ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỒ NGỌC HẢI
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT
TÀI SẢN CÓ ĐỐI TƯỢNG LÀ TÀI SẢN CÓ
ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU, SỬ DỤNG
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Úc
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số
: 60 38 40
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2012.
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Thc tin xột x ti phm lm dng tớn nhim chim ot ti sn
Cỏc v ỏn lm dng tớn nhim chim ot ti sn in hỡnh
Phõn bit ti lm dng tớn nhim chim ot ti sn cú
ng ký quyn s hu vi giao dch dõn s, kinh t v mt
s ti phm khỏc trong lut hỡnh s Vit Nam
Vn "hỡnh s húa cỏc quan h dõn s, kinh t" cú liờn quan
n ti sn cú ng ký quyn s hu hin nay nc ta
Nhng nhn xột, ỏnh giỏ v cỏc nguyờn nhõn c bn
Chng 3: HON THIN PHP LUT V NHNG GII PHP
NHIM CHIM OT TI SN Cể NG Kí
NNG CAO HIU QU P DNG CC QUY
QUYN S HU
NH CA B LUT HèNH S VIT NAM NM
Cỏc vn chung v ti lm dng tớn nhim chim ot ti sn
cú ng ký quyn s hu trong lut hỡnh s Vit Nam
Khỏi nim v cỏc du hiu phỏp lý hỡnh s ca ti lm dng
tớn nhim chim ot ti sn
Khỏi nim i tng tỏc ng ca ti lm dng tớn nhim
chim ot ti sn
Khỏi nim v nhng c im ca ti lm dng tớn nhim
chim ot ti sn cú ng ký quyn s hu
Quy nh ca phỏp lut hỡnh s mt s nc trờn th gii v ti
lm dng tớn nhim chim ot ti sn v kinh nghim rỳt ra
i vi phỏp lut hỡnh s Vit Nam
B lut hỡnh s Vit Nam
Tỡnh hỡnh ti phm lm dng tớn nhim chim ot ti sn
trong lut hỡnh s Vit Nam
45
46
60
1999 (SA I, B SUNG NM 2009) V TI
8
TI PHM LM DNG TN NHIM CHIM OT
2.1.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
3.1.1.
3.1.2.
3.2.
3.2.1.
3.2.2.
3.2.3.
3.2.4.
Hon thin cỏc quy nh ca B lut hỡnh s Vit Nam nm
1999 (sa i, b sung nm 2009) v ti lm dng tớn nhim
90
90
91
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiờn cu phỏp lut hỡnh s Vit Nam v ti lm dng tớn nhim chim
ot ti sn, ti lm dng tớn nhim chim ot ti sn cú ng ký quyn s
hu trong 10 nm (2000 - 2010) cho thy: Tỡnh hỡnh ti phm lm dng tớn
nhim chim ot ti sn cú ng ký quyn s hu ngy cng gia tng v tớnh
cht v mc nguy him cho xó hi. õy l loi ti phm m ngi phm
ti cú th gõy ra thit hi cho rt nhiu ngi, cú nhng v m ch cú mt b
cỏo nhng cú n gn 30 ngi b hi, cha k nhng ngi liờn quan khỏc.
i vi ti phm ny, ti sn b chim ot cú giỏ tr ln v l nhng ti sn
quan trng ca gia ỡnh ngi b hi, vỡ th khi ti sn cú ng ký quyn s
hu b chim ot/khụng th tr li c thỡ lm cho ngi b hi v gia ỡnh
h khụng cú iu kin sinh sng, b kit qu, n nn chng cht. iu ny
nh hng nghiờm trng n i sng ca chớnh ngi b hi v cng ng,
xó hi.
