MỤC LỤC
Mục lục..............................................................................................................2
I. Phần mở đầu ................................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................3
2. Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài .......................................................................4
3. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................5
4. Phạm vi nghiên .............................................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu ..............................................................................5
II. Phần nội dung.............................................................................................5
1. Cơ sở lý ........................................................................................................5
2. Thực trạng.....................................................................................................6
2.1. Thuận lợi- khó khăn...................................................................................7
2.2. Thành công, hạn chế ..................................................................................8
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu.....................................................................................9
2.4. Nguyên nhân ............................................................................................10
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt ................10
3. Biện pháp ....................................................................................................11
3.1. Mục tiêu của biện pháp ...........................................................................11
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp.............................................13
- Biện pháp 1...................................................................................................13
- Biện pháp 2...................................................................................................15
- Biện pháp 3...................................................................................................16
- Biện pháp 4...................................................................................................23
- Biện pháp 5...................................................................................................21
- Biện pháp 6...................................................................................................22
- Biện pháp 7...................................................................................................22
3.3 . Điều kiện để thực hiện biện pháp............................................................26
3.4. Mối quan hệ giữa các biện pháp...............................................................26
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu............... 27
4. Kết quả.........................................................................................................27
III. Phần kết luận , kiến nghị .......................................................................28
sau này khi học phổ thông. Thế nhưng không phải lúc nào giáo viên cũng làm
cho trẻ hứng thú với hoạt động này ở một số câu truyện dài không có kịch tính
trẻ thường khó khăn trong việc nhớ nội dung câu truyện, hoặc nói chuyện riêng,
không nghe hết câu truyện. Đa số trẻ quê ở Thái Bình trẻ còn nói ngọng. Cũng
có một số truyện giáo viên khó chuyển thể sang kịch bản sân khấu, các học liệu
cho trẻ sử dụng trong hoạt động này còn ít dẫn đến kết quả giờ học chưa cao. Từ
đó trong suy nghĩ của tôi luôn đặt ra những câu hỏi: “Tại sao trẻ chưa hứng thú
với hoạt động làm quen văn học?”, “Làm thế nào để giúp trẻ học tốt môn làm
quen văn học?”… Để trả lời cho những câu hỏi này, tôi đã chọn đề tài “ Một số
2
biện pháp giúp trẻ 5-6 tuổi học tốt môn làm quen văn học tại trường Mầm non
Ea Na” để nghiên cứu và áp dụng cho trẻ 5-6 tuổi học tốt hơn môn làm quen văn
học.
Đó cũng là lí do tôi chọn đề tài này nghiên cứu.
2.Mục tiêu nhiệm vụ của đề tài:
Mục tiêu:Đề tài được thực hiện với mục tiêu đặt ra là: Áp dụng một số
biện pháp sư phạm giúp trẻ học tốt môn làm quen văn học.
Nhiệm vụ của đề tài: Tìm hiểu về đặc điểm lĩnh hội của trẻ Mầm non.
Trong thực tế tại sao chất lượng của hoạt động làm quen với văn học ở lứa tuổi
5-6 tuổi tại trường có chất lượng cao chưa? Vì sao chưa đạt hiệu quả cao để
khắc phục những mặt còn tồn tại. Khi tổ chức hoạt động này ở trường cần nắm
vững hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi. Tổ chức cho trẻ làm quen với văn
học thông qua một trò chơi thì giáo viên sẽ thoải mái, nhẹ nhàng mà trẻ vui thích
hoạt động.
Phải xây dựng kế hoạch giảng dạy và lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động
làm quen với văn học có hiệu quả, sát với thực tế để phù hợp với tình hình của
trẻ trong lớp. Tìm hiểu về đặc điểm cảm thụ những tác phẩm văn học của trẻ 5-6
tuổi để lựa chọn đề tài phù hợp giúp trẻ hứng thú khi tham gia.Trẻ được làm
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để áp dụng một số biện pháp sư phạm giúp trẻ học tốt môn làm quen văn
học tôi đã sử dụng:
Nhóm phương pháp lý luận:
Dựa trên quan điểm “ Mẫu giáo tốt mở đầu cho nền giáo dục tốt”. Dựa vào
đường lối giáo dục của Đảng, Nhà nước. Việc đổi mới giáo dục Mầm non, luôn
luôn làm theo lời dạy của Bác Hồ “ Làm Mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ. Muốn
làm được thế thì phải yêu trẻ. Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới
nuôi dạy được các cháu. Dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non được tốt
thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu làm người tốt. Đối với trẻ
phải dạy như thế nào cho các cháu biết đoàn kết, ham học, ham làm, sao cho các
cháu vẫn giữ được tính chất trẻ con. Phải làm sao cho các cháu có tính kỹ thuật
nhưng vẫn vui vẻ, hoạt bát chứ không khúm lúm, đặt đâu ngồi đấy”.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, phương
pháp khảo nghiệm, thực nghiệm.
