1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân
chủ, tăng cường pháp chế là một nội dung quan trọng của sự nghiệp đổi mới
toàn diện đất nước ở Việt Nam hiện nay. Một trong các yêu cầu quan trọng của
nội dung này là xác định đúng vai trò, chức năng của Nhà nước trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xác định vai trò của Nhà
nước trong cung ứng dịch vụ công nhằm làm cho bộ máy nhà nước tinh gọn,
hiệu lực, hiệu quả; đảm bảo sự phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Trước yêu cầu trên, xã hội hóa dịch vụ công, trong đó có xã hội hóa
công chứng là một giải pháp quan trọng.
Cùng với chủ trương xã hội hóa các hoạt động luật sư, tư vấn, giám
định tư pháp, xã hội hóa công chứng là quan điểm, chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, thể hiện đặc biệt rõ nét ở Nghị quyết
số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 với nội dung:
Hoàn thiện thể chế công chứng. Xác định rõ phạm vi công
chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Xây
dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước
chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để
từng bước xã hội hóa công việc này [29].
Tuy nhiên, cũng như xã hội hóa dịch vụ công, xã hội hóa công chứng ở
nước ta hiện nay vẫn còn là vấn đề mới, chưa có tiền lệ, chưa được làm sáng tỏ
về lý luận cũng như thực tiễn; còn có sự khác nhau về nhận thức không chỉ trong
người dân, mà ngay cả trong đội ngũ công chức trong các cơ quan hành chính, cơ
2
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chứng, xã hội hóa công chứng.
5
- Đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động công chứng nhà nước và
phân tích các yêu cầu khách quan xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp xã hội hóa công chứng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng,
Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân; về cải cách hành chính, cải cách tư pháp.
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, trực tiếp sử dụng các phương pháp của triết học Mác - Lênin, như
phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp lịch sử cụ thể,
phân tích và tổng hợp, thống kê luật học, lý thuyết hệ thống...
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là chuyên khảo khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách
tương đối có hệ thống về xã hội hóa công chứng, đưa ra khái niệm xã hội hóa
công chứng, nguyên tắc phạm vi xã hội hóa công chứng, ý nghĩa của xã hội
hóa công chứng, các giải pháp cơ bản để đưa chủ trương xã hội hóa công
chứng của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống.
7. Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Luận văn đóng góp cho việc giải quyết các vấn đề lý luận về việc xã
hội hóa công chứng ở Việt Nam.
- Những vấn đề được làm sáng tỏ trong luận văn có thể đóng góp cho
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam theo hướng
xã hội hóa, thực hiện chủ trương xã hội hóa công chứng của Đảng và Nhà nước.
- Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy về công chứng, xã
hội hóa công chứng.
dấu sự đổi mới về tư duy pháp lý, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế ở
giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển đổi. Tuy nhiên, là văn bản pháp lý đầu tiên về
công chứng trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, do đó, văn bản này không
thể tránh được các hạn chế, đó là: chưa xác định được chủ thể, đối tượng của
hoạt động công chứng cũng như nội dung việc công chứng, chưa phân biệt rõ
hoạt động công chứng với hoạt động của các cơ quan nhà nước khác.
Quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã
làm tăng nhanh cả về số lượng và quy mô các giao lưu dân sự, kinh tế, thương
8
mại, đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động công chứng. Do đó, trong
vòng 10 năm (1991 - 2000), Chính phủ đã ban hành ba nghị định về tổ chức và
hoạt động công chứng nhà nước, đó là: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động công chứng nhà
nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 45/HĐBT); Nghị định số 31/CP ngày
18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây
gọi tắt là Nghị định số 31/CP) và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000
của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau đây gọi tắt là Nghị định số
75/2000/NĐ-CP).
Theo Nghị định số 45/HĐBT, công chứng nhà nước được xác định như
sau:
Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của
các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần
phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị
chứng cứ (Điều 1).
Cùng với việc xác định khái niệm công chứng như trên, Nghị định số
75/2000/NĐ-CP đã xác định khái niệm chứng thực "là việc Ủy ban nhân dân
cấp huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá
nhân trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy
định của Nghị định này" (khoản 2 Điều 2).
