Phân biệt dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạttài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - Pdf 34

TÌNH HUỐNG
A là lái xe tải được công ty X thuê chở hàng từ kho của công ty giao cho hợp
tác xã Q theo hợp đồng. Trong một lần chở hàng, do đã quen nhau nên thủ kho của
công ty X thỏa thuận và cho A vào kho tự bốc và xếp hàng lên xe, mỗi chuyến chở
20 bao hàng ra cổng thủ kho mới kiểm tra số hàng vận chuyển và ký vào phiếu xuất
hàng. Hôm đó A đã chở được 4 chuyến, mỗi chuyến đúng 20 bao hàng, đến chuyến
thứ 5, A tự xếp thêm một bao hàng lên xe. Khi ra cổng kho A điềm nhiên như chỉ
chở 20 bao hàng như các chuyến trước và đưa phiếu xuất hàng cho thủ kho ký. Tin
rằng A chở đủ như các chuyến trước, lại đã trưa nên thủ kho không đếm lại số bao
mà hàng mà ký ngay vào phiếu xuất 20 bao hàng. Bằng thủ đoạn trên A đã chiếm
đoạt được 1 bao hàng của công ty X trị giá 2 triệu đồng.
Về vụ án trên có các quan điểm sau:
a. A phạm tội trộm cắp tài sản
b. A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
c. A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
1. Anh (chị) hãy xác định các quan điểm trên, quan điểm nào đúng? Giải
thích rõ tại sao?
2. Giả thiết rằng ngoài hành vi nói trên A còn rút bớt mỗi chuyến một số
hàng của hợp tác xã tổng giá trị là 5 triệu đồng. Hãy định tội cho hành vi này?
3. Giả định A đang có tiền án về tội giết người thì trường hợp phạm tội của
A là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? Tại sao?

1


GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
CÂU 1: ANH (CHỊ) HÃY XÁC ĐỊNH CÁC QUAN ĐIỂM TRÊN, QUAN ĐIỂM
NÀO ĐÚNG? GIẢI THÍCH RÕ TẠI SAO?
Muốn xác định A phạm tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS), tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS) hay tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
(Điều 140 BLHS), ta phải căn cứ vào cấu thành tội phạm của ba tội này và xác định

vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi
chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và kết quả của hành
vi gian dối. Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật
(qua lời nói, qua việc xuất trình những giấy tờ sai sự thật hoặc qua những việc làm
cụ thể). Hành vi chiếm đoạt của tội lừa đảo có hai hình thức thể hiện: nếu tài sản bị
chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện của hành
vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối, nếu tài sản bị chiếm đoạt
đang trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện của hành vi
chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng nhẽ phải giao cho người bị lừa dối (3).
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có hành vi khách quan là hành vi
chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản đã được giao trên cơ sở hợp đồng đã được
kí kết giữa chủ tài sản và người có hành vi chiếm đoạt. Đối tượng của hành vi
chiếm đoạt trong tội này phải là những tài sản đã được giao ngay thẳng cho người
phạm tội trên cơ sở hợp đồng. Hành vi chiếm đoạt ở đây là những hành vi không
thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết, có thể là hành vi không trả lại tài sản bằng thủ
đoạn bỏ trốn hoặc bằng thủ đoạn gian dối, hoặc hành vi không trả lại tài sản do
không có khả năng vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp (4).
Xét tình huống đề bài, ta có thể khẳng định về cả khách thể, chủ thể, và mặt
chủ quan của tội phạm A thực hiện đều thỏa mãn dấu hiệu của tội trộm cắp, tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Về khách thể,
khi thực hiện hành vi chiếm đoạt bất hợp pháp một bao hàng trị giá 2 triệu đồng
2

Xem: Trần Mạnh Hà, Định tội danh tội “Trộm cắp tài sản” qua một số dấu hiệu đặc trưng”, Tạp chí Nghề luật số
5/2006.
3
Xem: Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập 2, Nxb. CAND, Hà Nội, 2011, trang 38.
4
Xem: Sđd. Trang 42.




chiếm đoạt tài sản phải là những tài sản đã được giao ngay thẳng cho người phạm
tội trên cơ sở hợp đồng. Nhưng đối tượng của hành vi chiếm đoạt trong trường hợp
này lại là 1 bao hàng không phải tài sản đã được giao cho A một cách ngay thẳng,
nên nó không thể trở thành đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản, và A không thể bị coi là phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Ngoài ra, A cũng không hề có hành vi không trả lại tài sản được giao bằng
thủ đoạn bỏ trốn hoặc thủ đoạn gian dối, hay hành vi không trả lại được tài sản
được giao vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp (thực tế tài sản A chiếm đoạt
không phải tài sản mà A được giao, mà do A tự ý lấy đi, nên không thể có hành vi
không trả lại tài sản đươc giao).
Do đó, quan điểm cho rằng A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản là không chính xác.
2.2. Quan điểm: A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Ta khẳng định quan điểm này là sai, bởi A chỉ có hành vi chiếm đoạt tài sản
mà không hề có hành vi lừa dối; và hành vi chiếm đoạt mà A thực hiện không phải
một trong hai dạng thể hiện của hành vi chiếm đoạt của tội lừa đảo.
Trước tiên, ta thấy đối tượng của hành vi chiếm đoạt tài sản A thực hiện chỉ
là duy nhất 1 bao hàng A tự xếp thêm, chứ không phải cả 20 bao hàng trong hợp
đồng. Như đã phân tích ở trên, hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
là đưa ra các thông tin không có thật bằng các cách thức, thủ đoạn khác nhau làm
cho chủ tài sản (hoặc người quản lý hợp pháp tài sản) tin là thật, sau đó họ tự
nguyện giao tài sản của mình cho người có hành vi gian dối. Việc A đưa phiếu xuất
hàng 20 bao nhưng thực tế lại là 21 bao không phải là hành vi gian dối của tội danh
lừa đảo chiếm đoạt tài sản bởi phiếu xuất hàng là thật, việc A mang 20 bao hàng ra
khỏi kho là thật. Người thủ kho không biết việc A tự ý xếp thêm lên xe 1 bao hàng,
đồng thời cũng không có việc A lừa dối người thủ kho, nên không thể có việc
5