Một số phương pháp khác như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương
pháp trải nghiệm thực tế.
4
II. Phần nội dung:
1. Cơ sở lý luận:
Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là làm quen với tác phẩm nghệ
thuật. Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là thực hiện nhiệm vụ trọng tâm
của ngành học mầm non đó là lĩnh vực phát triển ngôn ngữ - giáo dục nghệ
thuật. Vậy thế nào là cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học? Từ những vẻ đẹp
nhỏ nhặt hàng ngày qua cư xử mang tình người mà nảy sinh ra những hành
động cao thượng, tính cách nhân ái. Những tác phẩm văn học cho trẻ mầm non
có ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục và phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Những hình
tượng tươi sáng, những bức tranh giàu chất thơ của thiên nhiên được vẽ lên
5
Đối tượng
khảo sát
Tổng số
Học sinh 56 tuổi
127
Giỏi
25
khá
45
Trung bình
40
Yếu
17
Một số giáo viên trẻ mới ra trường kinh nghiệm giảng dạy còn ít, việc cập
nhập với công nghệ thông tin còn hạn chế.
Trang thiết bị dạy học của nhà trường còn thiếu thốn: ví dụ như nhà trường
chưa có máy chiếu hoặc ti vi màn hình lớn để kết nối với máy tính để áp dụng
công nghệ thông tin vào trong tiết dạy.
Đa số giáo viên nắm vững nội dung, phương pháp và chương trình dạy
2.1. Thuận lợi, khó khăn:
+ Thuận lợi:
Phụ huynh quan tâm tới con em, phối kết hợp với nhà trường trong quá
trình chăm sóc, nuôi dạy trẻ.
Trẻ cùng độ tuổi, biết nghe lời cô giáo.
- Bản thân tôi là người rất thích môn văn học, luôn nhiệt tình, chịu khó tìm
tòi, lắng nghe góp ý của Ban Giám Hiệu học hỏi chuyên môn và các đồng
nghiệp trên thực tế cũng như lý thuyết.
- Qua thực hiện chuyên đề, cùng nhiều năm trong nghề, tôi đã tích góp
được nhiều kinh nghiệm, nắm chắc phương pháp bộ môn, yêu cầu đối với từng
thể loại, từng độ tuổi.
- Các cháu cùng độ tuổi đã có thói quen trong học tập và các hoạt động .
- Có sự quan tâm của Ban Giám Hiệu, sự nhiệt tình giúp đỡ của chuyên
môn, đồng nghiệp và phụ huynh học sinh.
- Có đầy đủ cơ sở vật chất, tài liệu hướng dẫn và đồ dùng phục vụ môn học.
+ Khó khăn:
- Giáo viên tổ chức các giờ hoạt động chung còn gò bó, chưa sáng tạo, chưa
gây được hứng thú cho trẻ, chưa biết cách hướng dẫn trẻ kể chuyện hay, diễn
cảm và sáng tạo, chưa biết vận dụng mô hình, rối tay, rối bóng, công nghệ thông
tin khi cho trẻ làm quen văn học.
Giáo viên chưa xác định được nhịp điệu bài thơ, chưa ngừng nghỉ đúng
nhịp, chưa tạo sự nhấn nhá và trầm bổng để bài thơ có hồn. Một số giáo viên
chưa có sáng tạo trong việc chuyển thể từ truyện kể sang kịch bản sân khấu. Lời
thoại còn dài, khó hiểu làm cho kịch bản kém hấp dẫn, sử dụng đồ dùng dạy học
chưa khoa học dẫn đến kết quả giờ học chưa cao.
Công tác phối kết hợp của giáo viên với phụ huynh trong việc cho trẻ làm
quen với văn học còn có nhiều hạn chế.
Trẻ trong cùng độ tuổi nhưng khả năng tiếp thu, cảm thụ văn học của trẻ
động của trẻ đi đúng với các tiêu chí mà nền giáo dục Mầm non đặt ra trong thời
đại mới là: Lấy trẻ làm trọng tâm, trẻ được tiếp thu theo hướng tích cực ở mọi
lúc mọi nơi, chú ý đến sự phát triển cá nhân, giáo dục gắn liền với thực tế cuộc
sống….
