NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 96/2008/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 08 NĂM 2008 QUY ĐỊNH CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM - Pdf 39

CHÍNH PHỦ

CỘNG HOÀ XÃ HỘi CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

-----------

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 96/2008/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 26 tháng 8 năm 2008

NGHỊ ĐỊNH
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 96/2008/NĐ-CP NGÀY 26 THÁNG 08 NĂM 2008
QUY ĐỊNH CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA NGÂN HÀNG NHÀ
NƯỚC VIỆT NAM

CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 12 tháng 12 năm 1997 và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 17 tháng 6 năm 2003;
Căn cứ Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Xét đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,

NGHỊ ĐỊNH
Điều 1. Vị trí và chức năng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan
ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng
và chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản lý

7. Kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng; kiểm soát tín dụng; xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật.
8. Về quản lý ngoại hối:
a) Quản lý các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt
Nam theo quy định của pháp luật;
b) Xác định Dự trữ ngoại hối Nhà nước; kiểm soát Dự trữ quốc tế;
c) Xác định tỷ giá giữa Việt Nam đồng và ngoại tệ; tổ chức và phát triển thị trường ngoại
tệ; xây dựng cơ chế tỷ giá trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.
9. Về xây dựng cán cân thanh toán quốc tế:
a) Thu nhập, tổng hợp, lập, dự báo và theo dõi việc thực hiện cán cân thanh toán quốc tế
của Việt Nam; báo cáo tình hình thực hiện cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam theo quy
định của pháp luật.
b) Làm đầu mối cung cấp số liệu cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam cho các tổ
chức trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
10. Về quản lý việc vay, trả nợ nước ngoài của người cư trú là tổ chức kinh tế, tổ chức tín
dụng và cá nhân theo quy định của pháp luật:
a) Thực hiện quản lý nhà nước đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp,
tổ chức khác thuộc khu vực công; giám sát, theo dõi việc vay, trả nợ nước ngoài của khu vực tư
nhân; hướng dẫn và kiểm tra việc bảo lãnh vay nước ngoài của các ngân hàng thương mại và của
các tổ chức khác được phép cấp bảo lãnh vay nước ngoài theo quy định của pháp luật;
b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng hạn mức vay thương mại nước
ngoài hàng năm của các doanh nghiệp, tổ chức khác thuộc khu vực công và dự báo mức vay nước
ngoài hàng năm của khu vực tư nhân trong cả nước gửi Bộ Tài chính tổng hợp để trình Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt;
c) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính điều hành hạn mức vay thương mại nước ngoài
hàng năm của doanh nghiệp, tổ chức khác đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
d) Tổng hợp tình hình vay, trả nợ nước ngoài hàng năm của các doanh nghiệp, tổ chức
khác thuộc khu vực công và khu vực tư nhân; báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Tài
chính để tổng hợp chung tình hình về vay, trả nợ nước ngoài hàng năm của cả nước;


a) Thực hiện chức năng thành viên tại Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới
(WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Ngân hàng Đầu tư quốc tế (International Investment
Bank – IIB), Ngân hàng Hợp tác kinh tế quốc tế (International Bank For Economic Cooperation –
IBEC);
b) Làm đầu mối phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan trong việc thực hiện điều lệ,
chính sách của IMF, WB, ADB, IIB, IBEC và các chương trình ổn định kinh tế vĩ mô do IMF,
WB, ADB thực hiện tại Việt Nam; cung cấp thông tin, số liệu định kỳ hoặc đột xuất theo quy
định của các tổ chức nêu trên; đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các chính sách và
biện pháp để phát triển và mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức nêu trên.
14. Về việc thực hiện các nghiệp vụ Ngân hàng Trung ương:
a) Tổ chức in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền; thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi,
thay thế và tiêu hủy tiền;


b) Thực hiện tái cấp vốn để cung ứng tín dụng ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho
nền kinh tế;
c) Điều hành thị trường tiền tệ; thực hiện nghiệp vụ thị trường mở;
d) Tổ chức hệ thống thanh toán qua ngân hàng; quản lý nhà nước đối với hoạt động thanh
toán; cung ứng dịch vụ thanh toán; tổ chức thực hiện chính sách khuyến khích, mở rộng và phát
triển thanh toán không dùng tiền mặt sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
đ) Làm đại lý và thực hiện các dịch vụ ngân hàng cho Kho bạc Nhà nước;
e) Tổ chức hệ thống thông tin và cung ứng dịch vụ thông tin ngân hàng; quản lý các tổ
chức hoạt động thông tin tín dụng; phân tích xếp hạng tín dụng doanh nghiệp Việt Nam;
g) Thực hiện các nghiệp vụ khác của Ngân hàng Trung ương.
15. Quyết định phê duyệt và tổ chức thực hiện các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền; thẩm
định và kiểm tra việc thực hiện các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ngân hàng theo quy định của
pháp luật.
16. Quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật; được sử dụng các
khoản trích từ nguồn thu hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về ngoại hối, tiền tệ và hoạt động
ngân hàng để phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.

