Một số vấn đề về thực tiễn xét xử tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước mà
thực chất đó là cuộc cải cách sâu sắc bắt đầu bằng cải cách kinh tế đã làm
thay đổi theo hướng tích cực mọi mặt của đời sống xã hội. Sự chuyển đổi
kinh tế từ bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà Nước
theo định hướng XHCN đã hình thành nhiều thành phần kinh tế với các
hình thức sở hữu khác nhau. Bên cạnh những thành tựu rất đáng tự hào đã
đạt được vẫn còn tồn tại những biểu hiện tiêu cực do mặt trái của cơ chế thị
trường mang lại mà nổi cộm lên là vấn đề tình hình tội phạm diễn ra ngày
càng phức tạp, nhiều loại tội phạm gia tăng, tính chất, mức độ ngày càng
nguy hiểm hơn.Và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một trong
những tội phạm xảy ra khá phổ biến trong bối cảnh của nền kinh tế thị
trường hiện nay. Tội phạm xảy ra đã gây nhiều biến động trong xã hội, làm
thiệt hại đến tài sản Nhà Nước, tổ chức cũng như tài sản của công dân, cản
trở sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên việc xét xử loại tội phạm này
trong thực tiễn còn rất nhiều sai sót, vấn đề sai lầm trong việc xác định tội
danh và hình phạt, vấn đề "hình sự hóa" các quan hệ dân sự, quan hệ kinh
tế và "phi hình sự hóa" trong đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong mấy
năm gần đây tuy đã giảm đi rõ rệt nhưng vẫn chưa thực sự chấm dứt và
vẫn còn thu hút sự quan tâm của nhiều cấp, nhiều ngành và dư luận xã hội
thông qua những buổi tọa đàm. Những vấn đề trên còn tồn tại một phần là
do chưa nhận thức đúng đắn quy định của luật pháp về tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản để phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác
dẫn đến việc các cơ quan áp dụng pháp luật còn tỏ ra lúng túng trong việc
xác định tội danh, hình phạt làm ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, chưa
đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm. Vướng mắc này
đặt ra cho các nhà nghiên cứu luật hình sự nhiệm vụ là phải làm rõ về mặt
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lý luận cũng như bản chất và ranh giới của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm

LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1.1 Khái niệm chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản.
Nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng
XHCN, với xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa khiến các giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại diễn ra một cách thường xuyên, nhiều chiều. Việc
nhận diện đúng ranh giới giữa giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại với
hành vi phạm tội hình sự, từ đó có biện pháp điều chỉnh bằng pháp luật
một các hữu hiệu. Điều này có một ý nghĩa to lớn, nhằm làm lành mạnh
hóa các quan hệ xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, loại bỏ tình trạng được gọi
là “hình sự hóa” các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại hay “dân sự
hóa” các hành vi phạm tội, cũng như sự nhầm lẫn giữa một số tội phạm có
cấu thành gần gũi. Muốn vậy chúng ta cần phải tìm hiểu, nghiên cứu kỹ
khái niệm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu rõ khái niệm về tội phạm. Tội
phạm là một khái niệm phổ biến được rất nhiều ngành khoa học đề cập
đến, trong đó khoa học luật hình sự đặc biệt chú trọng nghiên cứu.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Điều 8 Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
được Quốc Hội khóa 10 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 có hiệu lực
từ ngày 01 tháng 07 năm 2000 (sau đây gọi tắt là BLHS): “Tội phạm là
hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự, do người
có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm
phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự
an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích
hợp pháp khác của công dân, xâm phạm các lĩnh vực khác của đời sống xã

thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cụ thể hơn, chính xác hơn,
tránh được các cách hiểu khác nhau hoặc sự tùy tiện trong việc áp dụng
pháp luật. Sự quy định này là kết quả của quá trình khảo sát và tổng kết
thực tiễn xét xử của những nhà làm luật, đánh dấu một bước phát triển mới
của công tác xây dựng pháp luật của Nhà Nước ta: "Việc nhà làm luật quy
định được các dấu hiệu định tội trong điều luật là xuất phát từ thực tiễn xét
xử loại tội phạm này trong hơn 10 năm thi hành bộ luật hình sự năm 1985,
đặc biệt vào những năm cuối của thập kỷ 90(1997-1999) tình trạng các cơ
quan pháp luật ở nhiều địa phương đã “Hình sự hóa” các quan hệ dân sự,
kinh tế làm cho nhiều người bị kết án oan về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản mà lẽ ra họ chỉ là bị đơn trong các vụ án dân sự. Trước một
thực trạng như vậy, đòi hỏi các nhà lập pháp phải đưa vào trong cấu thành
những dấu hiệu đặc trưng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
(19)
Mỗi một loại tội phạm đều có lịch sử hình thành và phát triển, giai
đoạn sau là sự kế thừa và phát triển của giai đoạn trước và tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng trải qua các giai đoạn hình thành và phát
triển như vậy.
(19)
Đinh Văn Quế (2002), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, phần các tội phạm, tập II,
Bình luận chuyên sâu, Nxb TPHCM.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2. Một số nét về lịch sử lập pháp hình sự của Nhà Nước ta đối
với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Trong bất cứ một chế độ xã hội có giai cấp nào, Nhà Nước cũng đều
xác lập, bảo vệ, củng cố và thúc đẩy sự phát triển của những quan hệ xã hội
phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị bằng sự hỗ trợ của các quy phạm
pháp luật, trong đó có những quy phạm pháp luật hình sự. Một trong những
nhóm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ phải kể đến nhóm quan hệ

số 233/SL (17/11/1946) trừng trị các tội phù lạm, biển thủ công quỹ…đây
là những văn bản đầu tiên đặt nền móng cho việc hoàn thiện các quy định
về tội xâm phạm sở hữu sau này. Tuy nhiên những sắc lệnh này vẫn còn
nhiều những hạn chế. Trước hết nó mới là những quy định sơ lược, chưa
khái quát hết được những hành vi xâm hại đến quan hệ sở hữu mà mới chỉ
tập trung vào một số hành vi: trộm cắp, phá hoại hoặc gắn với các đối
tượng của các hành vi xâm phạm là tài sản xã hội chủ nghĩa. Cho đến
Thông tư 442/TTg (19/11/1955) của thủ tướng chính phủ về trừng trị một
số tội phạm đã nhận định: “ Vì về mặt bảo vệ tài sản quốc gia, tính mệnh và
tài sản của nhân dân, luật cũ có nhiều khoản không thích hợp nên chính phủ
lại ban bố một số sắc lệnh trừng trị tội tham ô, tội tống tiền, tội bắt cóc, ám
sát, tội đánh bạc như là Sắc lệnh 27/SL ngày 28/02/1946…". Tuy nhiên các
quy định về tội lạm dụng tín nhiệm trong giai đoạn này chưa được quy định
cụ thể, chủ yếu xét xử theo nguyên tắc và án lệ, tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản được quy định với tên gọi “ Bội tín”.
“…
1. Lừa gạt, bội tín: phạt tù từ ba tháng đến năm năm."
(15)
Có thể nói đây chính là những quy định đầu tiên của nhà nước ta về
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản( Bội tín). Trong quy định này các
nhà làm luật xác định mức trách nhiệm của tội lừa gạt, bội tín là như nhau.
Quy định này còn mang tính hình thức, việc xác định hành vi cụ thể của
(4)
Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1992 và Nghị quyết về việc sửa đổi, bổ xung một
số điều của Hiến pháp 1992) (2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
(15)
TANDTC (1975), Tập hệ thống hóa luật lệ về hình sự, tập I, Hà Nội
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
từng tội phạm có chính xác không phụ thuộc nhiều vào các cơ quan xét xử.

