HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ XUÂN
C¤NG T¸C X¢Y DùNG §¶NG CñA §¶NG Bé LI£N KHU III
Tõ N¡M 1948 §ÕN N¡M 1954
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ XUÂN
C¤NG T¸C X¢Y DùNG §¶NG CñA §¶NG Bé LI£N KHU III
Tõ N¡M 1948 §ÕN N¡M 1954
Chuyên ngành : Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số
: 62 22 03 15
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS, TS NGUYỄN MẠNH HÀ
2. TS NGUYỄN BÌNH
HÀ NỘI - 2015
đến tháng 5-1952
18
36
Chương 2: XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ VỮNG MẠNH, ĐẢM BẢO LÃNH
ĐẠO CUỘC KHÁNG CHIẾN ĐẾN THẮNG LỢI (5/1952 - 7/1954)
2.1. Chủ trương mới của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh
về xây dựng Đảng
2.2. Đảng bộ Liên khu III tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, tư
tưởng, tổ chức (5/1952 - 7/1954)
69
69
74
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM
3.1. Nhận xét
3.2. Một số kinh nghiệm
103
103
128
KẾT LUẬN
141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN
Đảng thời kỳ này là một yêu cầu khách quan nhằm làm sáng rõ lịch sử của
Đảng, có ý nghĩa thiết thực phục vụ công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng
hiện nay.
Thực tiễn phong phú của quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng nói
chung và xây dựng Đảng nói riêng đã được các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu. Tuy nhiên, đến nay, còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục luận
giải và làm sáng tỏ thêm. Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu
III từ năm 1948 đến năm 1954 là một trong những vấn đề đó.
Là địa bàn chiến lược quan trọng, Liên khu III không chỉ trực tiếp
chiến đấu, xây dựng, bảo vệ quê hương mà còn có nhiệm vụ chi viện sức
người, sức của cho chiến trường cả nước. Do đó, công tác xây dựng Đảng
2
của Đảng bộ Liên khu thời kỳ này cũng hết sức khó khăn, phức tạp. Ở đó,
Đảng bộ Liên khu đã có những sáng tạo, những quyết định đúng đắn trong
việc đề chủ trương và tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác xây dựng Đảng về
chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thực tiễn phong phú về quá trình Đảng bộ
Liên khu tiến hành công tác xây dựng Đảng trong cuộc kháng chiến, đến
nay, chưa được quan tâm nghiên cứu toàn diện, hệ thống và thấu đáo.
Xuất phát từ những lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài "Công tác
xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm 1954"
làm đề tài luận án tiến sĩ nhằm tái hiện quá trình hình thành, phát triển của
Đảng bộ Liên khu III trong cuộc kháng chiến; khẳng định tính đúng đắn,
sáng tạo; những đóng góp của Đảng bộ, của quân và dân Liên khu III trong
công tác xây dựng Đảng; đúc kết những kinh nghiệm có thể vận dụng trong
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận
án còn góp phần làm phong phú thêm kho tàng lịch sử công tác xây dựng
Đảng của Đảng.
Trung ương Đảng và quá trình Đảng bộ Liên khu III triển khai thực hiện
công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức từ tháng 2-1948
đến 7-1954 trên địa bàn Liên khu III.
- Về không gian:
+ Từ tháng 2-1948 đến tháng 5-1952, gồm địa bàn 11 tỉnh, thành
phố: Hải Kiến, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Hà
Đông, Sơn Tây, Ninh Bình, Hòa Bình và Hà Nội. (Tháng 12-1948, tỉnh Hải
Kiến tách thành thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An. Ngày 11-5-1949,
Hà Nội tách khỏi Liên khu III thành Đặc khu, do Trung ương Đảng trực
tiếp chỉ đạo).
+ Từ tháng 5-1952 đến tháng 7-1954, gồm địa bàn 6 tỉnh, thành phố:
Nam Định, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Ninh Bình và Hòa Bình
- Về thời gian: Từ khi thành lập Liên khu III (tháng 2-1948) đến khi
Hiệp định Genève (Giơ-ne-vơ) được ký kết tháng 7-1954.
4
4. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Tác giả luận án vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện
chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan
điểm của Đảng về xây dựng Đảng làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu.
