1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
Đảng và Nhà nước ta đã từng bước tiến hành cải cách về mặt tổ chức và hoạt
động của các cơ quan tư pháp, trong đó có cơ quan thi hành án dân sự. Nhằm
đưa chủ trương của Đảng tại Đại hội IX về cải cách tư pháp vào cuộc sống,
trong những năm vừa qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết và
các Luật liên quan đến cải cách tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp nói
chung và cơ quan thi hành án dân sự nói riêng như: Nghị quyết số 08/NQTW
ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư
pháp trong thời gian tới, Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ
tướng Chính phủ về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án
dân sự, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020; Pháp lệnh Thi hành án dân sự sửa đổi
năm 2004 và hàng loạt các văn bản pháp luật có liên quan đến thi hành án dân
sự khác. Những văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới về tổ chức
và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự. Trên cơ sở đó, nhiều bản án,
quyết định có hiệu lực của Tòa án án (quyết định dân sự trong bản án hình sự;
bản án dân sự, hành chính, lao động, kinh tế...) đã được các cơ quan thi hành
án dân sự kịp thời đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật đạt kết quả
tương đối cao. Điều này, đã góp phần đảm bảo an ninh trật tự xã hội, giữ gìn
kỷ cương phép nước và thực hiện dân chủ, công bằng xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong thi hành án dân
sự vẫn còn có những bất cập chưa được giải quyết kịp thời như: Hệ thống văn
bản pháp luật nói chung và các văn bản pháp luật thi hành án dân sự nói riêng
vẫn còn nhiều khoảng trống, chưa điều chỉnh hết các quan hệ phức tạp nảy
3
án dân sự. Từ khi thi hành án dân sự được chuyển giao sang cho Chính phủ
thống nhất quản lý, vấn đề thi hành án dân sự đã được đặt ra và triển khai nghiên
cứu ở mức độ nhất định: Đề tài "Thừa phát lại" do Viện Nghiên cứu khoa học
Pháp lý Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện;
đề tài khoa học cấp Bộ về "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án" do
Cục quản lý Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì; Luận văn thạc sĩ Luật học
"Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự Việt Nam" của tác
giả Trần Văn Quảng; Luận văn thạc sĩ Luật học "Hoàn thiện pháp luật về thi
hành án dân sự" của Nguyễn Thanh Thủy; Đề tài khoa học cấp nhà nước độc lập
"Luận cứ khoa học và thực tiễn của việc đổi mới tổ chức hoạt động thi hành án
ở Việt Nam trong giai đoạn mới" do Bộ Tư pháp chủ trì. Ngoài ra, còn một số
công trình khoa học khác được công bố trên các sách, tạp chí như: "Đối tượng
giám sát thi hành án của Quốc hội" của Trần Thanh Hương được đăng trên Tạp
chí Lập pháp, số 2 năm 2003; "Quan niệm về giám sát thực hiện quyền lực nhà
nước" của Đào Trí Úc đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2003...
Những công trình nghiên cứu trên ở chừng mực nhất định có đề cập một
số khía cạnh của pháp luật về thi hành án dân sự, đề xuất cơ chế thuận tiện cho
việc tiến hành các hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự. Nhưng đến nay,
chưa có một bài báo, công trình nào đề cập và luận giải một cách cụ thể, trực tiếp
hệ thống về giám sát thi hành án dân sự. Vì vậy, luận văn là chuyên khảo đầu
tiên nghiên cứu tương đối có hệ thống, toàn diện về giám sát thi hành án dân sự
ở Việt Nam. Mặc dù vậy, những công trình được công bố trên đây là những tài
liệu tham khảo có giá trị để tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng, giám sát
xã hội,...
5
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu tương đối có hệ thống và
toàn diện về giám sát thi hành án dân sự ở Việt Nam. Vì vậy, luận văn có những
điểm mới cụ thể là:
- Nghiên cứu xác định khái niệm giám sát thi hành án dân sự và những
đặc trưng cơ bản của giám sát thi hành án dân sự;
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động giám sát thi hành án dân sự.
