nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 1/2005
65
TS. Trơng Quang Vinh*
ThS. Cao thị oanh**
rc khi BLHS nm 1999 c ban
hnh, hnh vi ua xe trỏi phộp khụng
c quy nh thnh ti danh riờng x
lý c lp. Hnh vi ny cú nhng biu
hin rừ rt ca mt ti danh c BLHS
nm 1985 quy nh, ú l ti gõy ri trt
t cụng cng. Vỡ vy, quy nh ca iu
lut ny c s dng x lý v hỡnh s
hnh vi ua xe trỏi phộp. Tuy nhiờn, do
hnh vi ua xe trỏi phộp cú nhng c
im khỏc bit so vi cỏc hnh vi ny
(nh ng c ch yu nhm to cm giỏc
hng phn, nhm tho món nhu cu cỏ
cc) nờn vic x lý v ti gõy ri trt
t cụng cng khụng th hin c trit
ng li x lý gn sỏt vi tớnh cht ca
hnh vi c bit l bng vic xõy dng cỏc
tỡnh tit nh khung tng nng phự hp.
Xut phỏt t lý do ú, trong BLHS nm
1999, ua xe trỏi phộp c quy nh l
cú gn ng c.
Th hai, iu lut quy nh ngi thc
hin hnh vi ua xe trỏi phộp ch cú th b
truy cu trỏch nhim hỡnh s nu ó gõy
thit hi cho sc kho, ti sn ca ngi
T
*; ** Ging viờn chớnh , ging viờn Khoa lut hỡnh s
Trng i hc Lut H Ni nghiên cứu - trao đổi
66
Tạp chí luật học số 1/2005
khỏc hoc ó b x pht hnh chớnh v
hnh vi ny hoc ó b kt ỏn v ti ny,
cha c xoỏ ỏn tớch m cũn vi phm
(c im xu v nhõn thõn). V vn
ny, chỳng tụi cho rng bn thõn hnh vi
ua xe trỏi phộp (cha cn gõy ra hu qu)
ó cú tớnh nguy him ỏng k cho xó hi
xỏc nh l ti phm. Hnh vi ny rừ
rng cú tớnh nguy him cao hn nhiu so
vi mt s hnh vi vi phm quy nh v an
ton giao thụng ng b khỏc nh i
khụng ỳng lung ng, vt quỏ tc
Thc tin cng cho thy nhng hnh
vi ua xe trỏi phộp (cha gõy ra hu qu)
cú ý ngha lm tng mc hỡnh pht cho
ngi thc hin hnh vi phm ti bo
m cho hỡnh pht t c mc ớch".
(1)
Do ú, chỳng tụi cho rng cn b du hiu
c im xu v nhõn thõn ngi thc
hin hnh vi trong CTTP c bn ti ua xe
trỏi phộp.
Th ba, v vic xỏc nh li ca ti
ua xe trỏi phộp. Trong ti liu Hi ngh
tp hun chuyờn sõu BLHS nm 1999, li
ca ngi phm ti ua xe trỏi phộp c
xỏc nh l c ý trc tip nhng khụng
mong mun hu qu thit hi xy ra. S
gii thớch ny phự hp vi tờn ti danh l
"ua xe trỏi phộp" v cng hp lý i vi
trng hp iu lut quy nh hu qu
khụng phi l du hiu bt buc (lỳc ú
ch xỏc nh li i vi hnh vi nguy him
c thc hin) nhng li mõu thun vi
lý lun chung v li trong trng hp hu
qu c quy nh l du hiu bt buc vỡ
trong trng hp ny li phi c hiu l
thỏi thng nht ca ngi thc hin
hnh vi i vi c hnh vi m mỡnh thc nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2005
rằng hậu quả sẽ không xảy ra.
Trong trường hợp thứ hai người phạm
tội biết rõ hành vi đua xe trái phép của
mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn
cố tình thực hiện.
Việc quy định hai loại lỗi trong CTTP
cơ bản của tội đua xe trái phép như hiện
nay mâu thuẫn với lý luận chung về lỗi vì
về nguyên tắc trong cấu thành tội phạm cơ
bản không thể đồng thời tồn tại hai hình
thức lỗi (cố ý và vô ý), chính vì vậy cách
quy định này có thể dẫn đến những bất
hợp lý và vướng mắc trong quá trình xử lý
những hành vi này. Điểm bất hợp lý dễ
được nhận thấy nhất chính là vấn đề xác
định có hay không có đồng phạm khi
nhiều người cùng thực hiện tội đua xe trái
phép. Theo quy định của BLHS hiện hành
đồng phạm chỉ tồn tại ở những tội do cố ý,
như vậy trong trường hợp đua xe trái phép
không gây ra hậu quả thì những người có
đặc điểm xấu về nhân thân là đồng phạm
của nhau, ngược lại, nếu hậu quả đã xảy ra
thì những người đó lại không thể là đồng
phạm của nhau trong khi so với trường
hợp trên tính chất của hành vi, tính liên
kết giữa những người thực hiện hành vi
cũng như tính nguy hiểm do sự liên kết đó
gây ra hoàn toàn không thay đổi. Hơn thế
nữa, nếu quy định trường hợp gây ra hậu
quy định của điều luật hiện hành.
