MỤC LỤC
TT
I
1
2
3
4
5
II
1
2
2.1
2.2
2.3
2.4
Nội dung
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG
Cơ sở lí luận
Thực trạng
Thuận lợi - khó khăn.
Thành công - hạn chế
Mặt mạnh - mặt yếu
Nguyên nhân, các yếu tố tác động
15
16
17
Giải pháp, biện pháp
Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp biện pháp
Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn
đề nghiên cứu
III PHẦN KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Kiến nghị
17
18
18
18
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ TÍCH CỰC THAM GIA VÀO
HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ KHOA HỌC”
I. PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài:
Bác Hồ kính yêu đã dạy rằng “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm
trẻ hứng thú, tập trung chú ý vào tiết học thì hiệu quả không cao, giáo viên ngại
dạy trẻ chưa có hứng thú học tập. Sau khi dự giờ một vài hoạt động khoa học của
khối Lá, tôi tự đặt câu hỏi: “Tại sao mình không lấy những thí nghiệm từ các tài
liệu nhưng phải tìm hiểu kỹ xem đề tài nào phù hợp với trẻ và những kỹ năng, thao
tác thử nghiệm nào phù hợp với trẻ ở lớp, ở trường, phù hợp với địa phương mình
và tạo thành các hoạt động khám phá khoa học cho trẻ Mẫu Giáo?” Những suy
nghĩ, câu hỏi đó còn làm tôi trăn trở và cuối cùng tôi đã tìm ra một số hoạt động để
tôi và các cháu cùng tham gia thí nghiệm, cùng chơi, cùng trải nghiệm và kết quả
là các cháu thích học, tiết học vô cùng sinh động và đặc biệt các cháu tự tìm ra. Tự
khám phá ra kết quả mà các cháu vừa được thí nghiệm. Vì vậy việc sử dụng những
thủ thuật gây hứng thú cho trẻ nhằm nâng cao tiết học “Khám phá khoa học” là rất
cần thiết, chính vì vậy mà tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp giúp trẻ tích cực
tham gia vào hoạt động khám phá khoa học”
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
+ Mục tiêu nghiên cứu của đề tài sẽ là: Khảo sát khả năng nhận thức tư duy
của trẻ đối với bộ môn khám phá khoa học trên cơ sở để tìm ra một số giải pháp,
biện pháp mới nhằm thỏa mãn nhu cầu khám phá cái mới, cái lạ, kích thích tính
tìm tòi, ham hiểu biết, thích khám phá và phát triển về trí tuệ và ngôn ngữ cho trẻ.
Thông qua đó nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo ở trẻ.
- Mục tiêu của hoạt động “Khám phá khoa học” ở trường mầm non là trẻ
được nghe nói, sờ mó, quan sát, nhận xét những sự vật hiện tượng xung quanh đời
sống hàng ngày như các hiện tượng tự nhiên, thế giới động vật và thực vật, phương
tiện giao thông, biết được một số nghề phổ biến ở địa phương mình… Thông qua
đó giúp cho trẻ hiểu được đặc điểm, công dụng, sự giống và khác nhau của các sự
vật và hiện tượng, biết yêu quí, tôn trọng và giữ gìn cái đẹp, phát triển tính tò mò
2
ham hiểu biết ở trẻ.
+ Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Qua đề tài nghiên cứu giúp giáo viên có
* Phương pháp trò chuyện:
- Để nắm bắt được nhận thức của từng trẻ tôi thường xuyên trao đổi với phụ
huynh về tình hình học tập của trẻ ở lớp cũng như ở nhà, qua đó tôi có điều kiện
theo dõi, uốn nắn trẻ. Bên cạnh đó tôi cũng thường xuyên trò chuyện cùng trẻ để
nắm bắt được các nguyên nhân làm cho trẻ không thích học khám phá khoa học và
tìm ra hướng khắc phục.
* Phương pháp quan sát:
- Trong các giờ học tôi luôn quan sát, chú ý đến từng trẻ để uốn nắn, củng cố,
rèn luyện thêm các kỹ năng cho trẻ.
* Phương pháp điều tra:
- Vào đầu năm học, tôi đã chủ động kiểm tra, khảo sát, thống kê về hoạt động
khám phá khoa học để nắm bắt khả năng nhận thức của từng cá nhân trẻ.