Trên cơ sở đó chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của giám sát thi
hành án dân sự;
- Đưa ra một số quan điểm và đề xuất các giải pháp bảo đảm giám sát thi
hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Với kết quả đạt được, luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận về giám sát thi hành án dân sự, từ đó nâng cao nhận thức của xã hội đối với
giám sát thi hành án dân sự.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy về vấn đề liên quan đến thi hành án dân sự trong các trường đại học,
cao đẳng, Học viện Tư pháp và xây dựng Luật thi hành án.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
Nội dung của luận văn gồm 2 chương, 7 tiết.
6
7
thi hành án dân sự hiện nay, tuy được đặt trong hệ thống các cơ quan hành
chính, nhưng nó không có chức năng quản lý hành chính mà chỉ có chức năng
thực hiện các bản án, quyết định của tòa án - cơ quan xét xử. "Do vậy thực
chất cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm
vụ của tố tụng dân sự là thi hành các bản án, quyết định của tòa án" [1, tr. 6].
Ngoài ra, cũng còn một số quan điểm khác cũng cho rằng, thi hành án
dân sự cũng giống như thi hành án hình sự, được quy định trong Bộ luật Tố
tụng dân sự. Vì vậy, thi hành án dân sự phải được coi là một giai đoạn của tố
tụng dân sự và là hoạt động mang tính chất tư pháp thuần túy.
Có thể nói, hầu hết các quan điểm nêu trên đều lấy xuất phát điểm từ
luật thực định, cụ thể là vị trí, tính chất của chủ thể tiến hành các hoạt động
thi hành án dân sự, tính chất loại công việc cơ quan thi hành án dân sự tổ chức
thi hành để xác định thi hành án dân sự là loại tố tụng gì, có tính chất như thế
nào. Tuy nhiên, các quan điểm này vẫn chưa thể giải quyết được thỏa đáng
các vấn đề đặt ra. Cụ thể:
Hiện tại, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2002, thì việc
thi hành án hình sự được giao cho các cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức thi
hành (Bộ Công an tổ chức thi hành hình phạt tù, Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn tổ chức thi hành án quản chế, các cơ quan tổ chức nơi người bị án
treo, đảm trách việc thi hành án treo đối với cá nhân, công dân thuộc sự quản
lý của cơ quan tổ chức đó). Nhưng việc thi hành án phạt tù vẫn được coi là
một giai đoạn của quá trình tố tụng. Đồng thời, theo quy định của pháp luật,
thì cơ quan điều tra và một số cơ quan khác thuộc chính phủ được giao nhiệm
vụ điều tra đối với một số tội phạm thuộc lĩnh vực quản lý như: Công an, Hải
quan, Kiểm lâm, Điều tra quân đội, những cơ quan này đều là các cơ quan
thuộc Chính phủ, nằm trong hệ thống các cơ quan hành pháp, nhưng các hoạt
động do các cơ quan này tiến hành vẫn là hoạt động tố tụng. Chính vì vậy,
không thể căn cứ vào việc cơ quan nào đảm nhận việc tổ chức thi hành các bản
đó, có thể thấy, mục đích của thi hành án dân sự là tổ chức thi hành các bản
án, quyết định của Tòa án và Trọng tài Thương mại, biến các quyền, nghĩa vụ
9
về mặt lý thuyết thành các quyền, nghĩa vụ thực tế. Thông qua thi hành án dân
sự, trật tự pháp luật, tình trạng ban đầu của các quan hệ do bị hành vi vi phạm
xâm hại được khôi phục.
Như vậy, nếu coi mục đích của tố tụng là khôi phục lại trật tự pháp
luật đã bị xâm hại, đưa nó trở về trạng thái ban đầu như trước khi bị vi phạm,
thì thi hành án dân sự là một giai đoạn của tố tụng. Có thể nói, mục đích của
quá trình tố tụng bao trùm lên mục đích của thi hành án dân sự. Mục đích của
thi hành án dân sự là nhằm củng cố thêm mục đích của tố tụng.