)
S đd.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thể là vấn đề cấp bách được đặc biệt coi trọng. Điều 40 Hiến pháp 1959 đã
ghi nhận: “Tài sản công cộng của nước Việt nam dân chủ cộng hòa; là
thiêng liêng không thể xâm phạm. Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ
tài sản công cộng”
(4)
.
Đất nước ngày càng phát triển biểu hiện qua những biến đổi to lớn
về mọi mặt kinh tế xã hội. Trong khi đó những văn bản trước đây về bảo
vệ sở hữu và việc áp dụng luật lệ của chính quyền cũ đã tỏ ra không còn
phù hợp. Vì vậy ngày 21/10/1970 Ủy ban thường vụ Quốc Hội đã thông
qua pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và pháp lệnh trừng
trị các tội xâm phạm tài sản của công dân nhằm bảo vệ tài sản XHCN và
tài sản riêng của công dân, góp phần tăng cường tiềm lực kinh tế, quốc
phòng, bảo vệ, nâng cao đời sống của nhân dân. Hai pháp lệnh này là sự
tiếp nối và hoàn thiện các văn bản về các tội xâm phạm sở hữu trước đây.
Lần đầu tiên tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy đinh
thành một tội danh riêng với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm
này, hình phạt nghiêm khắc.
Điều 11 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN quy
định: “1.Kẻ nào nhận tài sản XHCN để giữ, vận chuyển, gia công, sửa chữa
hoặc để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt, bớt xén
hoặc đánh tráo tài sản đó, thì…"
Điều 11 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công
dân quy định: “1. Kẻ nào nhận tài sản của người khác để giữ, vận chuyển,
gia công, sửa chữa hoặc để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản, bớt xén hoặc đánh tráo tài sản đó thì…”

này.
1.2.3 Giai đoạn 1975-1985
Năm 1975 Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống
nhất và có nhiều sự đổi mới: bộ máy chính quyền mới, văn bản pháp luật
mới. Ngày 15/03/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam
Việt Nam ban hành Sắc luật số 03/SL-1976 quy định các tội phạm và hình
phạt được áp dụng ở Miền Nam Việt nam, trong đó có quy định về các tội
xâm phạm sở hữu, trong đó tội lạm dụng tín nhiệm được quy định tại điểm
b Điều 4 cũng với tên gọi “ Bội tín”.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
“…b.Phạm các tội khác như: trộm cắp, tham ô, lừa đảo, bội tín,
cướp giật, cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ sáu tháng đến
bẩy năm…”
(15)
Những quy định trong Sắc luật này về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản cũng như các tội phạm khác rất sơ lược, chỉ nêu tên tội phạm
mà không xác định các dấu hiệu pháp lý cụ thể. Nội dung của Sắc luật này
và hai Pháp lệnh năm 1970 về cơ bản là thống nhất, tuy nhiên sắc luật này
trình bày với quy mô nhỏ gọn hơn và được dồn vào cùng một điều với một
số tội như: lừa đảo, bội tín, cướp giật, cưỡng đoạt…Việc quy định như vậy
dẫn đến việc xử lý tội phạm không công bằng. Có những tội xâm phạm đến
một khách thể như tội lừa đảo, bội tín (xâm phạm đến quan hệ sở hữu)
nhưng có tội xâm phạm đến nhiều khách thể như tội cướp giật, cưỡng đoạt
(cùng một lúc xâm phạm đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân). Cách
quy định như vậy đòi hỏi phải có thêm văn bản hướng dẫn thi hành để xử
lý từng loại tội phạm cho chính xác. Tháng 04/1976 Bộ tư pháp đã ra
Thông tư số 03/BTP/TT hướng dẫn thi hành Sắc luật trên.
1.2.3 Giai đoạn 1985 đến nay
Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc Hội thông qua ngày

văn bản hướng dẫn thi hành nếu không sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng
luật hình sự vào thực tiễn xét xử. và trên thực tế việc xác định các dấu hiệu
pháp lý đặc trưng của nó vẫn dựa trên quy định của hai pháp lệnh năm
1970. Hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN
nghiêm khắc hơn so với tội chiếm đoạt tài sản của công dân, điều đó thể
hiện định hướng xây dựng CNXH, phát huy tính chủ đạo của thành phần
kinh tế quốc doanh trong chính sách hình sự của Nhà Nước ta. Trong bối
cảnh lịch sử và hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, BLHS 1985 là công cụ sắc
bén của Nhà Nước, của nhân dân, đã phát huy vai trò, tác dụng to lớn trong
công cuộc bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ XHCN, bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Do sự phát triển của kinh tế xã hội có nhiều thay đổi đòi hỏi pháp
luật cũng phải thay đổi cho phù hợp. BLHS 1985 đã được sửa đổi 4 lần
vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997. Điều 135 của tội lạm dụng tín nhiệm
(5
)
Bộ luật hình sự của nước CHXHCNVN (1985), Nxb Pháp lý, Hà Nội.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
chiếm đoạt tài sản XHCN có 2 lần được sửa đổi vào các năm 1989, 1992;
Điều 158 của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân có 1
lần được sửa đổi vào năm 1991. Các lần sửa đổi này chỉ sửa đổi, bổ xung
khung tăng nặng mà không sửa đổi bổ xung cấu thành cơ bản, chưa khắc
phục được thiếu sót trong quy định về mặt khách quan của hành vi phạm
tội
(6),(7),(8),(9)
. Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN, lần
sửa đổi thứ nhất theo luật sửa đổi, bổ xung một số điều của BLHS, được
Quốc Hội thông qua ngày 12/08/1991 đã điều chỉnh tăng hình phạt ở
khoản 3 từ mười năm đến hai mươi năm lên từ mười hai năm đến hai mươi

Website: Email : Tel : 0918.775.368
nền kinh tế hiện vật, kế hoạch hóa tâp trung bao cấp, thay vào đó Đảng và
Nhà nước ta có chính sách là xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần
dựa trên cơ sở nhiều hình thức sở hữu khác nhau, vận hành theo cơ chế thị
trường theo định hướng XHCN, các thành phần kinh tế đều bình đẳng
trước pháp luật và đều được nhà nước bảo hộ như nhau. Trước tình hình đó
BLHS năm 1985 đã tỏ ra không còn phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu
đấu tranh phòng chống tội phạm. Thêm vào đó là vào những năm cuối của
thập kỷ 90 (1997- 1999) tình trạng các cơ quan pháp luật ở nhiều địa
phương đã "hình sự hóa" các quan hệ dân sự, kinh tế, làm cho nhiều người
bị kết án oan về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà lẽ ra họ chỉ
là bị đơn trong các vụ án dân sự. Trước thực trạng như vậy đòi hỏi các nhà
lập pháp phải đưa vào cấu thành những dấu hiệu đặc trưng của tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Do đó việc ban hành một bộ luật mới là
rất cần thiết.
Ngày 22/11/1999 Quốc Hội khóa X đã thông qua bộ luật hình sự
năm 1999 và cũng đã thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH-10 về việc thi
hành BLHS. Bộ luật này đã kế thừa và phát huy BLHS 1985 trên cơ sở tiếp
thu những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội
phạm và những thay đổi của nền kinh tế. Bộ luật gồm 24 chương và 344
điều. BLHS năm 1999 đã có sự đổi mới toàn diện về cả nội dung và hình
thức so với BLHS năm 1985.Các tội trong chương tội xâm phạm sở hữu
XHCN và chương xâm phạm sở hữu của công dân được nhập lại thành một
chương “Các tội xâm phạm sở hữu”. Sự thay đổi trên đây nhằm tạo mặt
bằng pháp lý bình đẳng giữa các thành phần kinh tế khác nhau và đồng
thời tạo điều kiện thuận tiện cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
Trên tinh thần đó, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140) ra
đời là kết quả của sự sửa đổi một cách căn bản từ hai điều luật riêng rẽ ở
hai chương khác nhau trong BLHS năm 1985. Vì tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản XHCN và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
d) Chiếm đoạt tài sản từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm
triệu đồng;
đ) Tái phạm nguy hiểm.;
e) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy
năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm
trăm triệu đồng ;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân;
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một
trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn
bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.”
(10)
So với quy định tương ứng trong BLHS năm 1985, Điều 140 đã
mô tả được chi tiết hơn các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản đó là:
Người phạm tội vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận
được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi:
+ Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt.
+ Bỏ trốn để chiếm đoạt.
+ Sử dụng tài sản đó vào mục đich bất hợp pháp dẫn đến không có
khả năng trả lại tài sản.