4.2. Nguồn tài liệu
Luận án sử dụng các nguồn tài liệu sau:
- Các Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc; các nghị quyết, chỉ thị
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Thường vụ Trung ương (sau
Đại hội II là Bộ Chính trị), Ban Bí thư, Liên khu uỷ III, các tỉnh uỷ, thành
uỷ trên địa bàn Liên khu III về công tác xây dựng Đảng từ năm 1948 đến
năm 1954 đã được công bố trong Văn kiện Đảng toàn tập hoặc hiện lưu tại
địa phương thuộc địa bàn Liên khu III trước đây.
5. Đóng góp của luận án
5.1. Về tư liệu
Sưu tầm, tập hợp, thẩm định khối tư liệu, tài liệu, nhất là tư liệu gốc
về công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến năm
1954, trong đó có nhiều sử liệu mới
5.2. Về nội dung
Kết quả nghiên cứu của luận án giúp cho người đọc thấy rõ quá trình
Đảng bộ Liên khu III lãnh đạo, thực hiện công tác xây dựng Đảng từ năm
1948 đến năm 1954; vai trò của công tác xây dựng Đảng đối với sự nghiệp
lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc của Đảng bộ Liên khu; góp phần làm
phong phú, toàn diện và sâu sắc hơn công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam; cung cấp thêm những luận cứ khoa học phục vụ
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công
bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án
gồm 3 chương, 6 tiết.
6
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Cho đến nay, công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ
năm 1948 đến năm 1954 được đề cập ở những mức độ, phạm vi, góc độ
khác nhau trong một số công trình nghiên cứu về lịch sử Đảng, lịch sử dân
tộc, lịch sử quân sự, lịch sử các ban, ngành, đoàn thể Trung ương và lịch sử
chiến chống Pháp và chống Mỹ 1945-1975 [189], phản ánh công tác giáo
dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và chiến sĩ trong quân đội
trong các chiến dịch.
Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài
học [105] của Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị đã
tổng kết những thắng lợi của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân qua các giai
đoạn của cuộc kháng chiến, rút ra một số bài học, kinh nghiệm về xây dựng
Đảng có liên quan đến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III.
Cuốn Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt
Nam 1930-2000 [106], Lịch sử biên niên công tác tư tưởng của Đảng Cộng
sản Việt Nam (1925-1954) [107] phản ánh công tác lãnh đạo tư tưởng của
Đảng từ năm 1925 đến năm 2000, trong đó đề cập đến một số sự kiện liên
quan trực tiếp tới công tác lãnh đạo tư tưởng của Đảng bộ Liên khu III, của
một số tỉnh uỷ, thành uỷ thuộc Liên khu trong thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp.
Công trình Lịch sử công tác tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam
(1930-2000) [184] nghiên cứu chủ trương, đường lối của Đảng về công tác
tổ chức và quá trình hình thành, phát triển hệ thống tổ chức của Đảng từ
năm 1930 đến năm 2000. Khi đề cập đến công tác tổ chức của Đảng bộ
Liên khu III trong kháng chiến chống thực dân Pháp, công trình đã đưa ra
8
một vài số liệu về phát triển đảng viên, xây dựng cơ sở, mở lớp huấn luyện
của một vài tỉnh trên địa bàn Liên khu.
Công trình Đảng Cộng sản Việt Nam, những vấn đề cơ bản về xây
dựng Đảng của GS, TS Mạch Quang Thắng [178] trình bày một cách hệ
thống, sâu sắc các vấn đề xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ
chức, gợi mở định hướng nghiên cứu chung cho đề tài luận án.
giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đề tài đề
cập đến công tác xây dựng Đảng của toàn Đảng, trong đó đề cập một vài
khía cạnh, số liệu về phát triển đảng viên của Đảng bộ Liên khu III trong
kháng chiến. Những nhận định, đánh giá về công tác lãnh đạo của Đảng,
công tác xây dựng Đảng thể hiện trong đề tài phần nào có ý nghĩa cho việc
đối chiếu, tổng kết, rút ra những nét riêng trong công tác xây dựng Đảng
của Đảng bộ Liên khu.