Các biện pháp sư phạm giúp trẻ học tốt môn Làm quen với văn học này
được xây dựng qua quá trình tìm hiểu sự cảm thụ văn học của lứa tuổi 5-6 tuổi
trong trường, giáo viên sẽ dễ dàng lựa chọn các nội dung và hình thức phù hợp
với trẻ của mình. Vì kế hoạch giảng dạy theo chương trình Mầm non mới đưa ra
là giáo viên sẽ tự lên kế hoạch giảng day, tự chọn các đề tài phù hợp với đặc
điểm của lớp mình sao cho sát với thực tế. Cho nên những biện pháp sư phạm
giúp trẻ học tốt môn làm quen văn học mà tôi đưa ra tôi tin rằng khi vận dụng
vào tiết học sẽ tổ chức thành công các tác phẩm văn học trong chương trình giáo
dục mầm non mới.
+ Hạn chế: Một số giáo viên không có năng khiếu truyền thụ các tác phẩm
văn học cho trẻ.
Chưa biết áp dụng công nghệ thông tin .
Chưa có sự đầu tư về đồ dùng, phương tiện, đồ dùng trực quan để trẻ cảm
nhận tác phẩm văn học một cách dễ hiểu nhất, chưa có sự nghiên cứu, phân tích
kĩ các tác phẩm văn học. Do đặc thù của trường là bán trú nên thời gian để làm
đồ dùng, đồ chơi cho trẻ còn hạn chế.
Trang thiết bị của nhà trường chưa đầy đủ như: Không có máy chiếu, hệ
thống loa đài…
8
Trẻ dù ở cùng một lứa tuổi nhưng sự phát triển của trẻ không đồng đều có
trẻ rất nhanh nhẹn tháo vát, còn một số trẻ nhút nhát, nói ngọng, có biểu hiện
chậm về ngôn ngữ.
2.3. Mặt mạnh, mặt yếu:
+ Mặt mạnh: Đề tài đã tập trung khai thác, nêu bật lên những phương pháp,
tắc “ học mà chơi, chơi mà học” thông qua các cuộc thi ví dụ như: Vườn cổ tích,
bé yêu thơ, kịch….)
Giáo viên không có giọng đọc , kể tốt.
2.5. Phân tích đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đặt ra:
Thông qua các tác phẩm văn học là những câu truyện, bài thơ, có ý nghĩa
9
giáo dục sẽ giúp trẻ hiểu và ghi nhớ rất nhanh những việc tốt, việc gì không tốt,
việc nên làm, việc không nên làm một cách dễ dàng. Chính vì vậy việc giúp trẻ
học tốt hoạt động làm quen văn học giữ một vai trò hết sức quan trọng trong quá
trình giáo dục trẻ mà chúng ta cần hướng tới và thực hiện tốt.
Cha mẹ và cô giáo đều mong muốn trẻ thông qua các tác phẩm văn học sẽ
có thói quen tốt và hành vi có đạo đức để hình thành nhân cách cho trẻ sau này.
Với vai trò quan trọng như vậy, thử hỏi nếu chúng ta không làm tốt hoạt động
này thì có mang lại được kết quả như mong đợi không? Hay chúng ta lại đặt
thêm một câu hỏi nữa tại sao hoạt động làm quen văn học có vai trò quan trọng
như thế mà ngay trong tiết dạy của mình trẻ chưa hứng thú, còn nói chuyện
riêng trong giờ học? Ta phải lựa chọn những đề tài và hình thức tổ chức như thế
nào để lôi cuốn trẻ? Thay đổi hình thức tổ chức như thế nào cho trẻ không nhàm
chán? Để trẻ học tốt môn Làm quen văn học thì trước hết ta phải giải quyết các
vấn đề trên và thay đổi cách tổ chức giờ học, cách truyền đạt, cách đầu tư chuẩn
bị đồ dùng, nghiên cứu các tác phẩm…. để trẻ húng thú hơn với hoạt động làm
quen văn học. Trước đây trẻ chưa chú ý thì cô dùng lời đọc diễn cảm, đồ dùng
đẹp, phong phú gây hứng thú cho trẻ.
Trẻ kể truyện, đọc thơ thường theo kiểu học thuộc lòng, giọng đọc, kể chưa
diễn cảm thì trước hết cô xem lại mình đã truyền thụ lại cho trẻ giọng đọc tryền
cảm chưa? Phải nghiên cứu tác phẩm kỹ xem cần ngắt nhịp chỗ nào? Chỗ nào
nhấn mạnh, chỗ nào nhả chữ, chỗ nào trầm, bổng…. Rồi sau đó sửa sai và rèn
cho trẻ.
mình, tái hiện lại tác phẩm văn học, giúp trẻ phát triển được vốn từ và khắc sâu
tác phẩm văn học vào trong trí nhớ.