õy cng l loi ti phm cú nhiu du hiu cú liờn quan/ b trựng vi
cỏc du hiu trong phỏp lut dõn s; vỡ vy m tỡnh hỡnh "hỡnh s húa" cỏc
quan h dõn s, kinh t trong loi ti phm lm dng tớn nhim chim ot ti
sn cú ng ký quyn s hu l khỏ nhiu. Cú tỡnh trng nh vy l do cỏc
quy phm phỏp lut iu chnh vn bo v quyn s hu ti sn cú ng ký
quyn s hu cha c rừ rng, c th v cỏc c quan nh nc cha cú s
hng dn hp lý i vi nhng tỡnh tit cũn gõy nhm ln, cha hiu rừ. V
mt k thut lp phỏp nh vy l cha ỏp ng yờu cu ca mt quy phm
phỏp lut l khụng gõy nhm ln, cú tớnh thng nht theo ngnh lut v c
ỏp dng chung cho tt c ch th tham gia quan h phỏp lut, khụng tỡnh
2) ThS. Nguyễn Sỹ Đại, Ch-ơng XIV - Các tội xâm phạm sở hữu, Trong sách:
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các tội phạm), Tập thể tác giả,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; 3) ThS. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa
học Bộ luật hình sự Phần các tội phạm, Tập II - Các tội xâm phạm sở hữu,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002; 4) Chuyên đề phòng ngừa, phát hiện đấu
tranh chống các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, 1999; 5) Kỷ yếu Hội thảo Khoa học: Bộ luật hình sự Việt
Nam năm 1999, do Bộ môn T- pháp hình sự, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2000.
* ở cấp độ khác: Qua nghiên cứu cho thấy, trong khoa học luật hình sự
Việt Nam tr-ớc đây và hiện nay ch-a có khóa luận, luận văn hay luận án tiến
sĩ luật học nào đề cập đến tội phạm này.
Nh- vậy, qua nghiên cứu nội dung các công trình trên cho thấy: Một số
công trình có phạm vi nghiên cứu rộng và chung cả nhóm tội xâm phạm sở hữu,
trong đó vấn đề về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ là một phần nhỏ
trong nội dung nghiên cứu của các tác giả trong các giáo trình, sách bình luận nên
ch-a đ-ợc phân tích sâu về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt là nghiên cứu độc lập
và đánh giá thực tiễn xét xử của Tòa án ở n-ớc ta. Do đó, cho đến nay, vẫn ch-a
có công trình khoa học nào nghiên cứu độc lập, có hệ thống và ở cấp độ một luận
văn thạc sĩ luật học d-ới góc độ pháp lý hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu lý luận để
hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sa i, b sung nm
2009) về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, phân tích thực tiễn xét xử tội
phạm này từ năm 2000-2010, cũng nh- đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội phạm này rõ ràng vẫn có ý nghĩa
về mặt chính trị - xã hội và thực tiễn - pháp lý quan trọng. Từ những lý do trên,
chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản có đối t-ợng là tài sản có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình
phạm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu,
phân biệt tội này và một số tội khác hay có sự nhầm lẫn trong thực tiễn; làm
sáng tỏ các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sa i, b sung nm
2009) về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu;
phân tích thông qua nghiên cứu thực tiễn xét xử trên địa bàn toàn quốc từ năm
2000 - 2010 và nghiên cứu thông qua các bản án hình sự của Tòa án để đánh giá,
đồng thời qua đó chỉ ra một số mâu thuẫn, bất cập của các quy định hiện hành; chỉ
ra các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, cũng nh- đ-a ra nguyên
nhân để tìm giải pháp khắc phục, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản có đăng ký quyền sở hữu ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong
thực tiễn (đó là giải pháp về mặt tội phạm học).
5.2. Về thực tiễn
Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, có thể sử dụng
làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập. Một số đề xuất, kiến nghị của
luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp
và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công
tác đấu tranh phòng, chống tội này ở n-ớc ta hiện nay và sắp tới.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Những vấn đề chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản có đăng ký quyền sở hữu.
Ch-ơng 2: Tình hình tội phạm và thực tiễn xét xử tội phạm lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu.
Ch-ơng 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về tội lạm dụng tín
dng ti sn cụng, ch ti x pht vi phm;
- B lut hỡnh s - Quy nh vic x lý nhng hnh vi xõm phm ch
s hu ti sn c nh nc bo h.
Trong B lut hỡnh s nm 1999 (sa i, b sung nm 2009) cú
riờng mt chng quy nh v cỏc ti xõm phm s hu, bao gm 13 iu
quy nh rừ cỏc hnh vi xõm phm s hu c Nh nc bo v. Nhúm
ti phm xõm phm v s hu mang nhng c im:
V khỏch th: ú l quan h s hu, cú ngha l cỏc ti xõm phm s
hu phi l nhng hnh vi gõy thit hi hoc e da gõy thit hi cho quan
h s hu v gõy thit hi ny phi phn ỏnh y tớnh nguy him cho xó hi
ca hnh vi ú.
V khỏch quan: ú l cỏc hnh vi nh chim ot, chim gi trỏi
phộp, s dng trỏi phộp, hy hoi, lm h hng ti sn, Tuy hỡnh thc
th hin khỏc nhau nhng nhng hnh vi ny u xõm phm n quyn
chim hu, s dng, nh ot ca ch s hu ti sn.
V ch quan: Hu ht cỏc ti phm c thc hin do li c ý, ch cú
hai ti phm c thc hin do li vụ ý.
V ch th: ú l nhng ngi cú nng lc trỏch nhim hỡnh s v
t tui nht nh.
Tuy nhiờn, do phm vi nghiờn cu ch c gii hn trong lun vn
l Ti lm dng tớn nhim chim ot ti sn cú ng ký quyn s hu, chỳng
tôi chỉ nghiên cứu những vấn đề lý luận xoay quanh tội phạm được quy
định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Từ những phân tích trên, xét một cách chung nhất, dưới góc độ khoa
học luật hình sự thì khái niệm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
được hiểu là hành vi của một chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự và
đạt độ tuổi theo pháp luật hình sự đã vay, mượn, thuê tài sản của người
khác hoặc nhận được tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng
việc, các công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai thuộc các cơ quan hành
chính sự nghiệp. Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06/3/1998 của Chính phủ về
quản lý tài sản nhà nước. Quy chế quản lý và sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ
quan hành chính sự nghiệp (ban hành kèm theo Quyết định số 20/1999/QĐ-BTC
ngày 25/02/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) và Thông tư số 122/1999/TT-BTC
ngày 13/10/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế quản lý và sử
dụng trụ sở làm việc tại cơ quan hành chính sự nghiệp.
Thứ ba, đăng ký các phương tiện giao thông theo quy định của Luật hàng
không dân dụng Việt Nam năm 2006, Bộ luật hàng hải năm 2005, Luật giao
thông đường bộ năm 2008, Luật giao thông đường thủy nội địa năm 2004 và
các văn bản hướng dẫn thi hành.
Thứ tư, đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo quy định tại Luật di
sản văn hóa, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật di sản văn hóa. Đăng ký tài sản là vũ khí, vật liệu
và công cụ hỗ trợ theo quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
(ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ).
b) Đặc điểm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký
quyền sở hữu
Đặc điểm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký
quyền sở hữu là những đặc trưng, dấu hiệu pháp lý hình sự của tội phạm lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản có
đăng ký quyền sở hữu. Chính vì vậy mà tội phạm này có những đặc điểm
riêng biệt như sau:
Về khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký
quyền sở hữu là không có sự khác biệt với khách thể của tội phạm lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Điểm riêng biệt của tội phạm này được thể hiện
ở đối tượng mà tội phạm hướng đến/xâm phạm là tài sản có đăng ký quyền sở
hữu. Có thể chia tài sản đăng ký quyền sở hữu thành hai loại: Bất động sản có
nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
(sửa đổi, bổ sung năm 2009) chúng tôi có thể đưa ra một số nhận định như sau:
Một là, các dấu hiệu định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được
pháp luật các quốc gia trên thế giới quy định nằm trong các dấu hiệu của tội
lừa đảo. Cũng chính vì vậy, không có sự phân biệt giữa tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong các dấu hiệu
pháp lý hình sự như ở pháp luật hình sự Việt Nam. Cách quy định này cũng
có ưu điểm và khuyết điểm riêng:
Ưu điểm: Xác định cấu thành tội phạm chủ yếu dựa vào mặt chủ quan
của tội phạm nên việc định tội danh đối với người phạm tội sẽ mang lại hiệu
quả hơn vì cơ quan tiến hành tố tụng khi khởi tố, truy tố, xét xử dễ áp dụng và
xác định tính chất của tội phạm. Trong việc xác định các yếu tố cấu thành tội
phạm sẽ không bị ràng buộc, giới hạn bởi một vài hành vi cụ thể nào; có nghĩa
là việc chứng minh tội phạm và bảo vệ quyền sở hữu của công dân được bảo
đảm hơn.
Khuyết điểm: Cách quy định các dấu hiệu chung nhất nên nội dung của
quy phạm mang tính pháp lý cao, đòi hỏi phải người đọc, nghiên cứu, tìm hiểu
phải có trình độ pháp lý nhất định thì mới có thể hiểu được; mỗi quy định cần
phải có rất nhiều văn bản hướng dẫn thi hành dẫn đến một hệ thống các văn
bản "cồng kềnh". Điều này gây khó khăn cho người dân nắm bắt, thực thi
pháp luật, sẽ làm cho người dân khó nhận biết được các dạng hành vi có thể bị
truy cứu trách nhiệm hình sự để phòng tránh; việc giải thích tuyên truyền
pháp luật đòi hỏi cần có trình độ hiểu biết "sâu" về pháp luật.
Hai là, hình phạt áp dụng để trừng phạt người phạm tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự các nước trên thế giới tuy có
nhiều hình thức khác nhau nhưng có mang một đặc điểm chung là không phân
biệt hình phạt chính và hình phạt phụ khi áp dụng. Việc áp dụng hình phạt dựa
trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội và trên sự phù hợp với hậu quả
đã gây ra. Nhà làm luật quy định loại hình phạt cụ thể cho từng mức độ phạm
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
1176
1243
1200
1066
1134
1284
1237
2000 2001 2002 2003 2004
Số vụ án lạm dụng
tín nhiệm chiếm 1171 1176 1243 1200 1066
đoạt tài sản
Tỷ lệ (%)
100 100,4 106,1 102,5 91
2005
2006
2007
2008
2009
2010
1134
1284
1237
1122
1115
955
Tổng số
vụ án hình sự
(2)
49.195
41.441
45.393
47.921
48.974
Tổng số vụ án lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
(3)
1.171
1.176
1.243
1.200
1.066
Tỷ lệ %
giữa (3) và (2)
(4)
2,38
2,41
2,74
2,50
2,18
6
7
1,7
1,69
Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao.
Bảng 2.4: Áp dụng hình phạt trong xét xử tội phạm
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Năm
2005
2006
2007
2008
2009
2010
Cấm
Tịch
đảm
thu
nhiệm
tài
chức
sản
vụ
1
0
0
0
2
2
treo
3 năm
trở
xuống
3-7
năm
7-15
năm
10
14
16
15
18
13
257
357
336
296
335
199
737
853
776
755
8
1
1
2
0
0
2
0
0
0
0
0
0
Nguồn: Tòa án nhân dân tối cao.
Qua việc đưa ra những số liệu thống kê về tình hình tội phạm lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có thể đưa ra một số kết luận như sau:
Một là, sự biến động của tình hình tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản do những nguyên nhân tác động của chính sách xã hội, trong đó có chính
sách kinh tế, chính sách hình sự,... của nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử.
Hai là, cũng qua nghiên cứu cho thấy: Hậu quả do tội phạm gây ra trong các
vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ngày càng lớn và rất nghiêm trọng;
mặc dù số vụ giảm nhưng lại ngày càng có nhiều thủ đoạn tinh vi, người phạm tội
có càng nhiều hành vi xảo quyệt; tội phạm hướng đến ngày càng nhiều các quan
hệ sở hữu trong xã hội dẫn đến số người bị hại trong vụ án ngày càng nhiều hơn.
Điều này được thể hiện trong các báo cáo của cơ quan tư pháp và cơ quan bảo
vệ pháp luật. Sự gia tăng này là rất đáng lo ngại, có thể làm cho tình hình tội
phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trở lên nghiêm trọng hơn.
2008
2009
2010
Chuyển hồ sơ
vụ án
2
4
5
8
2
4
Đình chỉ
3
2
1
2
20
5
Trả hồ sơ lại
Viện kiểm sát
177
164
172
111
118
144
- Tình trạng " hình sự hoá" không chỉ gây ra những hậu quả thiệt hại về
vật chất, về con người mà quan trọng hơn nó gây phiền hà cho các hoạt động
kinh doanh, làm giảm năng lực sáng tạo của các doanh nghiệp, làm tổn
thương lòng tin của nhân dân vào lực lượng điều tra.