24. Quản lý ngạch công chức, viên chức chuyên ngành thuộc lĩnh vực ngân hàng;
a) Tổ chức thi nâng ngạch viên chức; ban hành tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ ngạch
viên chức được phân công, phân cấp quản lý theo quy định của pháp luật;
b) Xây dựng tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch công chức thuộc lĩnh vực ngân
hàng để Bộ Nội vụ ban hành.
25. Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, bổ nhiệm,
miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, chế độ nghỉ hưu, khen thưởng, kỷ luật, tiền lương và các
chế độ chính sách khác đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Ngân
hàng Nhà nước.
26. Trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế về tiền lương, tuyển dụng và sử dụng cán
bộ, công chức, viên chức phù hợp với đặc thù của Ngân hàng Nhà nước.
27. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao và
theo quy định của pháp luật.
Điều 3. Cơ cấu tổ chức
1. Vụ chính sách tiền tệ
2. Vụ Quản lý ngoại hối
3. Vụ Thanh toán.
4. Vụ Tín dụng.
5. Vụ Dự báo, thống kê tiền tệ.
6. Vụ Hợp tác quốc tế.
7. Vụ Kiểm toán nội bộ.
8. Vụ Pháp chế;
9. Vụ Tài chính – Kế toán.
10. Vụ Tổ chức cán bộ.
11. Vụ Thi đua – Khen thưởng.
12. Văn phòng.
13. Cục Công nghệ tin học.
14. Cục Phát hành và kho quỹ.
15. Cục Quản trị.
16. Sở Giao dịch.

Nguyễn Tấn Dũng


SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

29/8/2011- Ngân hàng Nhà nước: 'Tỷ giá sẽ biến động không quá 1%'
Ngân hàng Nhà nước hôm nay công bố gói giải pháp mới nhằm giảm dần lãi suất và ổn định thị
trường ngoại hối, trong đó khẳng định từ nay tới cuối năm tỷ giá sẽ biến động không quá 1%.
> Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại tệ thêm 1%

Trong thông điệp phát đi trưa nay, sau buổi làm việc giữa Thống đốc Nguyễn Văn Bình với 12
ngân hàng thương mại lớn cuối tuần trước, Ngân hàng Nhà nước cho biết các ngân hàng đã cam
kết thực hiện nghiêm túc trần lãi suất huy động tiền đồng 14% một năm; và đồng thuận giảm lãi
suất cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường xuống 17-19% một năm từ giữa
tháng 9.
Một số giải pháp đã được Thống đốc đưa ra và sớm triển khai trong thời gian tới. Tốc độ tăng
trưởng tín dụng vẫn kiểm soát dưới 20%. Tuy nhiên, trong điều kiện thanh khoản tiền đồng ở một


số ngân hàng đang dư thừa và một số nơi khác thiếu, Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét tạm thời
chưa áp dụng quy định về tỷ lệ sử dụng vốn tại Thông tư số 13/2010 và Thông tư 19/2010. Giải
pháp này được kỳ vọng sẽ tạo sự luân chuyển và điều hòa vốn giữa thị trường I và thị trường II,
giữa ngân hàng thừa và ngân hàng thiếu vốn, giúp các ngân hàng thiếu vốn có điều kiện tăng
trưởng tín dụng trong giới hạn 20% và hạ được lãi suất cho vay.
Liên quan tới việc điều hành cung ứng tiền, từ nay tới cuối năm, tùy theo diễn biến thị trường,
đặc biệt là tình hình cung cầu ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước sẽ linh hoạt qua các kênh, đảm bảo
hài hòa về mức tăng và lượng cung ứng tiền qua các tháng, đảm bảo mục tiêu chính sách tiền tệ.
Về lãi suất, từ nay đến cuối năm, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục giữ ổn định mức trần lãi suất
huy động vốn bằng VND 14% một năm để tạo điều kiện cho các ngân hàng đưa mặt bằng lãi suất
cho vay về biên độ 17-19% đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường.


Lập kịch bản ứng phó với suy thoái thế giới - 29/8/2011
Nhận định xác suất suy thoái kinh tế thế giới có thể lên tới 50%, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc
gia đang lên kế hoạch xây dựng kịch bản ứng phó để trình Chính phủ.\