- Đối với biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức tổ chức hoạt
động cho trẻ làm quen với văn học:
Đây là biện pháp giúp giáo viên dựa vào thực tế của nhà trường, của từng
lớp mà giáo viên tự xây dựng kế hoạch giảng dạy của lớp mình sao cho thực tế,
phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh lớp mình. Khi lựa chọn giải pháp
này học sinh sẽ được tiếp cận với các tác phẩm phù hợp với khả năng nhận thức
của mình.Trẻ sẽ không cảm thấy quá khó khăn trong việc lĩnh hội, từ đó tập
trung chú ý hơn. Nếu sử dụng biện pháp này thành công trẻ sẽ hứng thú giúp các
trẻ có sự phát triển đồng đều.
-Đối với biện pháp 3: Đọc tác phẩm nghệ thuật và sử dụng phương tiện
trực quan:
Đây là biện pháp đặc thù của môn làm quen văn học, qua việc đọc diễn
cảm khơi gợi nên những tâm trạng giúp trẻ cảm nhận được tính cách, hành động,
tâm trạng của các nhân vật trong truyện. Từ đó bộc lộ thái độ, tình cảm, của
mình trước các nhân vật.
-Hình tượng trực quan rất quan trọng với trẻ, với trẻ thơ lời nói cụ thể và có
hình ảnh trực quan minh họa của giáo viên giúp trẻ cảm nhận tác phẩm một cách
dễ hiểu nhất. Khi lựa chọn giải pháp này trẻ sẽ hứng thú, chú ý quan sát, lắng
nghe cô đọc và sử dụng đồ dùng. Nếu sử dụng biện pháp này thành công còn rèn
cho trẻ có giọng đọc, kể lưu loát, biết luyến láy, đúng giọng điệu, ngữ điệu ngắt
giọng, cường độ. Giúp trẻ cảm thụ được tác phẩm văn học .
- Đối với biện pháp 4: Tạo môi trường cho trẻ làm quen với tác phẩm văn
học trong trường, lớp theo từng chủ đề:
Đây là biện pháp quan trọng giúp giáo viên sưu tầm tranh ảnh, nội dung
truyện, giúp trẻ có điều kiện tiếp cận với tác phẩm từ đó trẻ thích đọc truyện
hơn. Khi sử dụng giải pháp này trẻ được tiếp xúc với với các tác phẩm ở tường,
góc truyện thơ và góc chủ đề, trẻ sẽ có điều kiện tiếp cận nhiều hơn làm khắc
sâu hình tượng và ghi nhớ tác phẩm văn học.
3.2.Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp:
-Biện pháp 1: Tìm hiểu đặc điểm lĩnh hội của trẻ Mầm non qua việc học
mà chơi: Cho trẻ học thông qua hình thức này tái hiện lại các tác phẩm văn học
thông qua trò chơi và dưới hình thức đóng kịch. Hoạt động này trẻ rất hứng thú
vì đóng kịch cũng là hình thức để phát triển ngôn ngữ, trí nhớ, tư duy của trẻ.
đồng thời còn có tác dụng giáo dục ý thức và tinh thần tập thể. Qua hoạt động
đóng kịch, trẻ truyền đạt lại nội dung truyện, “Làm sống lại tâm trạng, hành
động, ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật trong tác phẩm. Đồng thời thể hiện
tình cảm và sự đánh giá của trẻ đối với nhân vật”. Trước khi cho trẻ đóng kịch,
cô cần giúp trẻ nhớ lại nội dung truyện, biết thể hiện tính cách, tâm trạng các
nhân vật trong truyện, chuẩn bị phần kịch bản chu đáo, sáng tạo để nội dung
thêm phong phú, hấp dẫn. Chú ý đến cách tổ chức, hình thức biểu diễn, những
đồ dùng và trang phục sao cho phù hợp với nội dung từng truyện. Cũng có thể
cô là người dẫn truyện, nhưng cũng có khi chỉ có trẻ tự cùng nhau biểu diễn.
12
Hình : trẻ tự đóng kịch “Chú Dê Đen”
*Trò chơi tích hợp:
Với chương trình Mầm non mới hiện nay, các môn học luôn được đan xen,
lồng ghép nhằm nâng cao tính hiệu quả, với đặc điểm của giáo dục mầm non,
cho trẻ học mà chơi, thông qua chơi mà học, văn học không chỉ giúp trẻ được
nghe kể chuyện, đọc thơ mà còn tích hợp được các môn học khác dưới hình thức
tổ chức trò chơi. Qua trò chơi giáo viên có thể đánh giá được kiến thức mà trẻ
thu lượm được ở mức độ nào, cao hay thấp. Đưa trò chơi vào lớp học là một sự
lồng ghép khéo léo, làm sao cho giờ học thêm sinh động. Nên chú ý phối hợp
giữa trò chơi động và tĩnh. Lựa chọn những trò chơi có thể tích hợp được nhiều
môn học khác, tuy vậy, cũng cần nhớ: Trò chơi dù tổ chức dưới hình thức nào
cũng phải đảm bảo tính vừa sức và hứng thú đối vởi trẻ, không lạm dụng, ôm
đồm thái quá làm lu mờ nội dung chính của đề tài tiết học.
những lượt chơi sau. Như vậy kết quả giờ học sẽ cao hơn .