2.1. Các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản.
Xét về mặt cấu trúc, tội phạm có đặc điểm chung là đều được hợp
thành bởi những yếu tố nhất định, tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể
phân chia được trong tư duy và do vậy có thể cho phép nghiên cứu độc lập
với nhau. Những yếu tố đó theo khoa học luật hình sự Việt Nam là khách
thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan. Bốn yếu tố đó đã hợp thành
cấu thành của tội phạm. Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu
chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật
hình sự
(18)
. Cấu thành tội phạm được coi là khái niệm pháp lý, là sự mô tả
khái quát loại tội phạm nhất định.
Cũng như bất kì loại tội phạm nào, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản cũng được hình thành bởi bốn yếu tố: khách thể, mặt khách
quan, chủ thể, mặt chủ quan.Việc nghiên cứu các dấu hiệu cấu thành tội
phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc làm sáng tỏ bản chất pháp lý của
loại tội phạm này từ đó là cơ sở pháp lý cho việc định tội và truy cứu trách
nhiệm hình sự.
2.1.1. Về khách thể của tội phạm.
Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm của
khoa học luật hình sự. Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính
giai cấp của pháp luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng ,
khẳng định:" Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự
bảo vệ và bị tội phạm xâm hại"
(18)
. Theo luật hình sự Việt Nam những
(18)
Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb CAND, H, 2003.
Website: Email : Tel : 0918.775.368

(11)
Bộ luật dân sự của nước CHXHCNVN, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2005.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
như hóa đơn lĩnh hàng, tín phiếu, séc, thẻ tín dụng…có thể là đối tượng tác
động của tội phạm này với điều kiện thông qua đó bất cứ ai cũng có thể
nhận được một số tiền hoặc tài sản nhất định. Nếu những giấy tờ có giá trị
mà thông qua đó không trực tiếp lấy được tài sản mà chỉ là những phương
tiện hực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc các giấy tờ chỉ dùng vào việc
phân phối thì mặc dù có hành vi chiếm đoạt thì cũng không phải là đối
tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Về nguyên tắc tài sản đó phải mua bán, trao đổi được một cách
hợp pháp, những tài sản mà Nhà Nước cấm tư nhân mua bán, trao đổi như
thuốc phiện, vũ khí, ngoại tệ,…cũng không phải là đối tượng của tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Có những tài sản không thể là đối tượng của loại tội phạm này mặc
dù hành vi chiếm đoạt tài sản đó cũng thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành của
tội này như: rừng cây, hầm mỏ, vũ khí, thuốc nổ, chầt phóng xạ, chất cháy,
chất nổ…Do có những đặc điểm, tính chất quan trọng nhất định nên những
tài sản đó đã trở thành đối tượng của một số tội phạm riêng.
Trước đây theo BLHS 1985 chỉ cần chứng minh đươc một người
có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, không cần chứng minh
giá trị tài sản là bao nhiêu (trừ trường hợp hành vi tuy có dấu hiệu của tội
phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể theo quy định
tại khoản 3 Điều 8 BLHS ) là có thể kết luận đã có dấu hiệu tội phạm (giá
trị tài sản chỉ là yếu tố lượng hình, không phải là yếu tố định tội ), thì nay
theo BLHS 1999 yếu tố lượng hình đã trở thành một căn cứ để xác định có
cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không.
Khoản 1: từ 1 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng
Hoặc dưới 1 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị

và hậu quả cũng như thời gian, hoàn cảnh, công cụ, phương tiện, thủ đoạn
phạm tội. Trong đó hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản và " nếu lấy
pháp luật mà không lấy hành vi lại lấy thái độ, tư tưởng làm tiêu chuẩn thì
(10)
Sđd.
(1)
C.Mác- F.Engel toàn tập, tập I, Nhà xuất bản quốc gia Beclin, 1967.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không phải cái gì khác mà chính là sự thừa nhận trên thực tế sự vô pháp
luật"
(2)
.
Hành vi khách quan của tội phạm được hiểu là những biểu hiện
của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ
thể nhằm đạt được những mục đích có chủ định và mong muốn. Những
biểu hiện ra bên ngoài của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi
khách quan. Không thể nói tới hậu quả của tội phạm cũng như những yếu
tố khác (như công cụ, phương tiện phạm tội,…) khi không có hành vi
khách quan. Hành vi khách quan là tác nhân gây ra sự biến đổi tình trạng
của đối tượng bị tác động của tội phạm, và do vậy nó chính là nguyên nhân
gây thiệt hại cho quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm. Hành vi khách
quan là cầu nối giữa khách thể và chủ thể tội phạm, không có chủ thể của
tội phạm khi không có hành vi khách quan của tội phạm.Hành vi khách
quan của tội phạm có ba đặc điểm sau: có tính nguy hiểm cho xã hội, là
hoạt động có ý thức và có ý chí của chủ thể, là hành vi trái pháp luật hình
sự và về hình thức biểu hiện, hành vi khách quan của tội phạm được thể
hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động phạm tội.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng có đầy đủ đặc
điểm mặt khách quan của tội phạm nói chung. Hành vi khách quan của tội

dịch phù hợp với các quy định của pháp luật.Thông qua các giao dịch đó
phát sinh các quyền và nghĩa vụ.
Giao dịch có thể được thực hiện dưới các hình thức sau:
* Vay tài sản: Theo Điều 471 BLDS năm 2005: “Hợp đồng vay
tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao cho bên vay;
khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên vay tài sản cùng loại theo
đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận và pháp luật
có quy định”. Vay tài sản được mô tả trong tội lạm dụng tín nhiệm cũng
mang đặc điểm của một hợp đồng vay tài sản nói trên. Bên vay và bên cho
vay hoàn toàn tự nguyện khi giao kết hợp đồng.
(10)
Sđd.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
*Thuê tài sản: Theo Điều 480 BLDS:” Hợp đồng thuê tài sản là sự
thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để
sử dụng trong một thời hạn, còn bên thuê phải trả tiền thuê”. Đối tượng của
hợp đồng thuê tài sản phải là những vật đặc định.
*Mượn tài sản: Theo Điều 512 BLDS, Hợp đồng mượn tài sản là
sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên
mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn
phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt
được”
(11)
.
Trong trường hợp này giữa chủ tài sản và người phạm tội thường
có mối quan hệ thân thiết như quan hệ bạn bè, yêu đương, hàng xóm…, đối
tượng chủ yếu là các phương tiện đi lại như xe máy, xe đạp…
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể có được tài sản của người khác
bằng các hình thức hợp đồng khác như: hợp đồng mua bán tài sản, hợp

đem bộ dàn nghe nhạc đến cửa hàng của Hưng để sửa. Trong khi sửa chữa,
tháo các linh kiện, thấy một vài linh kiện trong bộ dàn là linh kiện của Nhật
rất đắt tiền, Hưng đã nảy sinh ý định đổi linh kiện của Nhật bằng linh kiện
của Trung Quốc, và chiếm đoạt số linh kiện đó của nhật đó. Như vậy, ban
đầu Trần Văn Hưng không hề có ý định chiếm đoạt đoạt số linh kiện đó,
mà ý định chiếm đọat chỉ nảy sinh trong quá trình Hưng tháo các linh kiện
để sửa. Để che giấu hành vi phạm tội Hưng đã dùng thủ đoạn là thay linh
kiện của Nhật bằng linh kiện của Trung Quốc. Hành vi trên đây của Hưng
đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại
Điều 140 BLHS năm 1999.
Thủ đoạn của hành vi chiếm đoạt chiếm đoạt thứ hai là thủ đoạn bỏ
trốn. Nếu người phạm tôi không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi nhận
được tài sản một cách hợp pháp đã bỏ trốn với ý thức cố tình không thanh
toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp
(hay nói cách khác là ý thức chiếm đoạt tài sản). Bỏ trốn để trốn tránh việc
trả nợ là trường hợp người vay, mượn hoặc nhận tài sản từ các hình thức
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Trích đoạn Về hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Một số vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 BLHS mấy năm gần đây.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status