Đề tài khoa học cấp bộ Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức
Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 -1954) [110] do
TS Nguyễn Bình làm Chủ nhiệm nghiên cứu về công tác xây dựng hệ thống
tổ chức của Đảng trong cuộc kháng chiến. Đề tài tập trung trình bày quá
trình Đảng lãnh đạo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến địa
phương; trong đó điểm một vài nét về công tác xây dựng tổ chức của một số
Liên khu, tỉnh, thành phố điển hình. Công tác xây dựng tổ chức của Đảng bộ
Liên khu III, ở một vài thời điểm, đề tài đưa ra một vài số liệu về số lượng
chi bộ, đảng viên của Liên khu. Căn cứ vào những số liệu về tổ chức Đảng
mà đề tài đưa ra, tác giả luận án có điều kiện lựa chọn những những số liệu
đáng tin cậy; và cũng là một cơ sở góp phần giúp tác giả so sánh, rút ra một
vài điểm giống, khác nhau về công tác xây dựng tổ chức giữa Liên khu III
với các Liên khu khác.
10
Các bài nghiên cứu trên đều phản ánh những khía cạnh công tác xây
dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức nói chung; công tác xây dựng
Đảng của các Liên khu nói riêng; nêu lên một số kinh nghiệm trong công
tác xây dựng Đảng của toàn Đảng cũng như kinh nghiệm xây dựng Đảng
của một số đảng bộ địa phương. Điều đó giúp tác giả luận án nghiên cứu
trên nhiều khía cạnh liên quan đến chủ đề của luận án.
Liên khu III, công tác lãnh đạo và phong trào chiến tranh du kích vùng sau
lưng địch được phản ánh đậm nét. Những thành công, chưa thành công
trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phong trào chiến tranh du kích của các
Đảng bộ trên địa bàn sẽ là một cơ sở để tác giả luận án đánh giá phần nào
những thành công, hạn chế trong xác định nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ
Liên khu. Phần nhận xét, đánh giá của công trình đề cập một vài khái cạnh
liên quan đến công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu, có thể tham
khảo phục vụ việc tổng kết, đánh giá công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ
Liên khu. Những kết quả của phong trào chiến tranh du kích mà công trình
thể hiện còn giúp cho tác giả luận án nhận thức rõ hơn vai trò quan trọng
của công tác xây dựng Đảng đối với sự nghiệp kháng chiến trên địa bàn;
hiểu rõ sự chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của các cấp bộ Đảng ở Bắc
Bộ, trong đó có Đảng bộ Liên khu III.
Đề tài khoa học cấp bộ Vai trò của Liên khu uỷ III trong kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược và trong những năm đầu xây dựng, củng cố
miền Bắc [175] do TS Nguyễn Quý làm Chủ nhiệm đã trình bày sự lãnh
đạo của Liên khu ủy III đối với công cuộc kháng chiến, kiến quốc của quân
và dân Liên khu từ tháng 2-1948 đến tháng 7-1954. Đề tài khái quát một số
nét cơ bản về sự ra đời của Liên khu ủy III; dựng lại quá trình Liên khu ủy
III lãnh đạo quân và dân trên địa bàn kháng chiến chống địch đánh chiếm
đồng bằng; xây dựng lực lượng; phát triển phong trào chiến tranh du kích,
phối hợp với các chiến trường; các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của
12
Liên khu v.v. Ở đó, những chủ trương, chính sách của Liên khu ủy về đẩy
mạnh kháng chiến, xây dựng lực lượng, phối hợp đấu tranh, củng cố hậu
phương kháng chiến…; những trận chiến đấu giằng co, cam go của quân và
dân địa phương chống địch càn quét được phản ánh sinh động với nhiều
Các công trình lịch sử Đảng bộ nêu trên trình bày sự ra đời, phát
triển và quá trình Đảng bộ các địa phương lãnh đạo nhân dân thực hiện
nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc từ năm 1945 đến năm 1954. Ở đó, các
chủ trương kháng chiến, kiến quốc của các cấp ủy Đảng; các phong trào
chiến tranh du kích, đấu tranh chính trị, kinh tế, văn hóa... và kết quả đạt
được trên các mặt công tác được phản ánh sinh động. Hòa trong phong trào
