ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HỒ NGỌC HẢI
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
CÓ ĐỐI TƯỢNG LÀ TÀI SẢN CÓ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU,
SỬ DỤNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Đào Trí Úc
Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
CHươNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI
SẢN CỂ ĐĂNG KÍ QUYỀN SỞ HỮU
8
1.1.
Các vấn đề chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản có đăng ký quyền sở hữu trong luật hình sự Việt Nam
8
1.1.1.
Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình
sự của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản
8
1.1.2.
Khái niệm đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản
17
NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
41
2.1.
Tình hình tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
trong luật hình sự Việt Nam
41
2.2.
Thực tiễn xét xử tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản
45
2.2.1.
Các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản điển hình
46
2.2.2.
Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu với
giao dịch dân sự, kinh tế và một số tội
phạm khác trong luật hình sự Việt Nam
60
2.2.3.
Vấn đề "hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế" có liên
quan đến tài sản có đăng ký quyền sở hữu hiện nay ở nước
ta
71
2.2.4.
Những nhận xét, đánh giá và các nguyên nhân cơ bản
77
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP
hành viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân
90
3.2.3.
Tăng cường phát triển đội ngũ Luật sư, trợ giúp pháp lý
90
3.2.4.
Tăng cường phòng, chống "hình sự hoá" các quan hệ dân
sự, kinh tế có liên quan đến tài sản có đăng ký quyền sở
hữu
91
KÕt luËn
93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
96 DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Số vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và số
bị cáo
Điều đó dẫn đến: "Pháp luật, dù có hoàn thiện đến mấy cũng không thể phản
ánh và quy định hết được tất cả những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống" [48].
Đây là một sự thật khách quan mà bất kỳ một thể chế chính trị, một
quốc gia nào hoặc một nhà lập pháp xuất sắc nào đều phải thừa nhận. Quan hệ
xã hội thì rất nhiều, được thể hiện ở muôn hình vạn trạng và luôn luôn nảy
sinh quan hệ xã hội mới. Vì vậy, pháp luật không bao giờ có thể hoàn mỹ khi
xã hội còn luôn vận động. Do đó, nhiệm vụ của cơ quan lập pháp, nhà làm
luật, người dân, mọi thành phần trong xã hội là làm thế nào để pháp luật có
thể phù hợp với xã hội, bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho nhân dân.
Cũng chính vì thế mà không ngừng hoàn thiện pháp luật là mục tiêu,
định hướng chiến lược của mỗi quốc gia, thể chế chính trị. Các cơ quan lập
pháp, người dân, cả xã hội đang từng ngày, từng giờ cố gắng "phản ánh" các
quan hệ xã hội vào pháp luật bằng các quy định. Những nhà nghiên cứu cũng
đang miệt mài tìm hiểu, phân tích đánh giá, so sánh pháp luật để có thể góp
những ý kiến "phản ánh" đến các quan hệ pháp luật để pháp luật ngày càng
hoàn thiện hơn. Đó cũng chính là mong muốn, hành động của chúng tôi -
Những nhà nghiên cứu luật học đang nghiên cứu luận văn thạc sỹ về đề tài:
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối tượng là tài sản có đăng
ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam. Nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký
quyền sở hữu trong 10 năm (2000 - 2010) cho thấy: Tình hình tội phạm lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu ngày càng gia
tăng về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội. Đây là loại tội phạm mà
người phạm tội có thể gây ra thiệt hại cho rất nhiều người, có những vụ mà
chỉ có một bị cáo nhưng có đến gần 30 người bị hại, chưa kể những người liên
quan khác. Đối với tội phạm này, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị lớn và là
những tài sản quan trọng của gia đình người bị hại, vì thế khi tài sản có đăng
những quan hệ kinh tế mới mà chưa có giải pháp pháp lý phù hợp, chưa có cơ
quan nhà nước giải quyết tốt bằng một cơ chế pháp lý hoàn thiện. Điều này là
nguyên nhân làm cho người dân, cơ quan áp dụng pháp luật thường "gò ép"
các dấu hiệu của quan hệ pháp luật dân sự sang các dấu hiệu của quan hệ
pháp luật hình sự để giải quyết. Đó là nguyên nhân dẫn đến việc hình sự hóa
ngày càng gia tăng.