2.2.4. Những nhận xét, đánh giá và các nguyên nhân cơ bản
Nguyên nhân phạm tội được hiểu là tổng hợp các phẩm chất cá nhân tiêu
cực của người phạm tội hoặc có thể là cơ chế vận động của xã hội, của các
hiện tượng chính trị - tư tưởng, kinh tế - xã hội, tâm lý tiêu cực trong tác động
qua lại lẫn nhau làm phát sinh, quyết định tình hình tội phạm và các tội phạm
cụ thể và các hiện tượng xã hội này được lặp đi, lặp lại trong các mối quan hệ
xã hội luôn luôn thay đổi. Nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy có một số
nguyên nhân của việc phạm tội như sau:
Một là, hiện nay tình hình kinh tế - xã hội có nhiều biến động, thay đổi
cho phù hợp với nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; nước ta tích cực hội
nhập với khu vực và thế giới vì thế các quan hệ kinh tế - dân sự ngày càng đa
dạng và phức tạp. Hơn nữa, những năm gần đây kinh tế thế giới và trong nước
có nhiều biến động phức tạp. Diễn biến đó cũng dẫn tới nảy sinh các nhiều
vấn đề trong quá trình thực hiện các giao dịch. Do đó, tình hình tội phạm xâm
phạm sở hữu ngày càng nhiều và tác động lớn đến đời sống xã hội; trong đó
các tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng là một trong những
loại tội phạm phổ biến và có số lượng người phạm tội lớn, xâm hại quyền sở
hữu của nhiều bị hại.
Hai là, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm còn chưa hiệu quả. Đối
với các tội phạm xâm phạm sở hữu là những tội phạm gắn liền với các hoạt
động kinh tế vì thế việc đấu tranh phòng chống tội phạm không chỉ xuất phát
từ việc điều tra, truy tố, xét xử tội phạm mà còn phải "phòng" từ giai đoạn
giao kết, thực hiện các giao dịch dân sự. Hiện nay, các cơ quan tố tụng hình
sự mới chú trọng nhiều đến việc "chống" tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản mà chưa tích cực "phòng" tội phạm ngay từ ban đầu dẫn đến chưa
HON THIN PHP LUT V NHNG GII PHP
NNG CAO HIU QU P DNG CC QUY NH CA B LUT
HèNH S VIT NAM NM 1999 (SA I, B SUNG NM 2009)
V TI LM DNG TN NHIM CHIM OT TI SN
Cể NG Kí QUYN S HU
3.1. Hon thin cỏc quy nh ca B lut hỡnh s Vit Nam nm 1999
(sa i, b sung nm 2009) v ti lm dng tớn nhim chim ot ti sn
cú ng ký quyn s hu
3.1.1. Nhng c s khoa hc - thc tin ca vic hon thin
Ngy 31/3/1998, Th tng Chớnh ph ó cú Ch th s 16/TT v vic
tỡm kim v thc thi cỏc gii phỏp chng hỡnh s hoỏ cỏc giao dch dõn s,
kinh t, chng oan sai v bo v cỏc hot ng kinh doanh ca ngi dõn.
Ngy 4/7/1998, Ban Ni chớnh Trung ng cng ó cú Cụng vn s 170 bỏo
cỏo B Chớnh tr v vn ny. Ngy 21/3/2003, B Chớnh tr ó cú Ch th s
53/CH-TW khng nh quyt tõm chng oan sai trong hot ng t tng.
u tranh chng hin tng "hỡnh s hoỏ" cỏc chanh chp kinh t "phi
hỡnh s hoỏ" trong iu tra cỏc v ỏn kinh t hin nay nc ta ang l mt
vn ht sc cn thit. Nú l mt trong nhng ni dung nhm thc hin tt
yờu cu Ngh quyt 08-NQ/TW v ci cỏch t phỏp. ng thi, nú cú tỏc
dng thit thc gúp phn nõng cao nng lc, phm cht cỏn b trong cỏc c
quan iu tra, kim soỏt, to ỏn, ỏm ng yờu cu u tranh phũng chng ti
phn kinh t trong tỡnh hỡnh mi
3.1.2. Ni dung sa i, b sung
T khi ban hnh B lut hỡnh s nm 1999, i vi nhúm ti phm xõm
phm s hu ó cú hng dn ti Thụng t liờn tch s 02/2000/TTLT ngy
25/12/2001 cũn cú rt nhiu vn cn c gii thớch t phớa cỏc c quan cú
thm quyn gii thớch lut, vn dng phỏp lut cho thng nht v ỳng n
nh vn nh ngha nh th no l chim ot trong cỏc ti cú tớnh chim
ot núi chung v trong tng hnh vi ó c c th hoỏ trong iu 140 B lut
dối để chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó
vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả
năng trả lại tài sản.