kháng chiến, các công trình cũng thể hiện những hoạt động xây dựng Đảng
của các cấp bộ Đảng địa phương, tuy chỉ mới dừng ở mức khái lược, chủ
yếu đưa ra một vài số liệu minh họa về xây dựng tổ chức như: số lượng
đảng viên, một số chi bộ, các lớp bồi dưỡng, chỉnh huấn. Công tác lãnh đạo
tư tưởng có được phản ánh nhưng còn mờ nhạt. Trong một vài thời đoạn
của cuộc kháng chiến, ở nhiều địa phương, công tác xây dựng Đảng không
được đề cập đến. Hầu hết các công trình chưa có nhận xét, đánh giá về
công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ mình. Mặc dù vậy, các công trình
lịch sử Đảng bộ địa phương không chỉ đơn thuần cung cấp một số sự kiện,
số liệu về công tác xây dựng Đảng, mà thực tiễn kháng chiến sôi động của
Đảng bộ, của quân và dân các tỉnh, thành là nguồn tài liệu không thể thiếu
để nghiên cứu sinh tham khảo phục vụ việc xây dựng nội dung nghiên cứu;
phân tích, đánh giá, nhận xét một cách thấu đáo những thành tựu, hạn chế,
cũng như rút ra những kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận, thực tiễn về công
tác xây dựng Đảng của các địa phương trên địa bàn Liên khu.
Các ban, ngành, đoàn thể một số tỉnh, thành trên địa bàn cũng đã
nghiên cứu, biên soạn lịch sử tổ chức và hoạt động của mình trong thời kỳ
kháng chiến chống thực dân Pháp. Tuy không đề cập trực tiếp đến công tác
14
xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu nhưng những kết quả đạt được cũng
như những khuyết điểm, hạn chế trong công tác của từng ban, ngành, đoàn
mang tính minh họa trong diễn biến chung của cuộc kháng chiến. Các
công trình đó chú trọng trình bày về các hoạt động quân sự, diễn biến, kết
quả, ý nghĩa các chiến dịch, các trận chống càn, các hoạt động chiến tranh
du kích, tổng kết các vấn đề về kháng chiến, về chiến tranh du kích trên
địa bàn.
Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III được thực hiện
trên cơ sở sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên, quan điểm, sự lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể của Trung ương Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên
khu III hầu như chưa được đề cập đến.
Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến
năm 1954 được tiến hành trên nhiều mặt, trong đó tập trung vào 3 mặt
chính trị, tư tưởng và tổ chức. Các công trình trên chủ yếu phản ánh về lịch
sử kháng chiến, tập trung vào lĩnh vực quân sự, chiến tranh du kích, chiến
tranh nhân dân trên địa bàn dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu. Chỉ có
một số ít công trình điểm qua một vài nội dung trong công tác xây dựng
Đảng của Đảng bộ Liên khu nhưng còn hết sức chung chung và mờ nhạt.
- Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác xây dựng Đảng của
Đảng bộ Liên khu III cũng còn nhiều khuyết điểm, hạn chế. Một số công
trình đã đưa ra một vài khuyết điểm, hạn chế trong công tác xây dựng
Đảng của Đảng bộ Liên khu như: phát triển Đảng “ẩu”; củng cố không
theo kịp đà phát triển; thiếu cán bộ, bộ máy Đảng còn thiếu tính ổn định.
- Công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ tháng
2-1948 đến tháng 7-1954 để lại nhiều kinh nghiệm quý. Các công trình
đã xuất bản chưa đề cập đến những kinh nghiệm trong công tác xây
16
dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu có ý nghĩa cho công tác xây dựng
- Tái hiện quá trình lãnh đạo, tổ chức thực hiện công tác xây dựng
Đảng của Đảng bộ Liên khu III trên ba mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức từ
năm 1948 năm 1954.
- Đánh giá một cách khách quan những thành tựu, hạn chế cũng như
nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế trong công tác xây dựng của
Đảng bộ Liên khu III.
- Đúc kết một số kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận, thực tiễn từ lịch
sử công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ Liên khu III từ năm 1948 đến
năm 1954.