Với nội dung nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi đã nhận thấy
tình trạng "không rõ ràng" trong việc xác định các dấu hiệu pháp lý hình sự
của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu và
nêu ra một số vấn đề cần phải sửa đổi cho phù hợp với quan hệ xã hội hiện
nay trong việc giao kết hợp đồng. Với mong muốn luận văn này có thể gợi ý,
đóng góp và giải quyết phần nào những tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng
pháp luật trong thực tiễn; Chúng tôi nghiên cứu đề tài: Tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối tượng là tài sản có đăng ký quyền sở hữu,
sử dụng theo luật hình sự Việt Nam để góp phần nâng cao hiệu quả công tác
phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu về
các tội xâm phạm sở hữu bắt đầu đã được nghiên cứu, còn nghiên cứu riêng rẽ
và độc lập về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký
quyền sở hữu mới chỉ được đề cập gián tiếp qua phân tích chung về cả nhóm tội xâm phạm sở hữu và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thông qua
các yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể của tội phạm, mặt khách quan của
tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm) và hình phạt
trên ba bình diện khoa học:
* Ở cấp độ giáo trình đại học, sách tham khảo, chuyên khảo hay sách
bình luận: 1) TS. Nguyễn Ngọc Chí, Chương VI - Các tội xâm phạm sở hữu,
Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Tập thể
định lựa chọn đề tài: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối
tượng là tài sản có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt
Nam làm luận văn thạc sĩ luật học.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở kế thừa các công trình
khoa học của các tác giả đi trước, đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh lý luận và thực
tiễn của vấn đề và cập nhật số liệu thực tiễn vẫn có tính cấp thiết, qua đó góp
phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và giảm việc hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế
liên quan đến tài sản có đăng ký quyền sở hữu trong tình hình hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường
lối của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu trong đề tài sử dụng các phương pháp nghiên
cứu của khoa học luật hình sự như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội
học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát
thực tiễn; điều tra án điển hình để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa
học cần nghiên cứu trong luận văn này. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, tác giả đã tiếp thu
có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố, các đánh giá,
tổng kết của các cơ quan chuyên môn và các chuyên gia về những vấn đề có
liên quan đến các vấn đề nghiên cứu trong luận văn.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
5.1. Về lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về tội
Chương 2: Tình hình tội phạm và thực tiễn xét xử tội phạm lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CÓ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU
1.1. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT
TÀI SẢN CÓ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình
sự của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Sở hữu là quan hệ xã hội giữa người với người
trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải xã
hội. Sở hữu không chỉ bao gồm quan hệ con người
chiếm hữu tư liệu sản xuất, của cải, mà điều cốt yếu là
đề cập đến quan hệ giữa người với người trong quá
trình diễn ra sự chiếm hữu đó. Người ta phân biệt hai
loại sở hữu: sở hữu mang tính dân sự (sở hữu nhà ở,
đồ dùng cá nhân) và sở hữu tư liệu sản xuất.
Quan hệ sở hữu là một trong những quan hệ cơ
bản và quan trọng nhất của một thể chế. Pháp luật Việt
Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới
luôn xác định sở hữu, quyền sở hữu là vấn đề trọng
tâm của pháp luật. Các quan hệ tài sản luôn xuất phát
từ quan hệ sở hữu, chính vì thế quan hệ sở hữu là tiền
bổ sung, hoàn thiện và điều chỉnh cho phù hợp với
tình hình kinh tế - chính trị. Cũng chính vì vậy mà các
quan hệ sở hữu (sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân)
còn chưa hoàn thiện về hình thức, còn nhiều tranh
chấp liên quan đến quyền sở hữu. Bởi vậy, một hệ
thống pháp luật bảo vệ quyền sở hữu là hết sức cần
thiết và quan trọng. Hiện nay, để bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều
quan hệ pháp luật để điều chỉnh:
- Hiến pháp - Quy định chế độ chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của các cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối
quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà
nước quản lý; đồng thời ghi nhận các nguyên tắc,
chính sách bảo vệ quyền sở hữu của công dân;
- Bộ luật dân sự - Bảo vệ các quyền sở hữu tài sản
trong quan hệ dân sự;
- Luật đầu tư - Bảo vệ quyền sở hữu tài sản
trong đầu tư sản xuất kinh doanh;
- Luật hành chính - Đưa ra các biện pháp xử lý
hành chính đối với việc xâm phạm quyền sở hữu tài
sản ở mức độ nhẹ;
- Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước - Quy
định nguyên tắc sử dụng tài sản công, chế tài xử phạt
vi phạm;
Và Bộ luật hình sự quy định việc xử lý những
hành vi xâm phạm chế độ sở hữu tài sản được nhà
nghiên cứu những vấn đề lý luận xoay quanh tội phạm
được quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999
(sửa đổi, bổ sung năm 2009):
Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản 1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm
đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới
năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích
mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm
hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được
tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ
đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người
khác hoặc nhận được tài sản của người khác
bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài
sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến
không có khả năng trả lại tài sản [25].