* Phương pháp dự giờ:
- Tôi luôn luôn học hỏi đồng nghiệp thông qua các buổi thao giảng, dự giờ,
chuyên đề…Tìm ra các biện pháp để áp dụng phù hợp với lớp mình.
II. PHẦN NỘI DUNG:
1. Cơ sở lý luận:
Như chúng ta đã biết với lứa tuổi mầm non đặt biệt là trẻ có nhu cầu và khả
năng phát triển về trí tuệ là rất cao, việc tìm hiểu khám phá về nhu cầu xung quanh
là một vấn đề nhạy cảm. Trẻ ở tuổi này lĩnh hội các biểu tượng khái quát về sự vật
hiện tượng hiểu được mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng. Nếu được
giáo dục một cách đúng đắn trẻ không những chỉ lĩnh hội tri thức về sự vật, hiện
tượng xung quanh, mà còn học được cách tiếp cận đối tượng, cách thức khám phá
sự vật hiện tượng trong môi trường xung quanh. Chính quá trình khám phá môi
trường đã tạo điều kiện để trẻ phát triển thể chất, thẩm mĩ, đạo đức và lao động cho
trẻ. Hướng dẫn trẻ khám phá khoa học là phương thức hoat động gắn bó giữa giáo
viên và trẻ nhằm tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với môi trường xung quanh để trẻ
thích ứng với môi trường, nhận thức về môi trường, tích cực tham gia cải tạo môi
trường thỏa mãn nhu cầu khám phá và phát triển bản thân trẻ. Vì thế hoạt động
Được lãnh đạo các cấp quan tâm chỉnh sửa lại phòng học rộng rãi thoáng mát,
được nhà trường đặc biệt quan tâm đến chất lượng dạy và học nên đã đầu tư trang
bị thêm nhiều thiết bị dạy học đẹp, hấp dẫn trẻ phù hợp với từng chủ đề, với từng
chủ điểm.
5
Bên cạnh đó nhờ được phụ huynh quan tâm đến các cháu nên đa số trẻ khoẻ
mạnh, nhanh nhẹn tham gia vào các hoạt động của lớp rất tích cực chủ động và
sáng tạo.
* Khó khăn:
- Năm nay số cháu đến lớp có những cháu chưa được học qua lớp mầm, chồi,
bên cạnh đó khả năng chú ý của trẻ còn hạn chế, ngôn ngữ phát triển chưa đồng
đều.
- Đồ dùng phục vụ tiết dạy còn nghèo nàn, đồ chơi của trẻ cũng rất ít, đồ dùng
phục vụ tiết dạy còn rất thiếu thốn như những vật mẫu, những con vật thật, đồ vật...
- Đồ chơi, đồ dùng còn ít, thiếu những hình ảnh đẹp, sinh động để trẻ quan sát
- Một số trẻ ở nông thôn vì gia đình không đủ điều kiện cho trẻ học qua lớp
mầm, chồi chỉ được học lớp lá nên khả năng trẻ tiếp thu chậm.
- Vốn hiểu biết về khám phá môi trường xã hội còn hạn chế.
2.2. Thành công, hạn chế:
* Thành công:
- Trong một năm thực hiện tôi cũng gặt hái được một số thành công nhất định
đó là số trẻ hăng say khám phá khoa học ngày một nhiều hơn. Khả năng phân tích
tổng hợp của các cháu ngày một tiến bộ. Khả năng phân loại tốt, cháu rất hăng say
với hoạt động thực hành nhận thức ngày càng phát triển. Kỹ năng sống của trẻ
ngày càng tiến bộ, cháu biết phân biệt cái đúng cái sai và có những hành vi ứng xử
phù hợp với yêu cầu xã hội và thông qua đó kích thích hứng thú của trẻ tham gia
tích cực vào hoạt động rất thoải mái. Trẻ có sự tiến bộ trong cách ứng xử với môi
trường thiên nhiên, thái độ học tập tích cực hơn. Kích thích tính tò mò sáng tạo
- Hầu hết tiết dạy với đồ dùng đơn giản, không bắt mắt đã không thu hút được
sự chú ý của trẻ.