đang có hành vi chiếm đoạt xảy ra. Việc người thủ kho lơ là, vì tin tưởng A nên
không kiểm tra việc A bốc và xếp hàng chỉ là cơ hội, điều kiện để A có thể thực
hiện hành vi chiếm đoạt một cách lén lút. Không những thế, khi ra đến cổng, A còn
“điềm nhiên” như chỉ chở 20 bao, đưa phiếu xuất kho cho người thủ kho kí như
bình thường để tiếp tục che mắt người thủ kho, làm họ mất cảnh giác, giúp A dễ
dàng chở hàng đi mà không bị phát hiện. Người thủ kho thấy A chở hàng ra, nhưng
lại không thể biết trên chuyến hàng đó có bao hàng mà A đã chiếm đoạt. Khi đó, A
đã che giấu được hành vi phạm tội đối với người quản lý tài sản. Những hành vi đó
được A thực hiện với ý thức lén lút không cho người quản lý tài sản biết, và nhằm
mục đích che giấu việc chiếm đoạt tài sản của mình. Như vậy, có thể khẳng định
rằng, hành vi của A đã thực hiện là hành vi “lén lút chiếm đoạt tài sản” – hành vi
khách quan của tội trộm cắp. Quan điểm A phạm tội trộm cắp là chính xác.
3. Kết luận
Qua những phân tích ở trên, ta có thể khẳng định, trong ba quan điểm được nêu
ra ở đề bài, chỉ có quan điểm A phạm tội trộm cắp là đúng.
CÂU 2: GIẢ THIẾT RẰNG NGOÀI HÀNH VI NÓI TRÊN, A CÒN RÚT BỚT
MỖI CHUYẾN MỘT SỐ HÀNG CỦA HỢP TÁC XÃ VÀ TỔNG GIÁ TRỊ
LÀ 5 TRIỆU ĐỒNG. HÃY ĐỊNH TỘI CHO HÀNH VI NÀY?
Trong trường hợp này, A đã thực hiện hai hành vi. Hành vi thứ nhất là hành
vi tự mình xếp thêm một bao hàng lên xe và khi ra cổng chỉ đưa phiếu xuất hàng 20
bao cho thủ kho ký. Bằng cách đó A đã chiếm đoạt được 1 bao hàng có giá trị là 2
triệu đồng. Hành vi này đã cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều
138 BLHS như đã phân tích ở phần 1. Hành vi thứ hai là hành vi “rút bớt mỗi
chuyến một số hàng của hợp tác xã Q tổng giá trị là 5 triệu đồng”. Sau đây chỉ xác
định tội danh đối với hành vi thứ hai.

7



ở câu 2, A đã phạm hai tội: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy
định tại Điều 140 BLHS và tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 BLHS.
CÂU 3: GIẢ ĐỊNH A ĐANG CÓ TIỀN ÁN VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI THÌ
TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỦA A LÀ TÁI PHẠM HAY TÁI PHẠM NGUY
HIỂM? TẠI SAO?
Điều 49 BLHS 1999 quy định về tái phạm và tái phạm nguy hiểm như sau:
“1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội
do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.
2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý,
chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm
trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý”.
Bởi vậy, để xác định trường hợp của A được coi là tái phạm hay tái phạm
nguy hiểm cần phải xác định ba yếu tố sau:
Thứ nhất: A đã được xóa án tích về tội đã phạm trước đó hay chưa?
Trong tình huống đã nêu rõ A chưa được xóa án tích về tội giết người trước
đó của mình.
Thứ hai: Tội mà A đã phạm phải trước đó là loại tội phạm gì? Hình thức lỗi
cố ý hay vô ý? Tội này đã bị coi là tái phạm hay chưa?
Tội mà A phạm phải trước đó là tội giết người. Tội giết người tại Điều 93
BLHS có thể là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Lỗi của A trong trường hợp này là lỗi cố ý.
Tội này của A có thể đã bị coi là tái phạm hoặc có thể chưa bị coi là tái phạm.

9


Thứ ba: Tội mà A phạm phải trong trường hợp này là loại tội gì? Hình thức
lỗi cố ý hay vô ý?

CAND, Hà Nội, 2010.

3.

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 2, Nxb.
CAND, Hà Nội, 2011.

4.

Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hình sự - phần các tội
phạm, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2007.

5.

Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999, tập II, bình
luận chuyên sâu, Nxb. TPHCM, 2006.

6.

Trần Mạnh Hà, “Định tội danh tội “ Trộm cắp tài sản” qua một số dấu hiệu
đặc trưng”, Tạp chí Nghề luật số 5/2006.

7.

Trương Quang Vinh, “Các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1999”,
Tạp chí luật học, số 4/2000.

8.

Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao số




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status