Giờ học sẽ được kết thúc sau phần chơi là một bài hát, câu thơ hay một trò
chơi nhẹ như “chim bay, cò bay, tạo dáng”.v.v..
-Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động
cho trẻ làm quen với văn học:
- Như chúng ta đã biết: Sự phát triển tâm lý của trẻ phụ thuộc vào sự phát
triển ngôn ngữ và trí tuệ của trẻ chỉ phát triển hoàn thiện khi trẻ lĩnh hội được
ngôn ngữ. Do dó, việc phát triển ngôn ngữ, giúp trẻ phát âm đúng rất là quan
trọng. Điều đó cho chúng ta thấy rằng cần phát triển ngôn ngữ đúng lúc, phù
14
hợp với từng lứa tuổi. Môi trường ngôn ngữ là điều kiện không thể thiếu được
và không đâu khác, Trường Mầm Non chính là nơi tổ chức môi trường giao tiếp
tích cực giúp cho ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt hơn.
Đối với trẻ, tuy cùng độ tuổi nhưng sự phát triển tâm sinh lý trẻ sẽ không
đồng đều, có cháu thì nhanh nhẹn, hoạt bát, nói năng lưu loát và tiếp thu nhanh.
Trái lại, có trẻ lại chậm chạp, e dè, nhút nhát trong giao tiếp nói năng chưa biết
diễn đạt ý nghĩ của mình rõ ràng bằng ngôn ngữ, thể hiện chưa trọn câu, trọn
nghĩa. Do vậy, đòi hỏi cô giáo phải hiểu được đặc điểm tâm lý từng trẻ. Từ đó
lựa chọn những biện pháp hướng dẫn, rèn luyện sao cho phù hợp với từng đối
tượng.
Ví dụ : Với những trẻ thông minh nhanh nhẹn, chỉ bằng lời nói, câu đố, câu
hỏi gợi mở hoặc hình ảnh trên màn hình trẻ đã hiểu ra. Nhưng đối với trẻ chậm
chạp, nhút nhát, e dè cô cần chuẩn bị những câu hỏi ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu
và dành nhiều thời gian quan tâm đến trẻ hơn. Đặc biệt chú ý đến việc sửa sai
đối với những trẻ nói ngọng, nói lắp.
Ví dụ: Có trẻ hay sai dấu ngã nói thành dấu hỏi (“Mũ” nói thành “mủ”“cái mủ”).
“Sữa” trẻ nói thành “sửa” – ( uống sửa). Lại có trẻ hay ngọng nguyên âm:
L phát âm thành N, S phát âm thành X…. Cô có thể sửa tật của trẻ bằng cách: cô
nào, trẻ ứng dụng nhu thế nào trong cuộc sống…
* Giới thiệu bài: Vào đầu tiết học, cô cần khéo léo thu hút trẻ tham gia hoạt
động bằng nhiều hình thức như dùng câu đố, ca dao, tục ngữ, bài hát có nội
dung gần gũi liên quan đến truyện kể. Hoặc bằng hình ảnh, vật thật đại diện cho
nhân vật chính nào đó trong truyện, tạo sự bất ngờ và gây sự chú ý đặc biệt đối
với trẻ.
Ví dụ: Với câu truyện “Ai đáng khen nhiều hơn”, cô có thể sử dụng câu đố:
“Mắt hồng lông trắng, tai dài, bạn ăn cà rốt đó là con chi?”. Hay với chuyện
“Chàng rùa” cô có thể dẫn dắt: “Chúng ta ai cũng có mẹ, có cha. Cha mẹ là
người đã sinh ra, nuôi dạy chúng ta khôn lớn, trưởng thành. Biết ơn cha mẹ,
nhiều người đã biết sống yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ, chàng Rùa là một
người con sống như thế đó. Để hiểu rõ về chàng Rùa, hôm nay cô sẽ kể cho các
cháu nghe câu chuyện “Chàng Rùa” nhé. Hoặc với truyện “Tấm Cám”, cô có thể
đọc: “Bống bống bang bang, lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta, chớ ăn cơm hẩm
cháo hoa nhà người”. Đó là lời của ai? Trong truyện gì ?...Có rất nhiều hình
thức giới thiệu. Song, giáo viên cũng phải khéo léo lựa chọn sao cho phù hợp
với từng tác phẩm, lôi cuốn được sự tập trung chú ý và hứng thú của trẻ ngay từ
những phút giây đầu tiên của tiết học .