- Khả năng so sánh phân loại các con vật, cây cối, sự vật hiện tượng còn hạn
chế nên việc sử dụng biện pháp mới cũng gặp không ít nan giải.
2.4. Nguyên nhân, các yếu tố tác động:
- Xuất phát từ sự ham muốn là phải làm sao để cho trẻ lớp mình được trải
nghiệm, tìm tòi, khám phá những điều mới lạ xung quanh trẻ và dựa vào đặc điểm
chung của chương trình mầm non mới trên cơ sở mọi hoạt động đều hướng đến trẻ,
đặc trẻ là trung tâm để giải quyết vấn đề. Và nhu cầu bức thiết của trẻ hiện nay
luôn có nhu cầu tìm hiểu sự vật sự việc một cách tự nhiên và chủ động.
7
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ra:
Trong quá trình tổ chức cho trẻ khám phá khoa học các cô giáo có thể cho
trẻ đi tham quan quan sát, thảo luận, trò chuyện, phỏng vấn trả lời các câu hỏi và
giải quyết các vấn đề đặt ra, tìm hiểu qua sách, tranh ảnh, khám phá trực tiếp thông
qua thực hành, thí nghiệm, lao động...
Qua quá trình nghiên cứu đề tài bản thân cố gắng cùng trẻ để tháo gỡ khó
khăn đó là tích cực tăng cường cho trẻ được khám phá khoa học giúp trẻ biết dược
thế giới xung quanh và kích thích tính tò mò sự ham hiểu biết về thế giới xung
quanh vừa phát triển ở trẻ sự mạnh dạn tự tin và qua đó trẻ cũng phát triển thêm về
ngôn ngữ lời nói mạch lạc hơn, vừa giúp trẻ biết hướng về cái đẹp qua thế giới
xung quanh. Nên bản thân luôn cố gắng trong giảng dạy.
Từ kết quả như trên, tôi luôn băn khoăn suy nghĩ tìm nhiều biện pháp để tiết
dạy môn khám phá khoa học đạt hiệu quả cao hơn. Dựa vào kiến thức đã học và
được bồi dưỡng chuyên môn, tôi đã tìm ra một số biện pháp sau:
3. Giải pháp, biện pháp:
3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp:
- Tìm ra các giải pháp, biện pháp nhằm giúp trẻ ham mê khám phá khoa học
dẫn trẻ quan sát, khảo sát, sử dụng phương pháp trò chơi, sử dụng kể chuyện và
giải thích để bổ sung cho sự quan sát của trẻ. Trong quá trình quan sát có thể sử
dụng các tác phẩm văn học hoặc âm nhạc. Ví dụ như: Khi tìm hiểu về các nghề
trong xã hội như khi “Tìm hiểu về nghề của bố mẹ” thì cô đàm thoại ngắn về nghề
nông và có thể cho cháu kể về nghề của bố mẹ mà cháu biết cô cho cháu đến xem
bố mẹ đang làm khi trẻ đang quan sát cô đặt các câu hỏi hoặc câu đố về bố mẹ để
cháu trả lời và gợi hỏi về công việc của bố mẹ. Cho nhiều cháu được nhận xét về
công việc cũng như trang phục, dụng cụ của các nghề. Cho cháu làm quen các bài
thơ về nghề của bố mẹ như “Làm nghề như bố” hoặc hát bài “Tía em”, cháu được
nghe nhằm gợi cảm xúc cho trẻ để trẻ dành nhiều tình cảm cho bố mẹ, để trẻ biết
cách thể hiện tình cảm với bố mẹ và từ đó giúp cháu biết nghề nào cũng đáng quý.