18
Chương 1
XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG,
TỔ CHỨC, ĐÁP ỨNG YÊU CẦU LÃNH ĐẠO KHÁNG CHIẾN
TRONG TÌNH HÌNH MỚI (2/1948 - 5/1952)
1.1. TÌNH HÌNH XÂY DỰNG ĐẢNG TRÊN ĐỊA BÀN LIÊN KHU III
TRƯỚC THÁNG 2-1948 VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG, CHỦ
TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG
1.1.1. Sự ra đời của Đảng bộ Liên khu III
Đầu năm 1948, thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện chính sách bình
định, các địa bàn kháng chiến của ta bị chia cắt. Để điều hành hiệu quả
cuộc kháng chiến, Trung ương Đảng và Chính phủ chủ trương tổ chức lại
các Khu trong cả nước. Thực hiện nghị quyết thống nhất Khu Bắc Bộ của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 20-1-1948 và Sắc lệnh số 120-SL
ngày 25-1-1948 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đầu tháng 2-1948, Liên khu III
được thành lập, trên cơ sở sáp nhập Khu II, Khu III và Khu XI. Địa bàn
Liên khu III gồm 11 tỉnh, thành phố: Hải Kiến, Hải Dương, Hưng Yên,
Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo.
Trước tình hình các tỉnh Tả ngạn bị chiếm đóng, cô lập, để lãnh đạo,
điều hành kháng chiến thành công, ngày 24-5-1952, Trung ương Đảng ra
Nghị quyết số 08/NQ-TU tách 5 tỉnh phía Bắc sông Hồng của Liên khu III
gồm Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên thành lập Khu
Tả ngạn sông Hồng. Liên khu III từ thời điểm đó đến khi kết thúc cuộc
kháng chiến gồm 6 tỉnh, thành phố còn lại ở Hữu ngạn sông Hồng là Hà
Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Sơn Tây và Hòa Bình, do Liên khu
ủy III lãnh đạo.
20
Theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Hội nghị Liên khu ủy lần thứ
3 họp từ ngày 20-5 đến 2-6-1952, ra nghị quyết về tổ chức, phân công
nhiệm vụ cho các đồng chí tham gia Ban Chấp hành Liên khu uỷ. Ban
Chấp hành Liên khu lúc này gồm 15 người, trong đó có các đồng chí: Lê
Thanh Nghị, Lê Thành, Lê Quốc Thân, Hà Kế Tấn, Vũ Thơ, Nguyễn Văn
Lộc…; Lê Thanh Nghị làm Bí thư kiêm Chính ủy; Hà Kế Tấn làm Phó Bí
thư (sau đó đồng chí Đặng Tính thay) [111, tr.565; 175, tr.30]. Liên khu ủy
chỉ định các đồng chí phụ trách các Ban Dân vận, Nông vận, Tuyên huấn…
và phụ trách các tỉnh trong Liên khu.
1.1.2. Những yếu tố tác động đến công tác xây dựng Đảng ở Liên
khu III
1.1.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Liên khu III - trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ, là vùng đất đai rộng
lớn với điện tích 16.000 km2. Đây là vùng đất có vị trí địa lý quan trọng:
phía Đông giáp biển, phía Bắc giáp Chiến khu Việt Bắc, phía Tây giáp
Chiến khu Tây Bắc, phía Nam giáp vùng tự do rộng lớn Khu IV. Vì vậy,
Liên khu có điều kiện thuận lợi trong việc liên lạc, nhận sự hỗ trợ cũng như
thương mại, có cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, là đầu mối giao thông
quan trọng, nơi giao lưu giữa Việt Nam với quốc tế. Sau thành phố Hà
Nội và Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương là những đô thị quan trọng, có
công thương nghiệp tương đối phát triển, nằm trên tuyến đường huyết
mạch nối hai thành phố lớn nhất miền Bắc là Hải Phòng, Hà Nội. Nam
Định nằm giữa các tỉnh Hữu ngạn sông Hồng, là trung tâm công nghiệp
dệt lớn nhất Bắc Bộ và Đông Dương.
Vùng ven biển, hải đảo trải dài theo bờ biển các tỉnh Hải Phòng,
Kiến An, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình. Ngoài khơi có nhiều đảo và
quần đảo như Bạch Long Vĩ, Long Châu, Cát Bà, Cát Hải… Đặc điểm này