Sử dụng đồ dùng đơn giản, ngộ nghĩnh, gần gũi để thu hút trẻ nhất là
những đồ dùng đồ chơi tự tạo do trẻ làm ra ví dụ như dùng ống chỉ, lõi giấy,
hộp giấy, chai lọ…để tạo thành một số nhân vật, vẽ thêm mắt mũi, gắn râu tóc,
quần áo làm thành một số nhân vật cho trẻ lồng vào ngón tay làm rối rồi đóng
vai nhân vật đó. Sử dụng hình ảnh trên powerpoint và sưu tầm tranh ảnh, chọn
nhứng hình ảnh có cùng chủ đề tạo thành những bức tranh có nội dung rồi cho
trẻ kể theo trí tưởng tượng của trẻ. Khi sử dụng đồ dùng phải kết hợp với lời nói
một cách linh hoạt, không đưa ra trước hoặc đưa ra sau làm giảm hứng thú của
trẻ và không sử dụng quá nhiều đồ dùng làm trẻ bị phân tán sự chú ý.
16
đúng lúc, khớp với lời kể, động tác thuần thục, chính xác và khéo léo .
Ví dụ: Với câu chuyện “Chàng Rùa”, cô kể: Ngày xưa có hai vợ chồng nhà
kia (các nhân vật Bố và Mẹ rùa xuất hiện trên bức phông )…mãi mới sinh được
một người con nhưng lại là một chàng Rùa bé tí ti (nhân vật rối rùa xuất hiện).
Như vậy tất cả đều vừa trùng khít với lời kể. Rồi các nhân vật Vua, cô bác nông
dân lần lượt xuất hiện với màn trình diễn khéo léo mang tính nghệ thuật cao, các
nhân vật cứ lúc ẩn lúc hiện (theo trình tự nội dung truyện) đã cuốn hút trẻ say
xưa theo dõi. Vừa được nghe kể, lại vừa nhìn thấy những hình ảnh cụ thể, trẻ sẽ
tiếp thu một cách dễ dàng, và tác phẩm ấy sẽ khắc sâu, in đậm trong trí nhớ của
trẻ. Trẻ sẽ biết nhận xét, phân biệt, đánh giá đúng tính cách của từng nhân vật,
tiết học trở nên sinh động, hấp dẫn và không tẻ nhạt.
17
Sau khi kể lần 1 cô có thể tóm tắt nội dung truyện một cách ngắn gọn, chọn
những nét chính làm toát lên nội dung, không diễn giải dài dòng, có thể kết hợp
giảng giải từ khó có trong tác phẩm, nhưng cũng có thể kết hợp gỉảng từ, giảng
ý khi cô kể lần 2. Ở lần 2, cô kể truyện kết hợp minh hoạ bằng tranh ảnh, mô
hình. Tranh minh hoạ, mô hình hay vật thật, với màu sắc đẹp, hài hoà sẽ làm cho
câu chuyện trở nên sinh động, thu hút sự tập trung chú ý cao độ của trẻ. Trẻ dễ
thuộc, dễ nhớ nội dung tác phẩm. Điều đó sẽ thuận lợi rất nhiều khi tiến hành
đàm thoại cùng với trẻ. Các câu hỏi phải ngắn ngọn, dễ hiểu, giúp trẻ diễn đạt
được ý tưởng của mình, không gò bó để trẻ trả lời rập khuôn, với trẻ nhút nhát
cô thường xuyên gọi để trẻ phát biểu, câu hỏi phải sát với nội dung đề tài.
Đàm thoại sẽ giúp trẻ đồng cảm với tác giả, và nếu muốn trẻ đồng cảm với
tác giả thì ở phía cô phải hiểu được nội dung của tác phẩm, phải hiểu và nói lại
được những điều mà tác giả muốn gởi đến trẻ.
Đàm thoại có thể tiến hành dưới nhiều hình thức: Đặt câu hỏi để trẻ suy
nghĩ trả lời, hoặc dùng tranh ảnh, mô hình để cùng đàm thoại về nội dung cốt
truyện. Cô chú ý đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng đảm bảo tính hệ thống và logic từ
phiên theo tổ, nhóm, thi đua xem tổ nào đọc hay, đọc đối đáp giữa cô và trẻ…
Cũng như truyện để tạo hứng thú và sự tập trung cao độ của trẻ, khi vào
bài, cô có thể sử dụng phương pháp trực quan để giúp trẻ đồng cảm, cảm thụ tác
phẩm như: sử dụng công nghệ thông tin tranh ảnh, vật thật, đàm thoại với trẻ
bằng những câu hỏi ngắn gọn, cho trẻ hát những bài hát có nội dung gần gũi để
dẫn dắt trẻ đến với bài thơ.
