PHÒNG GD&ĐT MỸ ĐỨC
TRƯỜNG MẦM NON …………….
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
XÃ HỘI HOÁ Ở TRƯỜNG MẦM NON ……………..
Tác giả
:.
Chức vụ
: Hiệu trưởng
§Ò tµi thuéc lÜnh vùc : Quản lý
…….., ngµy 18/03/2013
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Xã hội hoá không phải là một hiện tượng mới đối với giáo dục. Trước khi đặt
ra chính sách xã hội hoá thì bản thân nó đã tồn tại trong thực tế làm giáo dục ngay
từ trong lịch sử xa xưa đến những năm đầu lập nước (phong trào diệt giặc dốt, xoá
nạn mù chữ ..) và ngay cả trong chiến tranh, dưới bom đạn, chính quyền và người
dân vẫn duy trì sự phát triển giáo dục trong điều kiện hết sức khó khăn... Đến ngày
nay xã hội hóa giáo dục đã trở thành một nội dung quan trọng của cải cách giáo
dục.
Nghị quyết Của Chính phủ số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh
xã hội hóa các hoạt động Giáo dục, Y tế, Văn hóa và Thể dục thể thao đưa ra Định
hướng phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục là “... Huy động nguồn lực của
các ngành, các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội và cá nhân để phát triển giáo dục đào tạo. Tăng cường quan hệ của nhà trường với gia đình và xã hội; huy động trí
cầu của xã hội.
+ Công tác lãnh chỉ đạo xã hội hóa giáo dục của nhà trường chưa đi và chiều
sâu và đạt hiệu quả cao.
Đứng trước thực trạng như vậy tôi thấy nhiệm vụ của người cán bộ quản lý là
cần đưa ra một số giải pháp cụ thể nào đó để mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức, cá
nhân cùng chung tay xây dưng nhà trường phat triển toàn diện: Đó là lý do tôi chọn
đề tài: “ Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội hoá ở trường Mầm
non ……….”
II. NỘI DUNG
1. C¬ së lý luËn
Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc
dân, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và
phát triển của nhân cách con người. Trong những năm qua, giáo dục mầm non
những tiến bộ nhất định nhưng so với các bậc học khác đây là mảng còn yếu của
giáo dục Việt Nam đó là những khẳng định trong các Hội thảo về Giáo dục mầm
non trong thời gian qua.
Trong những năm qua, đặc biệt trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước
luôn coi trọng GDMN. Ngày 23 tháng 6 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt Đề án “Phát triển GDMN giai đoạn 2006 - 2015” với quan điểm chỉ đạo là:
“... Đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để mọi tổ
chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục mầm non”. Quan điểm
chỉ đạo này hoàn toàn phù hợp với xu thế chung trên thế giới hiện nay về phát triển
nền giáo dục quốc dân.
Trong nhận thức chung, XHHGD được hiểu là sự huy động toàn xã hội làm
giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân
biến, có tính qui luật giữa cộng đồng với xã hội. Thiết lập được mối quan hệ này
làm là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển xã hội: “Mỗi người dân đều nhận
thấy đó là trách nhiệm của mình, nên đều tự nguyện và tích cực phối hợp hành
động thực hiện, đồng thời chính họ là người hưởng thụ mọi thành quả của hoạt
động đó đem lại”. Xã hội hóa giáo dục có hai vế: mọi người có nghĩa vụ chăm lo
phát triển giáo dục để giáo dục phục vụ cho mọi người. Được học tập, học tập
thường xuyên, học suốt đời, học để biết cách sống trong cộng đồng và lao động để
tồn tại và phát triển. Hai vế này nêu rõ hai yêu cầu của xã hội hóa giáo dục là: phải
xã hội hóa trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi người đối với giáo dục và xã hội hóa
quyền lợi về giáo dục. Hai yêu cầu này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn
nhau và thực hiện liên kết hợp đồng với nhau. Trong đó yêu cầu về xã hội hóa
quyền lợi về giáo dục là đỉnh cao, là mục tiêu, là cốt lõi của xã hội hóa giáo dục;
phải làm cho toàn xã hội đều được học tập, tiến tới xây dựng một xã hội học tập.