Hai là, tình hình phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký
quyền sở hữu trong thời gian qua ở n-ớc ta luôn có sự biến động theo xu h-ớng
tăng dần do các quan hệ dân sự, kinh tế ngày càng nhiều và việc giải quyết các
tranh chấp có xu h-ớng hình sự hóa. Về tính chất, các vụ án lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản có đối t-ợng là tài sản có đăng ký quyền sở hữu là loại tội phạm
đ-ợc đề nghị khởi tố vụ án hình sự rất nhiều và đ-ợc xem là một "kênh" đòi nợ,
đòi tài sản của ng-ời dân. Do đó, việc đề ra đ-ợc những giải pháp tích cực khắc
phục nguyên nhân và điều kiện dẫn tới việc tăng việc phạm tội theo yêu cầu
của Đảng và Nhà n-ớc là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách, phục vụ chiến
l-ợc cải cách t- pháp mà Đảng và Nhà n-ớc xác định tại Nghị quyết số 09/CP
của Chính phủ ngày 31/7/1998 về tăng c-ờng công tác phòng, chống tội phạm
trong tình hình mới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến l-ợc
cải cách t- pháp đến năm 2020 đã đặt ra.
Ba là, trong giai đoạn hiện nay, các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án,
T- pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác phải có trách nhiệm thi
hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời h-ớng dẫn, giúp đỡ các
cơ quan khác của Nhà n-ớc, tổ chức, công dân đấu tranh phòng ngừa và chống
tội phạm, giám sát và giáo dục ng-ời phạm tội tại cộng đồng. Còn các cơ
quan, tổ chức có nhiệm vụ giáo dục những ng-ời thuộc quyền quản lý của
mình nâng cao cảnh giác, ý thức bảo vệ pháp luật và tuân theo pháp luật, tôn
trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa; kịp thời có biện pháp loại
trừ nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm trong cơ quan, tổ chức của mình.
Đặc biệt, mỗi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm nh-ng không vì lợi ích cá nhân mà cố tình đổ oan cho ng-ời
khác. Có nh- vậy, tình hình tội phạm nói chung, tình trạng phạm tội lạm dụng
giải pháp phòng, chống loại tội phạm này. Những giải pháp này rất có ý nghĩa
không những trên ph-ơng diện xã hội - pháp lý hình sự, mà còn cả trên
ph-ơng diện tội phạm học để nhằm mục đích - phòng ngừa và đấu tranh có
hiệu quả hơn loại tội phạm đã nêu trong thực tiễn hiện nay ở n-ớc ta, qua đó
góp phần khắc phục những vi phạm quyền sở hữu tài sản của công dân từ phía
các cơ quan và ng-ời tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình
sự.
ở một chừng mực nhất định, luận văn đã giải quyết cơ bản và t-ơng đối đầy
đủ về những vấn đề lý luận và thực tiễn của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản có đăng ký quyền sở hữu, đ-a ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sa i, b sung nm 2009)
về loại tội phạm này, nhất là d-ới khía cạnh pháp lý hình sự và tội phạm học.
Tuy nhiên, theo quy luật khách quan và do điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất
n-ớc, việc bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp bằng pháp luật ở n-ớc ta
còn có những hạn chế nhất định nh- đã tìm hiểu, phân tích trong luận văn này.
Vì phạm vi của đề tài cũng nh- trình độ nhận thức, tác giả đề tài mạnh dạn
đ-a ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục những hạn chế đó
đồng thời góp phần hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền sở hữu tài sản của công
dân trong luật hình sự Việt Nam hiện nay