Thứ hai, tính chất công việc mà cơ quan thi hành án phải thực hiện
Theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004, thì cơ
quan thi hành án dân sự có trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Bản án, quyết định hoặc phần bản
án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; quyết định
giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; bản án, quyết định dân sự của Tòa
án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định của Trọng tài Thương
mại Việt Nam có hiệu lực thi hành) và những bản án, quyết định của Tòa án
chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay (bản án, quyết định sơ
thẩm về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo
hiểm xã hội hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; nhận người lao
động trở lại làm việc; quyết định khẩn cấp tạm thời để bảo đảm lợi ích cấp
thiết của đương sự, bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án...) đều là kết quả
của quá trình giải quyết tranh chấp, nhưng tính chất lại khác nhau. Bản án,
một trong những dấu hiệu rất đặc trưng thể hiện bản chất hành chính của thi
hành án dân sự. Tất cả các trường hợp, nếu như đương sự có điều kiện thi
hành án, nhưng không tự nguyện thi hành, đều dẫn tới việc áp dụng biện pháp
cưỡng chế để thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa án và quyết định
của Trọng tài Thương mại.
11
Mặt khác, mặc dù trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định,
chấp hành viên - người được Nhà nước giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức thi
hành án, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của mình. Tuy
nhiên, với tư cách là người thừa hành nhiệm vụ, chấp hành viên vẫn phải tuân
theo sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ
quan thi hành án dân sự và của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Trong
quá trình tổ chức thi hành án, nếu như chấp hành viên có vi phạm về mặt thủ
tục thi hành án dẫn tới việc khiếu nại của đương sự, thì việc giải quyết khiếu
nại được thực hiện thông qua thủ tục hành chính. Người có thẩm quyền sẽ
giải quyết khiếu nại bằng một quyết định giải quyết khiếu nại. Trong quyết
định giải quyết khiếu nại sẽ chấp nhận, không chấp nhận, chấp nhận một phần
hay chấp nhận toàn bộ khiếu nại của đương sự. Trường hợp chấp nhận khiếu
nại của đương sự, người có thẩm quyền sẽ hủy bỏ các quyết định có vi phạm
của chấp hành viên và yêu cầu chấp hành viên tổ chức thi hành lại theo đúng
trình tự thủ tục đã được quy định trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự và các
văn bản hướng dẫn thi hành, mà không trực tiếp rút lên để giải quyết theo một
trình tự, thủ tục khác như trong tố tụng.
Như vậy, có thể thấy rằng, thi hành án dân sự là hoạt động mang đậm
tính chấp hành và điều hành.
Thứ tư, mối quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan
khác trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định về dân sự
hiệu lực, cơ quan thi hành án sẽ căn cứ vào nội dung của bản án, quyết định
(trường hợp cơ quan thi hành án chủ động thi hành án), căn cứ vào đơn yêu
cầu thi hành án và bản án, quyết định (trường hợp thi hành án theo đơn yêu
cầu của người được thi hành án, người phải thi hành án) để thi hành án. Cơ
quan thi hành án có trách nhiệm tổ chức thi hành đúng nội dung của bản án,
quyết định; người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền,
nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án phải nghiêm chỉnh thi hành, các cơ
13
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và cá nhân tôn trọng
[43]. Chính vì vậy, ở đây thể hiện rất rõ tính chấp hành trong hoạt động thi
hành án dân sự. Đồng thời, chấp hành viên với tư cách là người được Nhà nước
trao quyền và chịu trách nhiệm chính, trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp
hành viên căn cứ vào các quy định của pháp luật về thi hành án chủ động phối
hợp với các cơ quan hữu quan để giải quyết các vấn đề có liên quan đến thi
hành án. Đặc biệt, trong nhiều trường hợp chấp hành viên còn chịu trách
nhiệm và điều hành cả các thành viên thuộc các cơ quan, tổ chức khác có
tham gia vào quá trình thi hành án. Ví dụ: làm Chủ tịch Hội đồng cưỡng chế,
Chủ tịch Hội đồng định giá tài sản, tiêu hủy tài sản...
Mặt khác, hầu hết các hoạt động thi hành án đều hướng đến việc thực
hiện các nghĩa vụ về tài sản, trực tiếp tác động đến tài sản của các đương sự.