Như vậy, xã hội hóa giáo dục là một cách làm giáo dục có thể được hiểu như sau:
Thứ nhất đó là việc huy động sức mạnh tổng hợp của các ngành có liên quan
đến giáo dục vào việc phát triển sự nghiệp giáo dục. Sự huy động này không phải
nhất thời mà là thường xuyên theo một cơ chế vận hành xác định, xây dựng từ cấp
trung ương đến địa phương trên cơ sở một chiến lược phát triển giáo dục lâu dài
cho cả nước cũng như cho mỗi địa phương, địa bàn dân cư nhất định.
Thứ hai là việc huy động các lực lượng của cộng đồng tham gia vào công tác
giáo dục. Các lực lượng xã hội có thể tham gia rộng rãi vào nhiều lĩnh vực hoạt
động giáo dục với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Các lực lượng đó là Mặt
trận tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội khuyến học…Sự tham
gia của các lực lượng này sẽ làm cho giáo dục gắn bó với cộng đồng, do cộng đồng
thực hiện và vì lợi ích của cộng đồng.
Thứ ba là đa dạng hóa các hình thức giáo dục và các loại hình nhà trường.
Xã hội hoá giáo dục có tác động to lớn trong việc xây dựng cộng đồng trách
nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và phát triển môi trường kinh
tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, tạo ra phong trào học
tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình thức, vận động toàn dân học tập suốt
đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho xã
hội ta trở thành một xã hội học tập …
2. Thực trạng công tác xã hội hóa giáo dục ở trường mầm non Phúc
* Thuận lợi trong công tác XHHGD ở trường mầm non ………:
Trong những năm qua, đặc biệt là trong năm học 2012- 2013 quá trình
XHHGD ở trường Mầm non ….. đã đạt được một số kết quả đáng kể. Xã đã bố tri
được 6.200m2 để xây mới, mở rộng quy mô trường lớp. Nhà trường cũng đã huy
động được các nguồn tài chính để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho công tác
chăm sóc,nuôi dưỡng, giáo dục trẻ... Bên cạnh đó, nhà trường thực hiện có kết quả
Đề án quy hoạch bậc học mầm non giai đoạn 2010 - 2015của Thành phố Hà Nội,
đó là đồng bộ hiện đại hoá cơ sở vật chất trường lớp. Nhà trường đã thu hút 35%
trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ và 97% trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo đến lớp; trẻ 5
tuổi vào mẫu giáo đạt tỉ lệ 100%. Cùng với việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đội
ngũ giáo viên cũng không ngừng được phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tỉ
lệ giáo viên mẫu giáo đạt chuẩn là 100% và trên chuẩn là 30%.
* Những hạn chế và khó khăn:
Trường mầm non ………. nằm trên địa bàn dân cư tương đối đông. dân cư chủ
yếu sống bằng nghề nông và một số hộ tham gia buôn bán vì vậy nhận thức về mọi
mặt của cuộc sống xã hội đặc biệt là về ngành giáo dục còn nhiều hạn chế.
Một số Đồng chí lãnh đạo địa phương có tưu tưuởng cục bộ, chưa có tầm nhìn
xa và rộng nên chưa có sự quan tâm đúng mực và đầu tư thích đáng cho giáo dục
mầm non. Vì thế cơ sở vật chất những năm học trước và đầu năm học vẫn còn nằm
phân tán ở các thôn. Toàn trường có 21 nhóm lớp nằm rải rác trên 3 thôn với 68
cán bộ giáo viên và trên 500 trẻ trẻ nên công tác tuyên truyền phối kết hợp còn
yêu cầu, thuận lợi, khó khăn… nhằm làm chuyển biến nhận thức của các cấp uỷ
Đảng, chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, quần chúng nhân dân về Giáo
dục mầm non và công tác Xã hội hoá giáo duc.
Trước hết Tôi tham mưu tới các đồng chí ở cấp uỷ Đảng, chính quyền địa
phương; cán bộ, giáo viên trong ngành giáo dục và các ban ngành đoàn thể sau đó
đến toàn dân.