Thứ tư, về các tình tiết định khung
tăng nặng "gây thiệt hại cho tính mạng
hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức
khoẻ, tài sản của người khác", "gây hậu
quả rất nghiêm trọng" và "gây hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng" Hiện nay, chưa có văn
bản nào giải thích chính thức về các tình
tiết này vì vậy đã dẫn đến những cách hiểu
khác nhau. Trên tinh thần giải thích tại tài
liệu Hội nghị tập huấn chuyên sâu BLHS
năm 1999, một số tác giả lý giải như sau:
Gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt
hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của
người khác là trường hợp làm chết một
người hoặc gây thương tích hoặc tổn hại
cho sức khỏe người khác từ 11% trở lên,
gây thiệt hại cho tài sản của người khác có
giá trị từ 100 triệu đồng trở lên; gây hậu
quả rất nghiêm trọng là trường hợp làm
chết hai người hoặc gây thương tích hoặc
tổn hại cho sức khoẻ người khác từ 31%
trở lên; gây thương tích hoặc tổn hại cho
sức khoẻ người khác mà tỷ lệ thương tật
dưới 31% nhưng tổng tỷ lệ thương tật là từ
31% trở lên hoặc gây thiệt hại cho tài sản
của người khác từ trên 200 triệu đồng và
gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là làm
chết ba người trở lên hoặc gây thương tích
hoặc tổn hại cho sức khoẻ người khác từ
T¹p chÝ luËt häc sè 1/2005
69
có thể thấy giữa các loại thiệt hại trong
cùng một tình tiết định khung tăng nặng -
cùng thể hiện tính chất nguy hiểm cho xã
hội ngang bằng nhau của những trường
hợp phạm tội nhất định - lại không ngang
bằng nhau (dù là tương đối). Hậu quả làm
một người chết được đánh giá ngang bằng
với hậu quả thương tích từ 11% đến 30%;
hậu quả làm chết hai người được đánh giá
ngang bằng với hậu quả thương tích từ
31% đến 60%; hậu quả làm chết ba người
trở lên được đánh giá ngang bằng với hậu
quả gây thương tích hoặc tổn hại cho sức
khoẻ người khác từ 61% trở lên. Rõ ràng,
ngay cả đến việc gây hậu quả thương tích
hoặc tổn hại cho sức khoẻ người khác từ
61% trở lên cũng chỉ có giá trị ngang bằng
một cách tương đối so với hậu quả làm
chết một người chứ không thể bàn đến
việc so sánh với hậu quả làm chết ba
người trở lên. Cách đánh giá này không
chỉ mâu thuẫn giữa các đại lượng được
đưa ra so sánh mà còn mâu thuẫn với cách
quy định trong các điều luật khác của
BLHS liên quan đến thiệt hại về tính
mạng, sức khoẻ của con người. Tại khoản
3 Điều 104 việc gây thương tích hoặc gây
thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài
sản của người khác là trường hợp:
+ Làm chết một người;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ
thương tật của mỗi người từ 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ
thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ nghiên cứu - trao đổi
70
Tạp chí luật học số 1/2005
l thng tt ca tt c nhng ngi ny
t 61% n 100 %, nu khụng thuc cỏc
trng hp c hng dn trờn;
+ Gõy thit hi v ti sn cú giỏ tr t
50 triu ng n di 500 triu ng.
Gõy hu qu rt nghiờm trng l
trng hp:
+ Lm cht hai ngi;
+ Gõy thng tớch hoc gõy tn hi cho
sc kho ca ba n bn ngi vi t l
thng tt ca mi ngi t 61% tr lờn;
+ Gõy thng tớch hoc gõy tn hi cho
mt t nm trm triu ng tr lờn;
+ Gõy thit hi v tớnh mng, sc kho,
ti sn thuc bn trng hp tr lờn c
hng dn v tỡnh tit "Gõy thit hi cho
tớnh mng hoc gõy thit hi nghiờm trng
cho sc kho, ti sn ca ngi khỏc";
+ Gõy thit hi v tớnh mng, sc
kho, ti sn thuc hai trng hp tr lờn
c hng dn v tỡnh tit "Gõy hu qu
rt nghiờm trng".
Ngoi ra, nhng trng hp hnh vi
phm ti gõy ra nhng hu qu phi vt
cht nh nh hng xu n vic thc
hin ng li ca ng, chớnh sỏch ca
Nh nc, gõy nh hng v an ninh, trt
t, an ton xó hi thỡ tu tng trng
hp c th ỏnh giỏ mc ca hu
qu do ti phm gõy ra l rt nghiờm trng
hoc c bit nghiờm trng./.
(1).Xem: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hoà, Cấu thành
tội phạm lý luận và thực tiễn, Nxb. T pháp, Hà
Nội 2004, tr. 102.
(2).Xem: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hoà, Sđd. tr. 112 -113.