Theo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Pháp lệnh Thi hành án dân sự, thì cơ quan
thi hành án chịu trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa
án về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế; bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án
Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định về dân sự, phạt
tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất
thi hành án tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc; kê biên, xử lý tài sản của
người phải thi hành án kể cả tài sản của người phải thi hành án đang do người
thứ ba giữ; buộc giao nhà, chuyển quyền sử dụng đất hoặc giao vật, tài sản
khác; cấm hoặc buộc người phải thi hành án không làm hoặc làm công việc
nhất định) để tổ chức thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa án hoặc
quyết định của Trọng tài Thương mại.
1.1.2.3. Tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự
Khác với thi hành án hình sự, người bị kết án phải chấp hành nghiêm
chỉnh bản án, quyết định của Tòa án, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thi
hành án hình sự có trách nhiệm phải tổ chức thi hành dứt điểm các hình phạt
15
đối với người phạm tội. Trong thi hành án dân sự, ngoài các trường hợp cơ
quan thi hành án phải chủ động ra quyết định thi hành án (án phí, lệ phí Tòa
án, trả lại tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án; hình phạt tiền; tịch thu tài sản,
truy thu thuế, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính; xử lý vật chứng, tài sản
đã thu giữ; thu hồi đất theo quyết định của Tòa án; quyết định khẩn cấp tạm
thời của Tòa án), cơ quan thi hành án chỉ tổ chức thi hành án trên cơ sở yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án và người phải thi hành. Cơ quan
thi hành án chỉ ra quyết định trong phạm vi yêu cầu của người được thi hành
án, người phải thi hành án. Đồng thời, người được thi hành án có quyền yêu
cầu không thi hành án, hoặc cho người phải thi hành án hoãn việc thi hành án;
thỏa thuận với người phải thi hành án về phương thức, địa điểm thi hành án.
1.1.3. Vai trò của thi hành án dân sự
1.1.3.1. Thi hành án dân sự là phương tiện đưa bản án, quyết định
của Tòa án, của Trọng tài Thương mại vào thực tiễn cuộc sống
Việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền lợi của người phải thi hành án. Chính vì vậy, người phải thi hành án
án. Chính trong quá trình này, cơ quan thi hành án có thể phát hiện ra các sai
sót của các giai đoạn tố tụng trước đó, từ đó sẽ kiến nghị với người có thẩm
quyền xem xét lại bản án, quyết định theo trình tự giám đốc thẩm hay tái
thẩm.
Như vậy, có thể thấy rằng, thi hành án dân sự là công cụ, là thước đo,
để kiểm tra tính đúng đắn của các giai đoạn tố tụng trước đó. Nếu tính đúng
đắn của các giai đoạn tố tụng trước đó được đảm bảo ở mức độ cao, thì việc
thi hành án sẽ thuận lợi, ngược lại nếu các giai đoạn tố tụng trước đó có vấn
đề, thì quá trình thi hành án dân sự sẽ gặp nhiều khó khăn.
1.1.3.3. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án,
người phải thi hành án và người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi
hành án
17
Như trên đã nêu, thi hành án luôn đụng chạm trực tiếp đến lợi ích về
vật chất của người phải thi hành án, nên quá trình thi hành án sẽ trực tiếp tác
động đến đời sống của người phải thi hành án và trong nhiều trường hợp còn
tác động cả đến cuộc sống bình thường của gia đình người phải thi hành án.
Do đó, trên thực tiễn có rất ít người phải thi hành án tự nguyện thi hành án.
Mặt khác, cũng có nhiều trường hợp, người phải thi hành án không thỏa mãn
với kết quả xét xử của Tòa án do quá trình xét xử không khách quan, hoặc có
sự không rõ ràng về pháp lý, nên người phải thi hành án tìm mọi cách để trì
hoãn, chống đối việc thi hành án. Chính vì vậy, thi hành án dân sự sẽ là một
cơ chế hữu hiệu để người được thi hành án thực hiện quyền của mình.
Tuy nhiên, thi hành án dân sự không chỉ bảo vệ riêng quyền lợi của
người được thi hành án, mà thi hành án dân sự còn bảo vệ cả quyền lợi của
người phải thi hành án, những người có quyền lợi liên quan đến việc thi hành
án. Thi hành án dân sự một mặt bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án,
quan thi hành án đã trực tiếp tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp
luật về thi hành án dân sự và pháp luật nói chung đến người được thi hành án,
người phải thi hành án. Mặt khác, do thi hành án là hoạt động mang tính chất
đặc thù, quá trình thi hành án dân sự có sự tham gia của rất nhiều cơ quan, tổ
chức có liên quan, nên họ có điều kiện tiếp xúc, nắm bắt các quy định của
pháp luật về thi hành án và các quy định có liên quan.