Thứ nhất là Tuyên truyên nâng cao nhận thức về công tác XHH bằng các đề
án, kế hoạch đối với cấp ủy chính quyền, ban nghành đoàn thể địa phương và nhân
dân trong xã.
Nhà trường thực hiện tốt công tác tham mưu với cấp uỷ và chính quyền địa
phương về kế hoạch phát triển giáo dục mầm non: Hàng năm vào đầu năm học
nhà trường xây dựng kế hoạch năm học có những tiêu chí cụ thể Báo cáo với Đảng
ủy- TTHĐND, UBND để lãnh đạo địa phương có nghị quyết chỉ đạo các ban ngành
trong xã thực hiện. Đặc biệt Nhà trường thực hiện tốt công tác tham mưu với cấp
uỷ và chính quyền địa phương về đề án Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non
giai đoạn 2010-2015 nhằm từng bước đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, Trong đó
quy hoạch nhà trường được qua tâm đặc bởi vì muốn phát triển nhà trường, nâng
cao chất lượng Chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ thì phải có quy hoạch có tầm
nhìn lâu dài, các điểm lẻ cần được gom lại, Bởi lẽ Năm 2010 nhà trường vẫn còn
tới 4 điểm trường, trong khi đó tư tưởng cục bộ địa phương chưa được xóa bỏ trong
đội ngũ cán bộ trong xã, thôn nào cũng muốn có trường Mầm non. Để đề án có
tính khả thi cao, Ngoài việc tích cực tham mưu với lãnh đạo địa phương, nhà
trường gặp gỡ trò chuyện trao đổi, tranh thủ sự ủng hộ của các ban nghành đoàn
thể, các bí thư trưởng, thôn thôn xóm, các bác lãnh đạo lão thành ở địa phương
tuyên truyền về lợi ích, quyền lợi mà con em nhân dân được hưởng khi nhà trường
được quy hoạch về 1 điểm. Kết quả là năm 2010 Nghị quyết dồn điểm trường
chuyển sang vị trí mới được thông qua Kỳ họp HĐND xã với diện tích đất hơn
cách nuôi dạy con, Chương trình giáo dục trẻ, những yêu cầu mà các bậc cha mẹ,
cộng đồng cấn phối hợp với nhà trường, niêm yết danh sách phụ huynh tham gia
đóng góp, kết quả của các đợt vận động…Nội dung tuyên truyền ngắn gọn, những
nhứnghình ảnh phù hợp, luôn có thay đổi theo chủ đề.
Thứ năm là Thông qua hệ thống loa truyền thanh tổ chức tuyên truyền sâu
rộng những nội dung thiết thực tới nhân dân và cha mẹ học sinh như; Các văn bản,
nghị quyết, chỉ thị có liên quan đến giáo dục và xã hội hoá sự nghiệp giáo dục,
Đồng thời phối hợp với trạm y tế có bài tuyên truyền về phòng chống dịch bệch
cho trẻ, Nuôi con bằng sữa mẹ…để mọi người đều nắm vững chủ trương, đường
lối, chính sách và cách nuôi dạy con theo khoa học cùng thực hiện.
Từ cách tuyên truyền trên mà nhà trường luôn được sự quan tâm của lãnh
đạo địa phương và toàn thể nhân dân, phụ huynh trong xã.
3.2 Huy động sự tham gia của gia đình, cộng đồng tổ chức tham gia công
tác xã hội hóa giáo dục.
Xã hội hoá giáo dục là tổ chức một hệ thống các hoạt động của một quá trình
phối hợp chặt chẽ thường xuyên giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục
với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp…để
vận động các tầng lớp nhân dân tham gia đắc lực có hiệu quả vào sự nghiệp giáo
dục.
Các hình thức phối hợp làm công tác xã hội hoá giáo dục cũng có những khía
cạnh, mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào trình độ, sự tự nguyện, tự giác, khả năng
điều kiện riêng của các lực lượng xã hội và tính chất của từng hoạt động xã hội.
Trong năm qua tôi đã thực hiện nhiều biện pháp tuyên truyền trong cộng đồng
và nhân dân về mục tiêu giáo dục Mầm non, phối hợp và tạo điều kiện cho cộng
đồng tham gia và giám sát công tác chăm sóc giáo dục trẻ của nhà trường.