Ví dụ: Cô bật màn hình với nhiều loại bát có hoa văn khác nhau để giới
thiệu bài thơ “Cái bát xinh xinh” hay hát bài “Bông hoa mừng cô” để giới thiệu
bài thơ “ Bó hoa tặng cô”.v.v..và như vậy, các cháu sẽ đến với tác phẩm một
cách dễ dàng, hứng thú.
Quá trình dạy thơ; cũng như truyện, cô phải đảm bảo đủ các phần theo trình
tự tiết học. Xác định đúng yêu cầu, nội dung cần truyền đạt.
Để trẻ hiểu, cảm thụ tốt bài thơ thì việc đọc mẫu của cô cũng giữ một vai
trò hết sức quan trọng. Vì vậy, khi đọc mẫu, tuỳ từng bài thơ, cô thể hiện sao
cho phù hợp. Cách đọc diễn cảm đó là: Biết ngắt giọng đúng chỗ, thể hiện sắc
thái, âm điệu của mỗi bài thơ.
Ví dụ: Bài thơ “Làm anh”cô đọc với giọng vui hóm hỉnh .
Bài thơ “Cô giáo” cô đọc hơi chậm, thể hiện tình cảm tha thiết, dịu dàng .
Còn đối với bài thơ “Ảnh Bác” cô phải đọc với nhịp điệu chậm rãi vừa
phải, thể hiện sự trang trọng, tình cảm yêu quý. Biết ngắt giọng ở các câu :
Cháu ơi/đừng có chơi bời đâu xa
Trồng rau /quét bếp đuổi gà
Thấy tàu bay Mỹ/ nhớ ra hầm ngồi .v.v…
Hoặc những bài thơ mang âm hưởng đồng dao như: “Con công hay múa”
cô đọc theo nhịp 2/2
“ Con công/hay múa
Nó múa/làm sao
Nó rụt /cổ vào
Nó xòe/cánh ra”…
19
của trẻ, tạo cho trẻ sự hưng phấn, hứng thú đọc thơ, có thể cho trẻ đọc nhẩm,
đọc thầm theo cô.
Cô dạy trẻ đọc thơ qua tranh để nâng cao chất lượng văn học và làm quen
với chữ viết bằng một số hình ảnh và đọc luân phiên, đọc đối, đọc đuổi.v.v...Khi
trẻ đã đọc thuộc thơ, cô cho trẻ biểu diễn thơ phối hợp làm động tác minh hoạ.
Động tác minh hoạ sẽ giúp trẻ dễ nhớ và làm cho tiết học thêm sinh động. Để
tránh mệt mỏi, cô cần chú ý thay đổi hình thức, thay đổi đội hình, xen kẽ những
trò chơi nhẹ giữa các phần chuyển tiếp trong tiết học như trò chơi “Bốn mùa” “
Chim bay cò bay” “pha nước chanh”.v.v…Một điều quan trọng không thể thiếu
đó là sửa sai kịp thời cho trẻ về cách phát âm, cách luyện giọng và sự thể hiện
cảm xúc của bài thơ. Để củng cố bài thơ, câu chuyện cô tổ chức các trò chơi để
khắc sâu những kiến thức vừa cung cấp cho trẻ.
+ Sử dụng phương tiện trực quan:
Có thể nói sự chuẩn bị chu đáo của cô là một yếu tố quan trọng mang lại sự
thành công cho tiết dạy.
“Làm quen với Văn học” là một môn mang nét đặc trưng riêng, muốn dạy
tốt cần phải có sự đầu tư thích đáng: Đầu tư cho việc nghiên cứu tác phẩm,
chuẩn bị đồ dùng và trước hết phải thuộc tác phẩm. Từ đó nghiên cứu bài soạn
để xác định mục đích yêu cầu của từng thể loại mà sử dụng phương pháp truyền
thụ cho phù hợp.
Bài soạn có đầy đủ, chi tiết và sáng tạo thì tiết dạy mới sinh động, hấp dẫn
và lôi cuốn trẻ. Vì vậy giáo viên cần cố gắng nghiên cứu tài liệu hướng dẫn về
bộ môn, tham gia học tập chuyên đề, thường xuyên dự giờ của những giáo viên
giàu kinh nghiệm, tham gia thao giảng và dự thi tay nghề …
Biết đúc rút kinh nghiệm về phương pháp, cách tổ chức tiết học cũng như
những thủ thuật, nghệ thuật của giáo viên khi lên lớp .
Ngoài ra, nên theo dõi các chương trình dành cho thiếu nhi như: Vườn cổ
tích, khoa học và giáo dục v.v .....
20
tranh ở góc tuyên truyền cho cha mẹ được hiểu về chủ đề con mình được học, từ
đó cha mẹ trẻ cung cấp thêm một số nội dung về văn học liên quan đến các chủ
đề trẻ học.
