chính hiện hữu .
Đây là cảnh một túp lều tranh bên sông vắng lúc hoàng hôn, vừa giản dị, mộc
mạc nhưng cũng rất nên thơ:
Đánh tranh chụm nóc thảo đường
Một gian nước biếc mây vàng chia đôi.
Hoặc chỉ một vài nét chấm phá mà người đọc đã hình dung ra cảnh một mái
tranh nghèo rách nát tơi tả theo tháng ngày:
22
Nhà tranh vách đất tả tơi
Lau treo rèm nát trúc cài phên thưa
Hoặc bức tranh sơn thủy của một khung trời chiều long lanh phản chiếu trên
mặt sông êm ả :
Long lanh đáy nước in trời
23
Vi lô san sát hơi may
Một trời thu để riêng ai lạnh lùng
Đó là một cảnh một rừng vi lô trong mùa thu xám có gió heo may, lành lạnh.
Lối tả cảnh này có thể Nguyễn Du chỉ viết theo nghệ thuật cảm quan của mình chứ
không hề nghĩ rằng mình đang tạo ra một lối vẽ cảnh một cách tượng trưng bằng
những vần thơ. Mãi đến hơn một thế kỷ sau ,tức vào thế kỷ 19, lối tả cảnh tượng
trưng nay mới phát triển thật mau tại Pháp mà các nhà phân tích văn học gọi là
“Symbolists”. Đó là sự nhận định của Giáo sư Hà Như Chi.
Nên để ý nghệ thuật của Nguyễn Du là mang cái gì rộng lớn mênh mông , để
rồi đem vào hàm chứa trong một cái gì nhỏ bé (luận giải của Giáo Sư Hà Như Chi
trong Việt Nam Thi Văn Giảng Luận). Trong hai câu thơ trên, “một trời thu” mang
một ý niệm không gian rộng lớn bao la, trong khi bốn chữ “riêng ai một mình” lại chỉ
một phạm vi nhỏ bé, một tâm tình đơn lẻ cá nhân.
Một vài câu thơ khác cũng mang cùng một khuynh hướng như :
Hiên tà gác bóng nghiêng nghiêng
Nỗi riêng riêng chạnh tấc riêng một mìn
Đó là cảnh mặt trời chiều bâng khuâng nghiêng mình soi bóng trước mái hiên
nhà để rồi chuyển sang, ẩn vào tâm tư riêng của một cõi lòng Kiều cô đơn. (Cần chú
ý thêm là cách dùng điệp ngữ một cách tài tình khéo léo của Nguyễn Du, với chữ
“nghiêng” và “riêng” được lập đi lập lại nhiều lần mà vẫn cảm thấy hay). Có khi
Nguyễn Du lại dùng một lối tả cảnh tượng trưng ngược lại , nghĩa là đem tấc lòng
nhỏ bé của con người cho tỏa rộng bay hòa vào cái rộng lớn của trời đất.
Hãy xem cảnh Kiều và Thúc Sinh chia tay nhau:
Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
Đó là sự phân ly buồn bã tuy chỉ giữa hai người, nhưng đã làm ảm đạm cả một
vùng cảnh vật chung quanh.
Hay cảnh Kiều thất vọng cuộc đời, mở cửa phòng nhỏ bé để gieo mình xuống
dòng bao la của sông Tiền Đường :
Sè sè nắm đất bên đường
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh
Nói chung, Nguyễn Du chú trọng nhiều đến màu sắc của thiên nhiên, đặc biệt
là của hoàng hôn, của cây cỏ, của trăng và của nước là những màu sắc thi vị, nhưng
lại gieo ấn tượng cho một nỗi buồn xa xăm, cũng chỉ vì truyện Kiều mang bản chất
nhiều nỗi buồn hơn vui.
Giáo sư Hà Như Chi nhận định về lối dùng màu sắc của cụ Nguyễn Du như sau
: “Nguyễn Du khi tả ánh sáng không những chỉ trực tiếp mô tả ánh sáng ấy, mà lại
còn tả một cách gián tiếp , cho ta thấy sự phản chiếu trên ngọn cỏ, lá cây mặt nước,
đỉnh núi …” (Việt NamThi Văn Giảng Luận)
Đúng như thế, hãy xem cảnh khu vườn với hoa lựu nở đỏ như ánh lửa lập lòe
trong mùa hạ, khi mùa nắng đã được đón chào bởi tiếng quyên ca lúc khởi một đêm
trăng :
25