Thông tin này được Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia Vũ Viết Ngoạn đưa ra trong
buổi tiếp Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh tới thăm Ủy ban hôm nay.
Tình hình kinh tế thế giới đang trở nên bi quan hơn, đặc biệt sau khi Mỹ để tuột mức tín nhiệm
hạng ưu, nguy cơ nối gót châu Âu trong cuộc khủng hoảng nợ công. Nếu như thời điểm 5/8, khi
Standard & Poor's đánh tụt tín nhiệm Mỹ, các chuyên gia thế giới mới đặt cược khả năng kinh tế
toàn cầu rơi vào suy thoái với xác suất 30-40% thì gần đây tỷ lệ này đã lên tới 40-50%.
"Xác suất này cao không kém thời 2008. Các chuyên gia thế giới bi quan như vậy bởi kinh tế khó
khăn nhưng dư địa chính sách của các chính phủ để ngăn nguy cơ suy thoái không còn nhiều",
Chủ tịch Ủy ban Vũ Viết Ngoạn trao đổi với VnExpress.net.
Theo ông Ngoạn, vào thời điểm Ngân hàng Đầu tư lớn thứ 4 nước Mỹ Lehman Brothers tuyên bố
phá sản sau 158 năm tồn tại, các chuyên gia thế giới dự báo xác suất suy thoái kinh tế thế giới là
51%. Và thực tế hàng loạt cuộc đổ vỡ quy mô lớn đã diễn ra trên thị trường tài chính, ngân hàng,
đẩy thế giới vào cuộc suy thoái kinh tế tồi tệ nhất kể từ Đại suy thoái 1930 mà cho tới tận hôm
nay nhiều nước vẫn chưa hồi phục hoàn toàn.
Trên thực tế, khi khủng hoảng tài chính bắt đầu nổ ra tại Mỹ và châu Âu vào tháng 9/2008, Việt
Nam gần như bị động và thậm chí chủ quan sẽ không bị ảnh hưởng nhiều. Hai tháng sau, các cơ
quan của Chính phủ đã nhận thức rõ hơn về mối nguy này và bắt đầu điều chỉnh các mục tiêu vĩ
mô. Đến đầu 2009, gói kích cầu chưa có tiền lệ đã được đưa ra nhằm hỗ trợ lãi suất, giảm, giãn
thuế cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh.
"Xây dựng kịch bản chính sách ứng phó nếu kinh tế thế giới rơi vào suy thoái là nhiệm vụ trọng
tâm của Ủy ban từ nay tới cuối năm. Chúng tôi đang bắt đầu triển khai và sớm trình Chính phủ
trong tháng tới. Ngay cả trong trường hợp suy thoái không diễn ra, những khó khăn mà kinh tế
thế giới phải đối mặt thời gian tới vẫn rất lớn, đòi hỏi chúng ta phải có kịch bản chính sách phù
hợp với từng tình huống từ xấu nhất cho tới lạc quan nhất", ông Ngoạn nói.
Trong kế hoạch những tháng cuối năm, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cũng sẽ lập báo cáo

nước ngoài, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 8% trên tổng số dư tiền
gửi phải dự trữ bắt buộc. Riêng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam,
Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 7% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ
bắt buộc,
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên cũng tăng 1% lên 6% đối với các ngân
hàng thuộc nhóm một và 5% đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam,
Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 5% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ
bắt buộc.
Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 9.
Ngân hàng Nhà nước cho biết trong gần 8 tháng đầu năm, thanh khoản bằng ngoại tệ của tổ chức
tín dụng được đảm bảo, nhưng tín dụng bằng ngoại tệ tăng ở mức khá cao. Quyết định tăng tỷ lệ
dự trữ bắt buộc ngoại tệ được cơ quan này kỳ vọng sẽ hạn chế đà tăng nóng này và tạo điều kiện
ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối.
6 tháng đầu năm, lượng vốn ngoại tệ cho vay với nền kinh tế tăng 22,21%, gấp hơn 3 lần tốc độ
tăng tín dụng nội tệ (chỉ tăng 7,05% trong thời gian này). Bình quân lãi suất cho vay nội tệ thời
gian này là 18,74% một năm trong khi bình quân lãi suất cho vay ngoại tệ chỉ là 6,4%.
Tình hình vẫn tiếp diễn trong 2 tháng 7 và 8, khi khoảng vênh lãi suất chưa được thu hẹp và tỷ
giá không biến động. Tuần giữa tháng 8, lãi suất cho vay VND thấp nhất là 16,5% nhưng cao
nhất cũng tới 25%. Trong khi lãi suất cho vay USD phổ biến 6-8% một năm.
Dự báo những tháng cuối năm các doanh nghiệp sẽ cân nhắc hơn khi vay đôla, bởi lãi suất có thể
tăng cao sau quyết định tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ giá cũng bắt đầu phát tín hiệu căng thẳng.
Cuối tuần qua, tỷ giá trên thị trường tự do đã vượt 21.000 đồng, trong ngân hàng cũng tái diễn
tình trạng mua bán vượt trần quy định.
Ngân hàng Nhà nước cũng đang nỗ lực giảm dần lãi suất nội tệ, bằng các gói giải pháp như duy
trì trần lãi suất huy động nội tệ 14% một năm, nới các quy định về an toàn sử dụng vốn...
Song Linh


Thứ ba, 30/8/2011, 10:28 GMT+7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status