Điểm mới quan trọng nữa của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là đã
thay đổi tên gọi từ "Phòng công chứng nhà nước" ở các văn bản pháp lý trước
đó thành "Phòng công chứng". Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo
tiền đề để tiến tới chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa nghề
công chứng ở Việt Nam.
10
Tuy nhiên, khái niệm công chứng của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
còn có một số điểm chưa phù hợp, đó là:
Thứ nhất, mặc dù Nghị định đã có sự phân biệt hành vi công chứng và
hành vi chứng thực bằng hai khái niệm khác nhau, song xem xét tổng thể Nghị
định số 75/2000/NĐ-CP, có thể thấy, hoạt động công chứng và hoạt động
chứng thực vẫn được đồng nhất cả về chủ thể, đối tượng và ý nghĩa pháp lý.
Thứ hai, nếu Thông tư số 574/QLTPK cũng như Nghị định số 45/CP
và Nghị định số 31/CP chưa xác định chủ thể của hoạt động công chứng, thì
Nghị định số 75/2000/NĐ-CP lại xác định chủ thể của hoạt động công chứng
là Phòng công chứng - "Công chứng là việc Phòng công chứng chứng
nhận...". Thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy, dù được tổ chức như thế
nào, công chứng vẫn là hoạt động của công chứng viên, công chứng viên phải
chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi công chứng của mình. Quy định như trên
đã làm "mờ" đi vai trò của công chứng viên trong hoạt động công chứng.
Thứ ba, xem xét một cách hệ thống các văn bản pháp lý về công
chứng ở nước ta từ năm 1987 đến nay cho thấy, dù sử dụng thuật ngữ "Công
chế độ chứng chỉ hành nghề.
Có thể thấy rõ điều đó qua pháp luật thực định về công chứng của một
số nước.
Ở Cộng hòa Pháp (một điển hình của trường phái công chứng Latinh),
Điều 1 Pháp lệnh số 45-2500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ công chứng của Cộng
hòa Pháp quy định: "Công chứng viên là viên chức công, được bổ nhiệm để lập
các hợp đồng và văn bản mà theo đó, các bên phải hoặc muốn đem lại tính
xác thực giống như các văn bản của các cơ quan công quyền và để đảm bảo
ngày, tháng chắc chắn, lưu giữ và cấp các bản sao văn bản công chứng" [118,
tr. 8]. (Điều 1 Điều lệ công chứng được ban hành kèm theo Lệnh số 48/FR
13
ngày 29/8/1968 của Cộng hòa Bê-nanh cũng chép lại gần như nguyên văn
điều luật trên) [118, tr. 125].
Ở Vương quốc Anh (một trong các điển hình của trường phái công
chứng Anglo - Saxon), quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 quy định:
Công chứng viên là viên chức được bổ nhiệm để thực hiện
các hành vi công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập
chứng thư và các giấy tờ khác có liên quan đến việc: chuyển
nhượng hoặc xác lập giấy tờ khác có liên quan đến việc chuyển
nhượng bất động sản và tài sản cá nhân, giấy ủy quyền liên quan
đến bất động sản và tài sản cá nhân ở Anh, xứ Wales, các nước
khác thuộc khối cộng đồng Anh hoặc ở nước ngoài; chứng nhận
hoặc xác nhận các giấy tờ liên quan đến di chúc, lập kháng nghị
hàng
hải
năng, nhiệm vụ của công chứng viên trong pháp luật thực định của các nước
có những điểm khác nhau, nhưng quan niệm về công chứng đều có những
điểm cơ bản giống nhau:
- Chủ thể của hoạt động công chứng là công chứng viên.
- Công chứng là việc soạn thảo, chứng nhận (xác nhận, chứng thực) các
hợp đồng giao dịch.
- Ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là đảm bảo giá trị thực
hiện cho các hợp đồng giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng
cứ nếu có tranh chấp xảy ra (văn bản công chứng là một công chứng thư).