- Cho cháu tìm hiểu khám phá về nghề nào cũng nên chọn thêm một vài tác
phẩm văn học âm nhạc mới lạ phù hợp. Ví dụ như: Tìm hiểu về chú bộ đội thì cho
cháu nghe thơ “Chú hải quân” “Chú bộ đội hành quân trong mưa”. Để các cháu
nhận thức sâu sắc biết trách nhiệm và nghĩa vụ của chú bộ đội dành cho đất nước
cho các cháu. Cho cháu hát, múa cùng các chú bộ đội làm quà tặng chú để gây cảm
9
xúc, tình cảm cho các cháu thêm yêu thương chú bộ đội từ đó sẽ hình thành nhân
cách tốt đẹp biết cách ứng xử giữa người nhỏ và người lớn. Ví dụ: Khi cho trẻ tìm
hiểu về môi trường tự nhiên “Khám phá về các loại rau”. Khi dẫn trẻ đi tham quan
cô đàm thoại ngắn về đề tài tham quan để nhắc trẻ nhớ mục đích tham quan, hướng
cháu chú ý quan sát các loại rau chú ý với môi trường thiên nhiên cô cần cho trẻ tự
phát hiện. Cô tạo điều kiện cho cháu quan sát bằng cách cô đọc câu đố về các loại
rau và cho cháu lựa chọn sau đó cho cháu quan sát theo nhóm. Sau đó cô tạo cơ hội
cho cháu mô tả về những gì cháu vừa quan sát. Giáo viên tạo tình huống sáng tạo
bất ngờ qua những buổi tham quan, ví dụ: Khi đang khám phá và tìm hiểu về nghề
trồng cà phê khi đi qua vườn cà phê có con ong bay qua khiến trẻ không còn chú ý
đến cây cà phê mà trẻ sẽ chú đến con ong thì cô tạo tình huống hỏi trẻ “Con ong là
có mai cua, yếm cua cứng để bảo vệ cơ thể chúng.
Như vậy không những trẻ biết được cua có những đặc điểm gì mà trẻ còn biết
môi trường sống của chúng, cách vận động, (Đi như thế nào ? ) các bộ phận cơ thể
ra sao. Nắm rõ đặc điểm trẻ quan sát rễ hơn, từ đó so sánh rất rõ ràng và phân loại
cũng rất tốt.
Trong tiết dạy môi trường xung quanh tôi lồng ghép tích hợp với môn học
như môn toán. Ví dụ như khi dạy cho trẻ quan sát về con cua thì cô kết hợp hỏi trẻ
“Con cua có tám cẳng hai càng vậy một con cua có bao nhiêu chân, hai con cua có
mấy càng, ba con cua thì có mấy càng, bốn con cua có mấy càng, năm con cua thì
mấy càng?” để qua đó trẻ có thể tính nhẫm, cộng thêm dần lên đến mười cái càng
ngòai ra tôi còn lồng ghép với nhiều môn học khác như: Âm nhạc, tạo hình, văn
học… Để trẻ thêm hứng thú, ghi nhớ tốt hơn, hiểu vấn đề sâu và rộng hơn.
Ví dụ: Trong tiết dạy làm quen với động vật sống dưới nước.
Tôi cho trẻ thi “Đố vui” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu đố đội bạn.
“Nhà hình xoắn nằm ở dưới ao
Chỉ có một cửa ra vào mà thôi
Mang nhà đi khắp mọi nơi
Không đi đóng cửa nghỉ ngơi một mình.”
( con ốc )
Như vậy trẻ được câu đố rất vui vẻ hào hứng, kích thích tư duy, làm phong
phú vốn từ và ngôn ngữ mạch lạc.
Tôi đưa âm nhạc xen kẽ giữa các phần chuyển tiếp trong tiết dạy để tiết dạy
thêm hào hứng, sôi động.
11
Trong tiết dạy tôi cũng kích thích khả năng sáng tạo nghệ thuật của trẻ bằng
cách gắn hoặc dán để hoàn thiện bức tranh.
huy tính sáng tạo của trẻ bằng cách cho trẻ làm tranh từ nguyên liệu thiên nhiên
như: Hoa, lá ép khô, vỏ cây, coọng rơm, vỏ hải sản…
Qua các buổi dạo chơi, tham quan, hoạt động ngoài trời, dã ngoại… Khi trẻ
quan sát tôi hướng trẻ sử dụng mọi giác quan để trẻ có thể chỉ ra trọn vẹn đối
tượng đó.
Ví dụ: Cô và trẻ quan sát cây hoa hồng, hoa huệ, hoa cúc, cô hướng trẻ nhận
biết màu sắc cánh hoa. Cho trẻ sờ cánh hoa thấy mịn và nhẵn, các mép của lá sau
đó bịt mắt trẻ lại cho trẻ đưa hoa lên ngửi để phát hiện đó là các loại hoa gì có mùi
thơm, hay khi cho trẻ quan sát cây bàng ở sân trường sau đó gợi ý hỏi trẻ dùng lá
bàng để làm đồ chơi, con gì, vật gì qua hình dây của lá từ đó trẻ có thể tưởng tượng
từ lá bàng to có thể làm cái quạt để quạt hoặc từ lá bàng trẻ có thể hình dung làm
thành những con vật như làm thành con trâu, con bò...