1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG
PHÁP GIÁM SÁT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.2.1. Khái niệm giám sát thi hành án dân sự
"Giám sát" theo thuật ngữ tiếng Anh là "supervise" (động từ), "supervision"
(danh từ) và thuật ngữ tiếng Pháp là "superviser" (động từ), "supervision"
(danh từ), có nghĩa là trông nom, kiểm tra, theo dõi các đối tượng, công việc,
hoạt động... với mục đích để cho các đối tượng, công việc, hoạt động đó được
thực hiện theo đúng các trình tự, qui định, qui tắc, đưa lại kết quả tốt hoặc ở
trong tình trạng được bảo đảm.
19
Theo Từ điển tiếng Việt năm 1995 của Viện Ngôn ngữ học, "giám sát"
được hiểu là theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng điều quy định không.
Theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1999 của Nhà xuất bản Văn hóa thông tin,
thì "giám" được hiểu là theo dõi để kiểm tra, đôn đốc: giám binh, giám định,
giám hộ, giám hiệu, giám khảo, giám sát, giám sát viên... Còn thuật ngữ
"giám sát" được hiểu là theo dõi, kiểm tra thực thi nhiệm vụ. Còn theo quy
định tại khoản 1 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, thì "giám sát"
là việc Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của
Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo dõi, xem xét,
đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc
ngay và các quyết định của Trọng tài Thương mại, cơ quan thi hành án, trực
tiếp là cá nhân chấp hành viên, thay mặt nhà nước, sử dụng quyền lực nhà
nước để tổ chức thi hành bản án, quyết định đó, cũng cần phải có sự giám sát
chặt chẽ để đảm bảo cho quyền lực đó được sử dụng một cách có hiệu quả nhất.
Từ các khái niệm thi hành án dân sự, khái niệm về giám sát nêu trên,
có thể hiểu giám sát thi hành án dân sự là sự theo dõi, quan sát, thường
xuyên, liên tục của các chủ thể giám sát thi hành án dân sự đối với các hoạt
động của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên, các công chức khác
của cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, cá nhân có liên quan đến
việc thi hành án dân sự. Nhằm tổ chức thi hành có hiệu quả nhất các bản án,
quyết định có hiệu lực thi hành của Tòa án và Trọng tài Thương mại.
1.2.2. Đặc trưng của giám sát thi hành án dân sự
1.2.2.1. Hoạt động giám sát thi hành án dân sự mang tính quyền
lực
Giám sát thi hành án dân sự với tính cách là phương thức thực thi
quyền lực nhà nước và đảm bảo thực thi quyền lực nhà nước trong lĩnh vực
thi hành án dân sự, giám sát thi hành án dân sự luôn gắn với quyền lực nhà
21
nước, do chủ thể của quyền lực nhà nước thực hiện nhằm theo dõi, kiểm tra
và sẵn sàng tác động đến các đối tượng giám sát thi hành án dân sự để buộc
các đối tượng giám sát thi hành án dân sự phải thực hiện đúng các quy định
của pháp luật về thi hành án dân sự, từ đó nâng cao kết quả, hiệu quả thi hành án
dân sự. Do đó, giám sát thi hành án dân sự nhằm đảm bảo cho các hoạt động
thi hành án dân sự được tiến hành trên thực tế phù hợp với các quy định của
pháp luật về thi hành án dân sự và các văn bản có liên quan. Trong quá trình
giám sát thi hành án dân sự, để tác động đến các đối tượng giám sát thi hành án
dân sự, các chủ thể giám sát thi hành án dân sự có quyền kiến nghị, đề nghị,
chức thi hành đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án và quyết định của
Trọng tài Thương mại, cơ quan thi hành án còn có quyền đòi hỏi, yêu cầu những
người có liên quan phải chấp hành các quyết định của chấp hành viên khi họ
có liên quan đến việc thi hành án. Trong những trường hợp như vậy, những
đối tượng này hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp tham gia vào quá trình thi
hành án và họ có nghĩa vụ phải chấp hành các yêu cầu của chấp hành viên và
các quy định của pháp luật có liên quan. Ví dụ, Tòa án nhân dân phải trả lời
các đề nghị của cơ quan thi hành án về việc giải thích bản án; cơ quan công an
phải bố trí lực lượng bảo vệ cưỡng chế thi hành án theo yêu cầu của chấp
hành viên...
Mặt khác, việc thi hành án dân sự có quan hệ và ảnh hưởng trực tiếp
đến các quyền của công dân, nên hoạt động thi hành án dân sự còn phải tuân
thủ nghiêm túc và chặt chẽ các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án dân
sự. Để đảm bảo các quy định của pháp luật được cơ quan thi hành án dân sự
nghiêm chỉnh chấp hành, pháp luật quy định các hoạt động của cơ quan thi
hành án được đặt dưới sự kiểm sát của của Viện kiểm sát nhân dân các cấp.
Tuy nhiên, với tư cách là cơ quan được phân công thực hiện quyền lực của
nhân dân, trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động của cơ
quan thi hành án dân sự, thì Viện kiểm sát cũng đã trực tiếp tác động đến quá
trình thi hành án và gây ảnh hưởng gián tiếp đến các quyền lợi hợp pháp của
23
công dân. Chính vì vậy, bản thân Viện kiểm sát cũng chính là đối tượng bị
giám sát đối với việc thực hiện các quy định của pháp luật về kiểm sát thi
hành án dân sự.
Như vậy, có thể thấy rằng, chủ thể giám sát thi hành án dân sự, đối
tượng giám sát thi hành án dân sự rất đa dạng và có sự đan xen, "chuyển hóa"
lẫn nhau, tùy thuộc vào từng mối quan hệ mà cơ quan, tổ chức, cá nhân có lúc
hành án dân sự phải chịu sự giám sát của các chủ thể có quyền giám sát đối
với hoạt động của các cơ quan hành pháp. Tuy nhiên, căn cứ để cơ quan thi
hành án tổ chức thi hành án dân sự lại là kết quả của quá trình tố tụng (bản án,
quyết định của Tòa án), những sản phẩm mang bản chất tư pháp. Đồng thời,
kết quả thi hành án dân sự lại hướng tới việc lập lại trật tự pháp luật, khôi
phục lại tình trạng các quan hệ xã hội đã bị xâm phạm trước đó, đảm bảo
công bằng xã hội, đó cũng chính là mục tiêu của tư pháp mà trung tâm là hoạt
động xét xử. Chính vì vậy, thi hành án dân sự cũng phải chịu sự giám sát của
các chủ thể có quyền giám sát đối với hoạt động tư pháp.
Hai là, căn cứ vào mức độ tác động của chủ thể giám sát thi hành án
dân sự đối với đối tượng giám sát thi hành án dân sự
Mức độ tác động của chủ thể giám sát thi hành án dân sự đến đối
tượng giám sát thi hành án dân sự đó chính là các quyền của chủ thể giám sát
thi hành án dân sự khi thực hiện việc theo dõi, kiểm tra, xử lý các hành vi vi
phạm của đối tượng giám sát thi hành án dân sự. Các quyền được thực hiện
trên cơ sở vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chủ thể giám sát thi hành án
dân sự trong bộ máy nhà nước, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật và
được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa chủ thể giám sát thi hành án dân sự
và đối tượng giám sát thi hành án dân sự. Do đó, chỉ có hoạt động của những
chủ thể nào có thể tác động trực tiếp đến hoạt động của đối tượng giám sát thi
hành án dân sự mới là là chủ thể cơ bản của giám sát thi hành án dân sự. Tùy
thuộc vào mức độ tác động, mối quan hệ giữa của chủ thể giám sát thi hành
25
án dân sự đối với đối tượng giám sát thi hành án dân sự và căn cứ vào các quy
định của pháp luật để chúng ta xác định đâu là chủ thể giám sát thi hành án
dân sự.
Ba là, căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ theo pháp luật của các chủ thể