Cô và trẻ cùng tạo ra những bức tranh to, tranh truyện cổ tích, tranh trang
trí góc sách truyện đẹp mắt, lôi cuốn hấp dẫn trẻ giúp trẻ yêu thích môn làm
quen văn học.
Ví dụ: Cô dán các tranh rời trên tường cho trẻ lên sắp xếp và kể, chuẩn bị
các loại tranh truyện với nội dung và hình thức phong phú theo chủ đề ở góc thư
viện cho trẻ xem.
-Đối với biện pháp 5: Phối kết hợp với cha mẹ giúp trẻ học tốt môn Làm
quen văn văn học :Ngay từ đầu năm học nhà trường họp phụ huynh toàn trường
bầu ra ban đại diện cha mẹ học sinh nhằm hỗ trợ cho nhà trường cùng thống
nhất kế hoạch công tác, liên hệ thường xuyên với phụ huynh bằng nhiều hình
thức như: họp phụ huynh, bảng thông báo, qua giờ đón trả trẻ và nêu nên những
yêu cầu cụ thể về vấn đề cần phối hợp với gia đình trẻ.
Ví dụ:Từ ngày 6 tháng 9 năm 2015 đến ngày 10 tháng 09 năm 2015 cần
phụ huynh đóng góp vật liệu, giấy báo cũ, bìa, cây, hạt…. Ở nhà phụ huynh đọc
cho trẻ nghe truyện thơ về trường Mầm non, photocopy nội dung câu chuyện đã
học và nhờ phụ huynh đọc kể cho trẻ nghe, những yêu cầu này giáo viên nên
thông báo cho phụ huynh trong giờ đón trả trẻ. Sau một thời gian đưa ra yêu cầu
đối với phụ huynh, giáo viên có thể đưa ra một số thông tin. Thông báo danh
sách những phụ huynh đã thực hiện yêu cầu, hoặc nhắc lại yêu cầu với một số
phụ huynh. Khi đánh giá sau chủ đề phải có phần nhận xét về công tác phối hợp
với gia đình (Những gì đã thực hiện được, còn tồn tại gì? Có gì rút kinh nghiệm,
hướng giải quyết như thế nào?)
Vào những ngày lễ hội ví dụ “ Đêm hội trăng rằm” cô phối hợp với phụ
huynh làm đồ dùng minh họa, trang trí quần áo, sân khấu để trẻ đóng kịch, diễn
rối….
22
cho tiết học trở nên sôi động, hấp dẫn và tránh đi sự nhàm chán, tẻ nhạt đối với
trẻ .
Ví dụ: Với môn : “Khám phá khoa học”
Đề tài: Một số phương tiên giao thông
Cô có thể dùng câu đố :
“Xe hai bánh
Chạy bon bon
Máy nổ giòn
Kêu bình bịch”
(Xe máy)
Hay câu đố:
“Chẳng phải chim mà bay trên trời
Chở được nhiều người đi khắp mọi nơi”
(Máy bay)
Để giới thiệu bài hoặc củng cố kiến thức cho trẻ. Những câu đố nghe vừa
vui, vừa dí dỏm, sinh động, vừa giúp trẻ dễ nhớ, dễ phân biệt các phương tiện
giao thông. Đồng thời, qua đó trẻ cũng cảm nhận được cái hay, cái đẹp, cách
gieo vần, ngắt giọng, âm điệu, nhịp điệu của bài thơ, câu đố .
Hay với môn “Làm quen với chữ cái”. Có lẽ đây là môn học có tác dụng hỗ
trợ rất nhiều cho bộ môn văn học. Hướng dẫn trẻ làm quen với chữ cái là giúp
trẻ nhận biết và phát âm chữ cái. Trẻ phát âm chuẩn thì đọc thơ, kể chuyện sẽ rõ
ràng, mạch lạc và diễn cảm. Bằng câu thơ :
“O tròn như quả trứng gà
Ô thì đội mũ , ơ thời có râu”
Hay câu đố :
“Nét tròn em đọc chữ o
Khuyết đi một nửa sẽ cho chữ gì?”
Từ đó giúp trẻ ghi nhớ dấu hiệu từng chữ cái dễ dàng.
Ngoài ra, vào đầu các giờ học “ Làm quen với toán”; “Tạo hình” cô có thể
cho trẻ đọc các bài thơ đã học. Như vậy, vừa là để ổn định lớp học, vừa có tác
phấn vẽ lên sân những nhân vật trong truyện cổ tích mà cháu thích. Làm quen
với những bài thơ, câu chuyện sắp học ….Qua đó làm giàu vốn từ, sự hiểu biết,
rèn kỹ năng đọc thơ, kể truyện phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo và khả năng
phán đoán ở trẻ .
Hình : Cô và trẻ cùng hoạt động ngoài trời, xem tranh.
25