Qua các phân tích trên cho thấy, khởi nguồn, hoạt động công chứng là
hoạt động của xã hội, với vai trò làm chứng của quần chúng nhằm đảm bảo
tính công khai, minh bạch, khách quan của các khế ước, văn tự được lập, đề
phòng sự tranh chấp, lật lọng. Có thể nói, ở giai đoạn đầu của lịch sử công
chứng, công chứng chính là nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ
tham gia các hợp đồng, giao dịch chứ chưa phải nhu cầu của quản lý nhà
nước. Như vậy, công chứng là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc.
Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân sự, kinh tế,
thương mại; phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ quản lý nhà
nước, góp phần đảm bảo ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao lưu dân sự,
kinh tế, thương mại phát triển và hỗ trợ tư pháp thông qua việc cung cấp
15
chứng cứ cho hoạt động xét xử, công chứng là một nghề có tính chuyên môn
hóa, chuyên nghiệp hóa phục vụ cho lợi ích chung của xã hội, cộng đồng. Với
vai trò quan trọng như trên, công chứng đã trở thành đối tượng quản lý của
Nhà nước. Thậm chí, ở một số quốc gia, trong những điều kiện lịch sử nhất
định, công chứng còn trở thành một hoạt động thuộc chức năng xã hội của
quan trọng nhất để phân biệt hoạt động công chứng với các hoạt động mang tính
chất hành chính của các cơ quan công quyền. Hành vi lập hợp đồng, giấy tờ
theo yêu cầu của đương sự và chứng nhận các hợp đồng giấy tờ đó theo quy
định của pháp luật chính là hành vi tạo nên các văn bản công chứng. Hay nói
cách khác, các hợp đồng giấy tờ đã được công chứng gọi là các văn bản công
chứng.
Lập hợp đồng, giấy tờ theo yêu cầu của đương sự là việc công chứng
viên thông qua các tác nghiệp nghề nghiệp của mình, giúp khách hàng thể
hiện ý chí, nguyện vọng, thỏa thuận bằng văn bản, đảm bảo phù hợp với pháp
luật, không trái với đạo đức xã hội; hoặc kiểm tra, tư vấn, góp ý để khách
hàng thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của chính họ một cách rõ ràng, chính
xác trong các văn bản do họ tự lập.
Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quy trình thực hiện việc công
chứng. Công chứng viên, bằng sự tinh thông và kinh nghiệm nghề nghiệp,
với sự khách quan, vô tư phải đảm bảo xác định đúng chủ thể, đối tượng, nội
dung, tính chất của hợp đồng giao dịch, xác định các quan hệ pháp lý phát sinh
xung quanh một yêu cầu công chứng, hậu quả pháp lý có thể xảy ra. Ví dụ, khi
tiếp nhận một yêu cầu chứng nhận hợp đồng mua bán nhà ở, công chứng viên,
ngoài việc xác định các nội dung cơ bản của hợp đồng theo quy định của pháp
luật (tình trạng, chất lượng tài sản; vị trí ranh giới tài sản; giá cả, phương
thức thanh toán...); còn phải xác định các quan hệ pháp lý liên quan khác:
- Quan hệ sở hữu (sở hữu chung hay sở hữu riêng).
- Quan hệ thừa kế (tài sản có liên quan đến di sản thừa kế hay không?).
17
- Quan hệ giao dịch bảo đảm (tài sản có đảm bảo cho việc thực hiện
một nghĩa vụ nào hay không như: cầm cố, bảo lãnh, thế chấp...) v.v...
Đồng thời, cần phải giải thích rõ cho khách hàng biết, nếu có sự man
Đặc điểm thứ hai: Chủ thể của hoạt động công chứng là công chứng viên.
Công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm, chịu trách nhiệm tiếp nhận
hoặc lập các loại hợp đồng, giấy tờ theo yêu cầu của đương sự, bảo đảm tính
chính xác về ngày, tháng, năm, địa điểm lập văn bản, hợp đồng; ghi nhận một
cách khách quan, trung thực, chính xác ý chí, nguyện vọng, thỏa thuận của
các bên đương sự; đem lại cho các hợp đồng, giấy tờ đó giá trị như văn bản
của cơ quan công quyền (công chứng thư - Acte - authentique).
Ở hầu hết các quốc gia, công chứng viên là người hành nghề tự do
trong khuôn khổ luật định.
Đặc điểm thứ ba: Văn bản công chứng có giá trị thực hiện và giá trị
chứng cứ.
Văn bản công chứng là văn bản do công chứng viên lập theo trình tự,
thể thức bắt buộc, ghi lại một cách chính xác ngày, tháng, năm, địa điểm giao
kết và ý chí, nguyện vọng, giao kết của các bên khi tham gia hợp đồng giao
dịch. Văn bản công chứng là một công chứng thư.
Theo Bộ luật Dân sự Pháp, tại Điều 1319: "Văn bản công chứng đem
lại sự tin cậy đầy đủ cho hợp đồng"; Điều 1317: "Văn bản công chứng là văn
bản được công chứng viên lập để làm chứng, tại một địa điểm và theo những
thể thức bắt buộc" [111, tr. 56].
Theo Điều 76 Dụ số 43 (29-11-1954) về Quy chế ngạch chưởng khế
(của chính quyền Sài Gòn), chứng thư chưởng khế "có hiệu lực chấp hành
trên toàn cõi Việt Nam" [91, tr. 140].
Có thể thấy, văn bản công chứng được tạo lập trước hết không nhằm
tạo ra chứng cứ và càng không phải mục đích duy nhất làm chứng cứ. Văn
19
bản công chứng được tạo lập, trước hết đảm bảo giá trị thực hiện đối với các
bên giao kết (ràng buộc chặt chẽ quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự, là cơ
chứng thư. Công chứng Latinh là công chứng nội dung, văn bản công chứng
được lập theo trình theo tự, thủ tục chặt chẽ do luật định, công chứng viên
không chỉ chứng nhận, đảm bảo và chịu trách nhiệm về tính đích thực của hợp
đồng, giao dịch mà còn phải đảm bảo và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp,
không trái đạo đức xã hội của các hợp đồng, giao dịch đó, đảm bảo không
xâm hại lợi ích của người thứ ba hoặc của Nhà nước. Vì vậy, văn bản công
chứng có giá trị chấp hành riêng biệt. Khi được xuất trình trước tòa án với tư
cách là chứng cứ, thì tòa án, nói chung không cần phải đánh giá lại tính xác
thực của những điều đã được ghi trong văn bản đó và mặc nhiên xem nó là
chứng cứ. Vì lý do nào đó, để bác bỏ hiệu lực chứng cứ của một văn bản công
chứng, tòa án phải xem xét theo một trình tự tố tụng riêng về chính văn bản
công chứng đó (với tư cách là thưa kiện chính vụ), chứ không thể tùy tiện bác
bỏ giá trị văn bản công chứng trong một vụ kiện khác.
Ngoài ra, giá trị chứng cứ của văn bản công chứng ở hệ thống công
chứng Latinh còn được bảo đảm ở việc văn bản công chứng được bảo vệ an
toàn, lưu giữ lâu dài theo quy định của pháp luật, đồng thời được ghi vào sổ
danh mục công chứng theo đúng trình tự luật định. Đó chính là yếu tố đảm
bảo cho văn bản công chứng không thể bị thay đổi, sửa chữa, đánh tráo.
Đặc điểm thứ tư: Công chứng là hoạt động hỗ trợ đắc lực cho công
dân và các tổ chức khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại; hỗ
trợ tích cực cho hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động tư pháp nên thường
được xếp vào nhóm bổ trợ tư pháp (có thể nói đặc điểm này là hệ quả của các
đặc điểm trên).
Các nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn lịch sử cho thấy, Nhà nước
pháp quyền chỉ có thể tồn tại trong hiện thực trên nền tảng của một xã hội dân
chủ, ở đó hình thành và phát triển mạnh mẽ hệ thống các mối liên hệ đa dạng
theo chiều ngang của các cá nhân, các tổ chức và cộng đồng trên cơ sở tự
nguyện, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật. Trong đó, quan hệ cơ
22
1.1.3. Vai trò công chứng trong đời sống xã hội
Công chứng là hoạt động có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội,
thể hiện:
Thứ nhất: Công chứng là một biện pháp tích cực hỗ trợ cho công dân và
các tổ chức, để bảo đảm an toàn cho họ trong các quan hệ dân sự, kinh tế,
thương mại bằng cách tạo lập văn bản công chứng - một loại công chứng thư một loại chứng cứ không thể phản bác. Bằng sự tinh thông nghề nghiệp của công
chứng viên, với trình tự, thể thức chặt chẽ, nghiêm ngặt trong quá trình lập văn
bản công chứng, công chứng đảm bảo sự bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí,
khách quan của các bên giao kết hợp đồng, tránh bị lừa dối, đe dọa, nài ép, tránh
sự nhầm lẫn về chủ thể, đối tượng và nội dung của các hợp đồng giao dịch.
Không chỉ hỗ trợ cho công dân, tổ chức trong các quan hệ dân sự, kinh
tế, thương mại, công chứng còn là một biện pháp phòng ngừa có hiệu quả và
quan trọng ở cả hai khía cạnh: tạo cho công dân ý thức thận trọng, có trách
nhiệm hơn trong việc thể hiện ý chí của mình phù hợp với pháp luật, với đạo
đức xã hội khi tham gia các quan hệ giao dịch; đồng thời nếu có xảy ra tranh
chấp trong các quan hệ pháp lý đó, thì đã có cơ sở pháp lý chắc chắn để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngoài các vai trò truyền thống nói trên, trong điều kiện kinh tế thị trường
và Nhà nước pháp quyền, quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự do định đoạt
được khẳng định và đảm bảo thực hiện, vai trò công chứng ngày càng được khẳng
định. Trong điều kiện này, công chứng còn là một trong các thiết chế bảo đảm
quyền dân chủ. Có thể nói, hoàn thiện thể chế công chứng theo hướng xã hội hóa
không chỉ là nhu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, mà còn là nhu
cầu của bản thân quá trình dân chủ hóa xã hội, thúc đẩy quyền con người. Hoạt
động công chứng góp phần đảm bảo trật tự, ổn định xã hội, làm lành mạnh hóa
đời sống dân sự, tạo điều kiện để công dân thực hiện tốt hơn quyền tự do kinh
là những hoạt động phục vụ cho các lợi ích thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân và các tổ chức mà Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo.
24
Nhà nước có hai chức năng cơ bản: Chức năng quản lý nhà nước đối
với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và chức năng phục vụ cho các
tổ chức, công dân trong xã hội (chức năng xã hội).
Chức năng quản lý nhà nước bao gồm các hoạt động quản lý và điều
tiết đời sống kinh tế - xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như pháp
luật, chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và kiểm tra, kiểm soát. Chức
năng phục vụ bao gồm các hoạt động nhằm phục vụ cho các lợi ích thiết yếu,
các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tổ chức (cung ứng dịch vụ
công). Việc thực hiện quản lý nhà nước là theo nhu cầu của bản thân bộ máy
nhà nước nhằm đảm bảo trật tự, ổn định, công bằng xã hội; còn việc cung ứng
dịch vụ công lại do nhu cầu cụ thể của các tổ chức công dân, ngay cả khi các
nhu cầu này có thể phát sinh từ những yêu cầu của Nhà nước. Tuy nhiên, hai
chức năng này luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Theo Ph. Ăng-ghen, "ở khắp nơi,
chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị
cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó" [55,
tr. 253].
Thực tế cho thấy, trên ý nghĩa nhất định, mức độ, hiệu quả thực hiện
dịch vụ công quy định mức độ, hiệu quả thực hiện chức năng chính trị của
giai cấp. Vì vậy, mọi Nhà nước đều dành sự chú ý đặc biệt cho việc cải tiến cung
ứng dịch vụ công nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công, đáp ứng nhu cầu của
mọi tầng lớp nhân dân, đảm bảo sự ổn định chung của xã hội - đó chính là cơ sở
để duy trì một Nhà nước vững mạnh. Trong quá trình chuyển từ Nhà nước cai trị
sang Nhà nước phục vụ, khả năng cung cấp, đảm bảo dịch vụ công được coi là
một trong các tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực của chính phủ. Một chính