Trẻ được quan sát kỹ, có được đầy đủ các đặc điểm của đối tượng nên trẻ so
sánh rất tốt và phân loại rất nhanh.
* Biện pháp 4: Cách lên lớp của giáo viên.
Phát huy tính tích cực cho trẻ: Muốn dạy trẻ nhận thức tốt có hiệu quả về hoạt
động “Khám phá khoa học” thì giáo viên phải hòa mình cùng trẻ, gần gũi với trẻ
và tìm hiểu từng nội dung đặc biệt trọng tâm của từng đề tài xem thử đề tài đó có
phù hợp với trẻ không, có phù hợp với địa phương mình không, nên đặt hệ thống
câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trẻ bên cạnh đó thường xuyên đặt những
câu hỏi mỡ nhằm kích thích tính tìm tòi ở trẻ phát triển về trí tuệ và ngôn ngữ cho
trẻ.
Dạy học vừa sức: Để đảm bảo tính vừa sức cho trẻ những kiến thức mới
truyền đạt cho trẻ cần được nâng cao dần được cũng cố dần qua các bài tập luyện
tập phong phú và được ứng dụng vào các dạng hoạt động khác nhau của trẻ như
vậy sự mở rộng dần phức tạp dần nội dung dạy học sẽ giúp trẻ dễ dàng lĩnh hội
kiến thức và kỹ năng tạo cho trẻ hứng thú học.
Đảm bảo tính khoa học: Để đảm bảo tính ý thức và phát huy tính tích cực của
trẻ trong quá trình lĩnh hội kiến thức cần dạy trẻ nhận biết những dấu hiệu nhận
cảm giác mới và sự hiểu biết sâu hơn về thiên nhiên. Chỉ cho trẻ thấy thế giới của
các loại côn trùng trên lá, trên mặt đất. Qua đó trẻ nhận thấy sự hình thành và phát
triển của sự vật hiện tượng và các mối quan hệ trong thiên nhiên.
* Biện pháp 5: Giáo dục trẻ khám phá khoa học ở mọi lúc mọi nơi kết hợp
14
với phụ huynh.
Ở lứa tuổi mẫu giáo nói riêng và trẻ nói chung “Trẻ học mà chơi, chơi mà
học” ghi nhớ không có chủ định, chóng nhớ mau quên do đó việc dạy cho trẻ về
một số kiến thức không chỉ dừng lại trong tiết học mà phải được cũng cố, rèn luyện
ở mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống hằng ngày.
Buổi sáng sớm và các buổi chiều mát là thời gian tốt nhất để đi dã ngoại. Đó
là lúc trời không quá nóng, bạn sẽ tìm thấy nhiều loài vật, chim chóc và côn trùng
giữa thiên nhiên. Trong giờ đón trẻ, trả trẻ vận động phụ huynh sưu tầm đồ dùng
phục vụ học tập cho trẻ tuyên truyền lợi ích của việc đưa trẻ vào thiên nhiên ví dụ:
Trên đường đi học có nhiều điều trẻ chưa biết hoặc những điều mà các con em
mình cần rất quan tâm, phụ huynh có thể dừng lại để đáp ứng nhu cầu khám phá
của con mình.
Dạo chơi tham quan hoạt động ngoài trời, không những để trẻ khám phá thế
giới xung quanh mình mà tôi còn giáo dục tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi
trường. Tôi cũng luôn chú ý kiến thức xã hội với trẻ về công việc của mỗi người,
về mối quan hệ giữa con người với nhau, đặc biệt là giáo dục an toàn giao thông
với trẻ tạo cho trẻ thói quen và ý thức khi tham gia giao thông. Với trẻ mặc dù kiến
thức rất đơn giản. Đi trên đường không chạy, không nô đùa, đi bên tay phải, hoặc
là nhìn những tín hiệu giao thông báo hiệu đèn gì sẽ dừng lại?, đèn gì được đi?.
Thông qua đó để giáo dục cháu biết tuân thủ các luật lệ giao thông.
3.3. Điều kiện thực hiện các giải pháp, biện pháp:
Giáo viên có lượng kiến thức phong phú, biết cách sử lí tình huống. Chú ý
đến từng hành động nhỏ của trẻ, bao quát tốt để trẻ trả lời mọi câu hỏi và những
2
3
4
Kỹ năng quan sát, tìm ra đặc
điểm, khả năng so sánh, phân
loạiphát hiện cái lạ, khả năng
giao tiếp.
Loại tốt
Loại khá
Loại TB
Loại yếu
Kết quả
Số lượng ( 31 trẻ )
Tỷ lệ %
8
10
10
3
25,8%
32,2%
32,2%
9,6%
- Kết quả sau một thời gian thực hiện, tôi rất phấn khởi khi kết quả đạt được
có tiến bộ hơn so với đầu năm cụ thể như sau:
Với những biện pháp mà bản thân tôi đã đưa ra trong quá trình giảng dạy nhờ
được sự giúp đỡ tận tình của tổ chuyên môn, của chị em đồng nghiệp, của các bậc
phụ huynh và sự nổ lực hết mình của bản thân nên tôi đã khắc phục được những
khó khăn để đạt được những kết quả như sau:
* Về trên trẻ:
Trẻ hứng thú say mê, tích cực tham gia vào các hoạt động cùng cô để nắm
được một số kiến thức về môi trường xung quanh, đồng thời giúp trẻ phát triển về
mọi mặt.
Trẻ biết nhận biết phân biệt biết cách quan sát, tìm hiểu một sự vật hiện tượng
một cách khoa học. Và trẻ đã thực hiện có hiệu quả, trẻ không còn lúng túng trước
môi trường xung quanh, trước hiện tượng thiên nhiên hay bất cứ cái gì xảy ra. Trẻ
biết đặt vấn đề và biết tìm cách giải quyết vấn đề đó dựa vào vốn hiểu biết của
mình, biết thêm được các hoạt động trong đời sống xung quanh trẻ.
* Về phụ huynh:
Đa số phụ huynh đã hiểu rõ tầm quan trọng của các hoạt động nói chung và
hoạt động “Làm quen với môi trường xung quanh” nói riêng nên đa số các bậc phụ
huynh đồng tình ủng hộ rất tích cực cả tinh thần, lẫn vật chất tạo điều kiện cho trẻ
hoạt động tốt môn học này.
So với những năm trước đây đa số các bậc phụ huynh chỉ thích con em mình
đến trường biết viết, biết đọc, biết làm toán nhưng từ khi áp dụng phương pháp
giúp trẻ tích cực tham gia vào hoạt động khám phá khoa học thì các bậc phụ huynh
đã có sự nhìn nhận khác hơn biết quan tâm đến cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và
hiểu được tầm quan trọng của các hoạt động giáo dục nên đã nhiệt tình ủng hộ cả
tinh thần và vật chất nhờ vậy mà chất lượng dạy và học ngày một đi lên.
4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên
cứu:
- Qua quá trình thực hiện đề tài và áp dụng một số giải pháp, biện pháp giúp
trẻ tích cực tham gia vào hoạt động khám phá khoa học đã cho thấy:
17
gian đi tham quan học hỏi để trau dồi kiến thức nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
Trên đây là một số kinh nghiệm giúp trẻ tích cực tham gia vào hoạt động
18
khám phá khoa học mà tôi đã rút ra được trong quá trình giảng dạy giúp trẻ phát
triển toàn diện trên năm mặt: Ngôn ngữ, thể chất, thẩm mỹ, nhận thức, tình cảm xã
hội. Tôi rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp để kế hoạch này hoàn chỉnh
hơn./.
Ngày 12 tháng 01 năm 2016
Người viết
H. Dinh Buôn Yă
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP TRƯỜNG
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
............................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI SÁNG KIẾN
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP HUYỆN
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
............................................................................................................................
CHỦ TỊCH HỘI SÁNG KIẾN
19
tuổi)
Sách phương pháp phát triển nhận thức cho trẻ.
Sách chương trình chăm sóc giáo dục trẻ 5 – 6 tuổi
Bồi dưỡng thường xuyên
20