Đó là Xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng
xã hội trong việc tổ chức tham gia cùng làm giáo dục và Tổ chức các hoạt động,
trong việc huy động cộng đồng để cùng tham gia giáo dục.
theo chương trình GDMN, phù hợp với truyền thống ở địa phương, lồng ghép các
trò chơi dân gian, ca dao hò vè… như: Lễ Hội đêm rằm, Vui tết mồng 1- 6 Tổ chức
các hoạt động tham quan học tập thực tế như: Tham quan Lăng Bác Hồ, tham
trường tiểu học, cánh đồng lúa, di tích lịch sử của địa phương. Trong mỗi Hội thi,
ngày hội nhà trường đều có Báo cáo mời lãnh đạo địa phương, trưởng các ban
nghành đoàn thể tham dự. Đặc biệt là Ban đại diện cha mẹ học sinh nhà trường
luôn quan tâm phối hợp tham gia trong suốt thời gian từ khi chuẩn bị cho ngày hội
đến kết thúc ngày hội để giúp đỡ về mọi điều kiện như: Sân khấu, trang phục, địa
điểm tham quan…để trường hoàn thành kế hoạch năm học. Mặt khác nhà trường
phối hợp tốt với Hội Phụ nữ, Trạm y tế, Phụ huynh và các tổ chức khác có liên
quan để tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ cho cha mẹ và cộng
đồng; thực hiện phòng bệnh, khám sức khỏe định kỳ cho trẻ em.
3.3. Tăng cường công tác lãnh chỉ đạo công tác XHHGD trong nhà trường
Thực tế cho thấy, công tác xã hội hoá giáo dục trong thời gian qua ở các
trường học chủ yếu là vận dụng nên nhìn chung chưa có phương pháp chung. Nơi
nào biết làm, được nhân dân ủng hộ thì xã hội hoá phát huy được tốt tác dụng, nơi
nào cấp uỷ chính quyền ít quan tâm thì sự nghiệp giáo dục chỉ bó hẹp trong trách
nhiệm của ngành giáo dục và đương nhiên là hiệu quả giáo dục thấp. Vì vây quá
trình quản lý chỉ đạo, triển khai thực hiện xã hội hoá giáo dục ở các nhà trường cần
được xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện hết sức khoa hoạch, hợp lý. Chính vì
vậy, rất cần thiết phải xây dựng một kế hoạch chi tiết có tính thuyết phục thì công
tác xã hội hóa mới có kết quả.
Trước hết kế hoạch phải có sự thống nhất cao trong đội ngũ cán bộ, Đảng
viên, giáo viên, nhân viên trong nhà trường.
Trong năm qua công tác xã hội hoá giáo dục ở trường mầm non ……… cho
thấy, để giáo dục và nhà trường thực sự phát huy được vai trò chủ động, đòi hỏi đội
ngũ cán bộ quản lý phải thực hiện đầy đủ, bài bản các bước của quá trình tổ chức
thực hiện công tác xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức,
trong Ban giám hiệu, Hội đồng nhà trưưòng, Ban đại diện cha mẹ học sinh, lập kế
hoạch công việc và dự trù kinh phí chi tiết, dự kiến nguồn huy động, công khai
niêm yết tại bảng thông báo của nhà trường nguồn huy động báo cáo lãnh đạo địa
phương, lãnh đạo phòng giáo dục xin chủ trương. Khi được lãnh đạo đồng ý về chủ
trương. Tôi tham mưu với Đồng chí tổ chức Đảng gửi kế hoạch cho các tố chức,
đoàn thể trong xã. Nhà trường tổ chức triển khai kế hoạch tới từng phụ huynh.
Kế hoạch vận động bằng hiện vật: Vận động đoàn thanh niên, hội phụ nữ,
Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi, Hội nông dân Mỗi đoàn thể 1 cây cao từ 5
m trở lên, Hợp tác xã nông nghiệp, Hợp tác xã điện năng 5cây, các cá nhân có lòng
hảo tâm trồng 1 cây và nhà trường chỉ xin những cây trong quy hoạch như phượng,
hoa lan, bằng lăng, xoài, hồng xiêm, nhãn, lộc vừng. Vận động mỗi phụ huynh một
chậu hoa, hoặc một cây hoa để trang trí các sảnh , hiên và làm góc thiên nhiên.
Huy động về nhân lực mỗi phụ huynh, giáo viên, nhân viên tham gia một
ngày công lao động đểấn lấp sân trường, tạo cảnh quan sư phạm.
Về tài chính vận động các tổ chức, cá nhân có lòng hảo tâm và toàn thể phụ
huynh trong trường tự nguyện tham gia số tiền theo khả năng tài chính của mỗi
người.
Kết quả sau một năm học số kinh phí nhà trường huy động được bằng tiền
xấp xỉ 300 triệu đồng để trang trí môi trường, vẽ 300m2 các mảng tường, mua
nhiều đồ dùng, thiết bị phục vụ công tác chăm sóc giáo dục trẻ như: 2 bộ máy lọc
nước, 1tủ lạnh, 1máy giặt, 10 bình ủ ấm, 21 ti vi đầu đĩa, xốp trải nền cho 21
nhóm lớp, một số đồ dùng bếp như bàn sơ chế, xe đẩy thức ăn, bếp ga công nghiệp,
tủ hấp cơm…, ghế đá. Số công lao động tham gia của phụ huynh và cán bộ giáo
viên: 450 công để san lấp sân trường, trồng rau hoa tạo cảnh quan sư phạm. Số
chậu hoa, cây cảnh huy động được lên tới 78 chậu. Tổng số trồng được: 6 loại cây
ăn quả và 25 cây bóng mát. Đảm bảo nhà trường có một khuôn viên thoáng mát và
hịên tốt Thông tư13/2010/TT-BGD&ĐT và xây dựng trường học an toàn, phòng,
chống tai nạn thương tích. Chỉ đạo thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn, đảm
bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ cả về thể chất và tinh thần. Thường xuyên phối hợp
với trạm y tế thực hiện tốt các biện pháp phòng chống dịch bệnh. Tổ chức cân đo
theo dõi sức khoẻ trên biểu đồ tăng trưởng, khám sức khoẻ cho 100% trẻ theo quy
định. Vận động phụ huynh cho 100% trẻ ăn tại trường , xây dựng thực đơn phong
phú theo tuần, theo mùa. Thực hiện công tác chế biến đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm. Do vậy trong nhiều năm qua, nhà trường ko để xảy ra tình trạng bệnh dịch,
ngộ độc thực phẩm. Tổ chức chỉ đạo thực hiện chương trình GDMN mới tới 100%
nhóm lớp, chỉ đạo công tác xây dựng môi trường giáo dục theo hướng " mở", , đưa
các bài hát, vè, trò chơi dân gian vào các hoạt động của trẻ. tạo điều kiện cho trẻ
hoạt động tích cực. Chú trọng tổ chức các hoạt động khám phá để trẻ được thường
xuyên trải nghiệm thực tế. Tổ chức đánh giá trẻ theo chuẩn phát triển trẻ em. Trẻ 5
tuổi đánh giá theo bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi. Với những biện pháp như trên
Nhà trường luôn giữ vững chất lượng, được lãnh đạo và nhân dân địa phương tin
tưởng tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xã hội hoá giáo dục thành công.
IV - KếT QUả .
1.Kết quả của việc ứng dụng đề tài
Trong nm hc 2012 -2013 nh lm tt cụng tỏc xó hi hoỏ giỏo dc m S
nghipGiỏo dc Mm non xó phỏt trin tt. Nh trng dn 3 im l v 1
im xõy dng chun vi din tớch 6200m2, 22 phong hc kiờn c v y cỏc
phong chc nng v cỏc cụng trỡnh ph tr khỏc, cú y cỏc trang thit b
dựng, chi trong lp, chi ngoi tri, Mt mụi trng hc tp Xanh -Sch
p, thõn thin, an ton v hin i m bo cho cụng tỏc chm súc nuụi dng,
giỏo dc tr. Nh trng duy trỡ s n nh v phỏt trin giỏo dc ỳng hng, cht
lng giỏo dc c nõng cao, t l tr n lp t l tng so vi tui, 98% tr n