Từ những phân tích trên, xét một cách chung
nhất, dưới góc độ khoa học luật hình sự thì khái niệm
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được hiểu là
hành vi của một chủ thể có năng lực trách nhiệm hình
sự và đạt độ tuổi theo pháp luật hình sự đã vay, mượn,
thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản
của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên
thông qua hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian
sản. Hành vi chiếm hữu được quy định cụ thể tại Điều
182 Bộ luật dân sự năm 2005 được hiểu theo nghĩa
rộng, có thể là hành vi của chủ sở hữu trong việc kiểm
soát thực tế, hoặc kiểm soát về mặt pháp lý đối với
vật, hoặc chủ sở hữu đồng thời thực hiện cả hai hành
vi này; b) Quyền sử dụng là một quyền năng mà pháp
luật quy định cho chủ sở hữu được phép sử dụng các
tài sản của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt,
sản xuất kinh doanh, song việc sử dụng đó không
được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng tới lợi ích của
các chủ thể khác;
c) Quyền định đoạt là quyền năng mà pháp luật
quy định cho chủ sở hữu để quyết định số phận pháp
lý của tài sản.
Cả ba quyền năng cụ thể trên tạo thành một hệ
thống nhất trong nội dung của quyền sở hữu, chúng có
mối liên kết mật thiết với nhau nhưng mỗi quyền năng
lại mang một ý nghĩa khác nhau.
Về đối tượng tác động của tội phạm này chính là
tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, của tập thế, của
công dân,… Tài sản được thể hiện dưới các hình thức:
Vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và
quyền tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân
sự năm 2005: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có
giá và các quyền tài sản" [24].
2) Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản. Theo đó, mặt khách quan của tội
làm mất đi quyền sở hữu đối với tài sản của chủ sở hữu
hợp pháp. Ở đây, hành vi chiếm đoạt đã gây ra thiệt
hại vật chất cho chủ tài sản dù bằng bất kỳ hình thức
nào. Thiệt hại ở đây là biểu hiện thực tế như làm hao
hụt giảm bớt không thể trả lại trạng thái ban đầu. Vì
gây thiệt hại là dấu hiệu đặc trưng của hành vi chiếm đoạt, do đó hành vi chiếm đoạt chỉ được coi là hoàn
thành khi đã gây ra thiệt hại vật chất cho chủ tài sản.
Trên thực tế, người phạm tội đã vi phạm nghĩa
vụ cam kết nhằm chiếm đoạt một phần hay toàn bộ tài
sản đã nhận từ chủ tài sản. Biểu hiện của hành vi vi
phạm nghĩa vụ cam kết có các dạng: Lật lọng, gian
dối; chây ỳ dây dưa cố ý không trả lại tài sản cho chủ
tài sản
Thời điểm hoàn thành của tội phạm được xác
định khi người phạm tội hoàn thành việc chiếm đoạt
tài sản của chủ sở hữu. Yếu tố này chúng tôi xin phân
tích kỹ tại phần sau luận văn này.
b) Hậu quả của tội phạm. Hậu quả của tội lạm
dụng tín nhiệm gây ra về tính chất và hậu quả được
xác định thông qua đặc điểm về chất và lượng của
chính đối tượng tác động đã bị hành vi nguy hiểm cho
xã hội làm biến đổi tình trạng. Tại Điều 140 Bộ luật
hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy
định rất rõ "người nào có một trong những hành vi sau
đây chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng… "
[25]. Như vậy, điều luật đã quy định rất rõ ràng là chỉ
có người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)}, từ đủ 16 tuổi trở
lên thì phải chịu trách nhiệm hình sự nếu lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở
lên theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm
1999 và 4 triệu đồng theo quy định tại Điều 140 Bộ
luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009.
Ngoài ra, cần lưu ý chủ thể của tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản còn phải tham gia vào hợp
đồng hoặc thỏa thuận vay, mượn, thuê tài sản dân sự và rồi sau đó không thực hiện đúng như cam kết hợp
đồng ban đầu để nhằm chiếm đoạt tài sản đó. Việc
giao kết được thực hiện một cách hợp pháp và đúng
theo trình tự của pháp luật.
Do đó, chủ thể chịu trách nhiệm hình sự với tội
phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trước hết
phải đủ điều kiện là chủ thể giao kết hợp đồng dân sự
(vay, mượn, thuê, …). Theo quy định tại Điều 20 Bộ
luật dân sự 2005: "… người từ đủ mười lăm tuổi đến
chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện
giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của
người đại diện theo pháp luật…" [24], thì chủ thể
tham gia giao dịch dân sự phải từ đủ 15 tuổi trở lên.
Chính vì vậy, chỉ những người từ đủ 15 tuổi trở lên
mới là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự với tội phạm
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Đối với những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 15
tuổi nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm lạm dụng tín
2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên
khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả
được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền,
trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi
tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp
luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường
[24]. Điều 138. Bảo vệ quyền lợi của người thứ
ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu
1. Trong trường hợp giao dịch dân sự vô
hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không
phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển
giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba
ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có
hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257
của Bộ luật này.
2. Trong trường hợp tài sản giao dịch là
bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký
quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một
giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì
giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ
trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được
tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao
dịch với người mà theo bản án, quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu
tài sản nhưng sau đó người này không phải là
chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị