Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ MAI TRANG XÃ HỘI HÓA CÔNG CHỨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY,
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 603801
luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc
Hµ néi - 2011 2

MC LC

Trang

LI CAM OAN
1

MC LC
2

DANH MC CC BNG
3

M U
4

Ch-ơng 1: cơ sở lý luận về công chứng và
xã hội hóa công chứng
10
1.1
Khỏi nim, c im v vai trũ cụng chng
10
DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1: Về nhân sự và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động
công chứng

117
B¶ng 2: VÒ c¸c viÖc c«ng chøng ®· thùc hiÖn
123

công chứng. 5
Cùng với chủ trương xã hội hóa các hoạt động luật sư, tư vấn, giám định
tư pháp, xã hội hóa công chứng là quan điểm, chủ trương lớn của Đảng và Nhà
nước ta trong giai đoạn hiện nay, thể hiện đặc biệt rõ nét ở Nghị quyết số 49/NQ-
TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 với nội dung:
Hoàn thiện chế định công chứng. Xác định rõ phạm vi của
công chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng.
Xây dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà
nước chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để
từng bước xã hội hóa công việc này [39].
Tuy nhiên, cũng như xã hội hóa dịch vụ công, xã hội hóa công chứng ở
nước ta hiện nay vẫn còn là vấn đề mới, chưa có tiền lệ, thực tiễn thì còn rất mới; còn
có sự khác nhau về nhận thức không chỉ trong người dân, mà ngay cả trong đội ngũ
công chức trong các cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp, các chuyên gia, các nhà
quản lý và các nhà nghiên cứu khoa học pháp lý.
Vì vậy, để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa
công chứng, kịp thời đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp
quyền và hội nhập quốc tế, cần nghiên cứu một cách nghiêm túc, khách quan,
toàn diện, có hệ thống cả về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn nhằm tạo cơ sở khoa học
tin cậy cho toàn bộ quá trình xã hội hóa công chứng ở Việt Nam. Tư tưởng xã hội
hoá hoạt động công chứng là một trong những nét nổi bật của Luật Công chứng
số 82/2006/QH 11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/7/2007. Qua hơn ba năm thực hiện Luật Công chứng, hoạt động
công chứng đã đạt được những kết quả tích cực, phát triển theo hướng chuyên
nghiệp hoá, theo hướng xã hội hoá. Tuy nhiên bên cạnh đó trong quá trình triển

Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp là đề
tài nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện lý luận về xã hội hóa công chứng
và thực tiễn qua hơn ba năm thực hiện Luật Công chứng để đề xuất những kiến
nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành Luật Công chứng nhằm góp phần
làm cơ sở khoa học cho quá trình xã hội hóa công chứng ở Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Xã hội hóa công chứng là một lĩnh vực có phạm vi nghiên cứu tương đối
rộng, song dưới góc độ lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật, luận văn chủ
yếu tập trung nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về xã hội hóa công chứng
gắn liền với quá trình cải cách hành chính, cải cách tư pháp; đánh giá thực trạng
hoạt động công chứng từ năm 2001 đến nay (tính từ thời điểm Nghị định số
75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực có
hiệu lực thi hành và sau đó là đến thời điểm Luật Công chứng số 82/2006/QH 11
được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2007 và qua ba năm thực hiện Luật Công chứng); yêu cầu khách quan xã
hội hóa công chứng đã và đang diễn ra; đề ra các quan điểm giải pháp cơ bản để
nâng cao hiệu quả xã hội hóa công chứng ở Việt Nam với lộ trình từ nay đến
năm 2020.
4. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
4.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về xã hội hóa công chứng, đề xuất và phân tích các quan điểm, giải pháp
xã hội hóa công chứng ở Việt Nam trong thời gian tới, góp phần thực hiện mục tiêu
cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước nói chung, mục tiêu cải cách tư pháp
nói riêng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân
dân, do nhân dân, vì nhân dân. 8
4.2. Nhiệm vụ của luận văn

việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam theo hướng xã
hội hóa, thực hiện chủ trương xã hội hóa công chứng của Đảng và Nhà nước.
8. Kết cấu luận văn
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết. 10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG VÀ XÃ HỘI HÓA
CÔNG CHỨNG

1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CÔNG CHỨNG
1.1.1. Khái niệm công chứng
Khái niệm công chứng là một vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa quyết
định đối với toàn bộ các vấn đề khác liên quan đến công chứng, đặc biệt là việc
xây dựng thể chế, xác định mô hình tổ chức đảm bảo phát huy vai trò công
chứng và hiệu quả công chứng trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, cho đến nay về mặt lý luận, khái niệm công
chứng chưa được làm rõ, quan niệm về công chứng mới chỉ được thể hiện thông
qua các văn bản pháp lý về công chứng.
Hệ thống công chứng nhà nước của Việt Nam được hình thành trên cơ sở
Thông tư số 574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp về công tác công chứng
nhà nước và Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987 của Bộ Tư pháp về hướng
dẫn thực hiện các việc công chứng; Quyết định số 90/HĐBT ngày 19/7/1989 của
Hội đồng Bộ trưởng về con dấu của phòng công chứng nhà nước. Tính đến thời
điểm 27/2/1991 - thời điểm ban hành Nghị định số 45/HĐBT của Hội đồng Bộ
trưởng về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, trên cả nước đã thí điểm thành
lập 29 phòng công chứng nhà nước ở 29 tỉnh, thành phố. Trước khi có các phòng
công chứng, mọi việc có tính chất công chứng đều do Ủy ban nhân dân thực hiện

12
một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên) ý thức dân chủ chưa cao, tập quán
pháp lý chậm được hình thành.
- Trên cơ sở chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, không thừa
nhận các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, không thừa nhận quan hệ tiền -
hàng; Nhà nước duy trì quá lâu cơ chế kế hoạch hóa tập trung với nền kinh tế
hiện vật, Nhà nước can thiệp vào các quá trình xã hội bằng biện pháp hành
chính; "nhà nước hóa" hầu hết các lĩnh vực hoạt động xã hội. Trong điều kiện
trên, xã hội chủ yếu tồn tại các quan hệ hành chính, hình sự. Các quan hệ dân sự,
kinh tế, thương mại hầu như chậm phát triển.
- Trình độ dân trí, ý thức pháp luật của người dân thấp, không có thói
quen sử dụng pháp luật như một công cụ hợp pháp để bảo vệ mình.
- Nhà nước chưa chú trọng đào tạo cán bộ pháp lý.
Với các nguyên nhân cơ bản trên, một mặt không đặt ra nhu cầu của xã
hội về thể chế, thiết chế công chứng, mặt khác, tạo cho người dân tâm lý ỷ lại,
trông chờ, phụ thuộc vào Nhà nước; chưa nhận thức hết được các quyền, nghĩa
vụ của mình; do đó, chưa phát huy được tính chủ động, năng động, sáng tạo để
vươn lên làm chủ thực sự cuộc sống của mình.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xóa bỏ triệt
để cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường với việc
thừa nhận sự tồn tại của đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế, đặc biệt là
việc thừa nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế tư nhân đã khơi dậy mọi tiềm
năng của xã hội. Kinh tế xã hội đã có nhiều biến đổi sâu sắc, các nhu cầu, lợi ích
hợp pháp của cá nhân, của xã hội được tôn trọng. Trong điều kiện đó, các giao
lưu dân sự, kinh tế, thương mại ngày càng trở nên sống động và phát triển mạnh
mẽ, đặt ra nhu cầu về một thiết chế công chứng phù hợp với trình độ phát triển 13
kinh tế - xã hội, đảm bảo sự an toàn pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch

hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng
cứ, trừ trường hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu (Điều 1).
So với Thông tư số 574/QLTPK, khái niệm công chứng ở hai Nghị định
này đã được xác định cụ thể, rõ ràng hơn. Và nếu so sánh Nghị định số
45/HĐBT với Nghị định số 31/CP thì Nghị định số 31/CP đã bước đầu có sự
phân biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực. Tuy nhiên, ý nghĩa pháp lý
của hành vi công chứng và hành vi chứng thực chưa được phân biệt. Quy định
"chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ" ở cả hai Nghị định này còn
quá chung chung, khó hiểu, dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quả khác nhau trong
thực tiễn hoạt động công chứng.
Chỉ đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, khái niệm công chứng mới được
tách bạch khỏi khái niệm chứng thực. Khái niệm công chứng ở Nghị định này đã
được xác định khoa học hơn, tiệm cận gần hơn với quan niệm chung của thế giới
về công chứng. Theo Nghị định này, "công chứng là việc phòng công chứng
chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được
xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác (sau
đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của
Nghị định này" (khoản 1 Điều 2).
Cùng với việc xác định khái niệm công chứng như trên, Nghị định số
75/2000/NĐ-CP đã xác định khái niệm chứng thực "là việc Ủy ban nhân dân cấp
huyện, cấp xã xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân 15
trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giao dịch của họ theo quy định của
Nghị định này" (khoản 2 Điều 2).
Điểm mới quan trọng nữa của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP là đã thay
đổi tên gọi từ "Phòng công chứng nhà nước" ở các văn bản pháp lý trước đó
thành "Phòng công chứng". Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề
để tiến tới chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa nghề công chứng ở

chứng viên về công chứng (công chứng là một cơ quan hành chính, cũng có ý kiến
cho là cơ quan hành chính - tư pháp, hoạt động công chứng là hoạt động quản lý
nhà nước; công chứng là một tổ chức nghề nghiệp, hoạt động công chứng là hoạt
động nghề nghiệp, hỗ trợ công dân, hỗ trợ quản lý nhà nước và hỗ trợ tư pháp, do
đó, công chứng là một thiết chế bổ trợ tư pháp cũng giống như luật sư).
Và hiện nay, tổ chức và hoạt động công chứng ở Việt Nam đang chịu sự
điều chỉnh trực tiếp của Luật Công chứng số 82/2006/QH 11 được Quốc hội
thông qua ngày 29/11/2006 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007. Luật Công
chứng đã quy định tại Điều 2 như sau: Công chứng là việc công chứng viên
chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác ( sau đây
gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải
công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Tại Điều 6
Luật Công chứng quy định rõ: Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với
các bên liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ
của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Toà án giải quyết theo quy định của pháp
luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thoả thuận khác;
Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong văn bản 17
công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Toà án tuyên bố là vô
hiệu. Về cơ bản định nghĩa công chứng vẫn không thay đổi so với các Nghị định
trên tuy nhiên công chứng ở đây đã có sự thay đổi rất lớn so với các Nghị định
trước, đó là ở Luật Công chứng đã xuất hiện khái niệm tổ chức hành nghề công
chứng bao gồm 2 hình thức tổ chức hành nghề công chứng là Phòng công chứng
và Văn phòng công chứng (Điều 23 Luật Công chứng). Như vậy là Nhà nước đã
chính thức chấp nhận xã hội hoá công chứng, cho phép tồn tại song song cả hai
loại hình: công chứng nhà nước và công chứng tư nhân. Đây là một bước tiến
hoàn toàn mới về cả nhận thức và quá trình thực hiện hoạt động công chứng:
trước đây quan niệm công chứng là một cơ quan hành chính, hoạt động công

pháp luật xã hội chủ nghĩa (Sovietique).
So sánh các hệ thống công chứng cho thấy, mặc dù giữa hệ thống công
chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo - Saxon có sự khác biệt nhau về
cách thức tổ chức, hoạt động, trình tự, thủ tục công chứng, song quan niệm về
công chứng ở hai hệ thống này về cơ bản tương đồng. Cả hai hệ thống này đều coi
công chứng là một nghề tự do, công chứng viên hoạt động độc lập, tự chịu trách
nhiệm cá nhân về hoạt động của mình. Tuy nhiên, đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi
công chứng viên phải có trình độ chuyên môn (luật) và kỹ năng nghiệp vụ được
Nhà nước công nhận để có thể đảm bảo tính xác thực cho các hợp đồng vốn rất
phức tạp, đa dạng, công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm hoặc công nhận theo
các điều kiện, tiêu chuẩn do luật định và hoạt động theo chế độ chứng chỉ hành
nghề. 19
Có thể thấy rõ điều đó qua pháp luật thực định về công chứng của một số
nước.
Ở Cộng hòa Pháp (một điển hình của trường phái công chứng Latinh),
Điều 1 Pháp lệnh số 45-2500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ công chứng của Cộng
hòa Pháp quy định: "Công chứng viên là viên chức công, được bổ nhiệm để lập các
hợp đồng và văn bản mà theo đó, các bên phải hoặc muốn đem lại tính xác thực
giống như các văn bản của các cơ quan công quyền và để đảm bảo ngày, tháng
chắc chắn, lưu giữ và cấp các bản sao văn bản công chứng" [106, tr. 8]. (Điều 1
Điều lệ công chứng được ban hành kèm theo Lệnh số 48/FR ngày 29/8/1968 của
Cộng hòa Bê-nanh cũng chép lại gần như nguyên văn điều luật trên) [109, tr.
125].
Ở Vương quốc Anh (một trong các điển hình của trường phái công chứng
Anglo - Saxon), quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 quy định:
Công chứng viên là viên chức được bổ nhiệm để thực hiện các
hành vi công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập chứng

bản giống nhau:
- Chủ thể của hoạt động công chứng là công chứng viên.
- Công chứng là việc soạn thảo, chứng nhận (xác nhận, chứng thực) các hợp
đồng giao dịch. 21
- Ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là đảm bảo giá trị thực hiện
cho các hợp đồng giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu có
tranh chấp xảy ra (văn bản công chứng là một công chứng thư).
Qua các phân tích trên cho thấy, khởi nguồn, hoạt động công chứng là
hoạt động của xã hội, với vai trò làm chứng của quần chúng nhằm đảm bảo tính
công khai, minh bạch, khách quan của các khế ước, văn tự được lập, đề phòng sự
tranh chấp, lật lọng. Có thể nói, ở giai đoạn đầu của lịch sử công chứng, công
chứng chính là nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ tham gia các
hợp đồng, giao dịch chứ chưa phải nhu cầu của quản lý nhà nước. Như vậy, công
chứng là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc.
Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân sự, kinh tế,
thương mại; phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ quản lý nhà
nước, góp phần đảm bảo ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao lưu dân sự,
kinh tế, thương mại phát triển và hỗ trợ tư pháp thông qua việc cung cấp chứng
cứ cho hoạt động xét xử, công chứng là một nghề có tính chuyên môn hóa,
chuyên nghiệp hóa phục vụ cho lợi ích chung của xã hội, cộng đồng. Với vai trò
quan trọng như trên, công chứng đã trở thành đối tượng quản lý của Nhà nước.
Thậm chí, ở một số quốc gia, trong những điều kiện lịch sử nhất định, công
chứng còn trở thành một hoạt động thuộc chức năng xã hội của Nhà nước (chức
năng cung ứng dịch vụ công).
Như vậy, bản chất công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công
(Service public). Với sự tinh thông nghề nghiệp, bằng việc tư vấn, soạn thảo,

hiện ý chí, nguyện vọng, thỏa thuận bằng văn bản, đảm bảo phù hợp với pháp 23
luật, không trái với đạo đức xã hội; hoặc kiểm tra, tư vấn, góp ý để khách hàng
thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của chính họ một cách rõ ràng, chính xác
trong các văn bản do họ tự lập.
Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quy trình thực hiện việc công
chứng. Công chứng viên, bằng sự tinh thông và kinh nghiệm nghề nghiệp, với
sự khách quan, vô tư phải đảm bảo xác định đúng chủ thể, đối tượng, nội dung,
tính chất của hợp đồng giao dịch, xác định các quan hệ pháp lý phát sinh xung
quanh một yêu cầu công chứng, hậu quả pháp lý có thể xảy ra. Ví dụ, khi tiếp nhận
một yêu cầu chứng nhận hợp đồng mua bán nhà ở, công chứng viên, ngoài việc xác
định các nội dung cơ bản của hợp đồng theo quy định của pháp luật (tình trạng,
chất lượng tài sản, vị trí ranh giới tài sản, giá cả, phương thức thanh toán );
còn phải xác định các quan hệ pháp lý liên quan khác:
- Quan hệ sở hữu (sở hữu chung hay sở hữu riêng).
- Quan hệ thừa kế (tài sản có liên quan đến di sản thừa kế hay không?).
- Quan hệ giao dịch bảo đảm (tài sản có đảm bảo cho việc thực hiện một
nghĩa vụ nào hay không như: cầm cố, bảo lãnh, thế chấp )
Đồng thời, cần phải giải thích rõ cho khách hàng biết, nếu có sự man trá,
không trung thực trong quá trình giao kết hợp đồng, sẽ phải chịu những hậu quả
pháp lý gì khi tranh chấp xảy ra.
Chứng nhận các hợp đồng, giao dịch theo quy định của pháp luật là việc
công chứng viên, trên cơ sở các hợp đồng, giấy tờ đã được lập, công nhận tính
đúng đắn, chính xác, có thực, hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch bằng việc
ghi lời chứng theo thể thức và nội dung do pháp luật quy định và ký tên vào văn
bản đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status