LUẬN VĂN: Xã hội hóa công chứng ở
Việt Nam hiện nay
Vì vậy, để thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa công chứng,
kịp thời đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách hành
chính, cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, cần khẩn
trương nghiên cứu một cách nghiêm túc, khách quan, toàn diện, có hệ thống cả về cơ sở lý
luận, cơ sở thực tiễn nhằm tạo cơ sở khoa học tin cậy cho toàn bộ quá trình xã hội hóa công
chứng ở Việt Nam.
Với lý do trên, tác giả chọn đề tài "Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay"
cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xã hội hóa công chứng là vấn đề mới ở Việt Nam, chưa có tiền lệ, chưa được thể
chế hóa.
Về góc độ lý luận, cho đến nay vấn đề xã hội hóa công chứng chưa được nghiên cứu
một cách hệ thống, toàn diện, đầy đủ; chưa có một đề tài nào trực tiếp đi sâu nghiên cứu cơ sở
lý luận về xã hội hóa công chứng. Trong một số luận án, luận văn, bài viết về công chứng, xã
hội hóa công chứng mới chỉ được đề cập đến như là một trong các giải pháp hoàn thiện pháp
luật công chứng hoặc đổi mới tổ chức hoạt động công chứng ở Việt Nam hiện nay. Ví dụ:
Luận án tiến sĩ Luật học: "Tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay"
của tác giả Dương Khánh, 2002; Luận văn thạc sĩ Luật học: "Hoàn thiện pháp luật về công
chứng ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Lê Kim Hoa, 2003; bài "Một số ý kiến về đổi mới tổ
chức và hoạt động của cơ quan công chứng" của tác giả Lê Khả đăng trên báo Pháp luật, ngày
18/2/2003; "Công chứng, chứng thực trong điều kiện cải cách hành chính và cải cách tư
pháp" của tác giả Trần Thất, đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6/2004; "Công chứng,
chứng thực ở Việt Nam - Thực trạng và định hướng phát triển" của tác giả Phạm Văn Lợi,
đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7/2002.
Một số luận văn, bài viết về xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp, trong đó,
hoạt động công chứng được đề cập đến như một trong các hoạt động bổ trợ tư pháp cần
thiết phải xã hội hóa. Ví dụ: Luận văn thạc sĩ Luật học: "Xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư
pháp" của tác giả Trần Thị Quang Hồng, 2000; bài "Khái niệm, định hướng xã hội hóa tổ
đến nay (tính từ thời điểm Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ
về công chứng, chứng thực có hiệu lực thi hành); yêu cầu khách quan xã hội hóa công
chứng; đề ra các quan điểm giải pháp cơ bản để xã hội hóa công chứng ở Việt Nam với lộ
trình từ nay đến năm 2020.
4. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
4.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
về xã hội hóa công chứng, đề xuất và phân tích các quan điểm, giải pháp xã hội hóa công
chứng ở Việt Nam trong thời gian tới, góp phần thực hiện mục tiêu cải cách tổ chức và hoạt
động của nhà nước nói chung, mục tiêu cải cách tư pháp nói riêng trong tiến trình xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
4.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chứng, xã hội hóa công chứng.
- Đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động công chứng nhà nước và phân tích các
yêu cầu khách quan xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp xã hội hóa công chứng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; về cải
cách hành chính, cải cách tư pháp.
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, trực tiếp sử
dụng các phương pháp của triết học Mác - Lênin, như phương pháp kết hợp giữa lý luận và
thực tiễn, phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích và tổng hợp, thống kê luật học, lý thuyết
hệ thống
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là chuyên khảo khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hệ
thống về xã hội hóa công chứng, đưa ra khái niệm xã hội hóa công chứng, nguyên tắc
bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện. Lần đầu tiên kể từ khi
thành lập nước (2/9/1945), khái niệm công chứng nhà nước được đưa ra ở Việt Nam, đánh
dấu sự đổi mới về tư duy pháp lý, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế ở giai đoạn
đầu của thời kỳ chuyển đổi. Tuy nhiên, là văn bản pháp lý đầu tiên về công chứng trong giai
đoạn đầu của thời kỳ đổi mới, do đó, văn bản này không thể tránh được các hạn chế, đó là:
chưa xác định được chủ thể, đối tượng của hoạt động công chứng cũng như nội dung việc
công chứng, chưa phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động của các cơ quan nhà
nước khác.
Quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm tăng
nhanh cả về số lượng và quy mô các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại, đặt ra yêu cầu ngày
càng cao đối với hoạt động công chứng. Do đó, trong vòng 10 năm (1991 - 2000), Chính phủ
đã ban hành ba nghị định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước, đó là: Nghị định số
45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động
công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 45/HĐBT); Nghị định số 31/CP ngày
18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là
Nghị định số 31/CP) và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công
chứng, chứng thực (sau đây gọi tắt là Nghị định số 75/2000/NĐ-CP).
Theo Nghị định số 45/HĐBT, công chứng nhà nước được xác định như sau:
Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp
đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau
đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ (Điều
1).
Đến Nghị định số 31/CP, công chứng nhà nước được xác định:
Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy
tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công
dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là
điểm chưa phù hợp, đó là:
Thứ nhất, mặc dù Nghị định đã có sự phân biệt hành vi công chứng và hành vi
chứng thực bằng hai khái niệm khác nhau, song xem xét tổng thể Nghị định số 75/2000/NĐ-
CP, có thể thấy, hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực vẫn được đồng nhất cả về
chủ thể, đối tượng và ý nghĩa pháp lý.
Thứ hai, nếu Thông tư số 574/QLTPK cũng như Nghị định số 45/CP và Nghị định
số 31/CP chưa xác định chủ thể của hoạt động công chứng, thì Nghị định số 75/2000/NĐ-
CP lại xác định chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công chứng - "Công chứng là
việc Phòng công chứng chứng nhận ". Thực tiễn hoạt động công chứng cho thấy, dù được
tổ chức như thế nào, công chứng vẫn là hoạt động của công chứng viên, công chứng viên
phải chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi công chứng của mình. Quy định như trên đã làm
"mờ" đi vai trò của công chứng viên trong hoạt động công chứng.
Thứ ba, xem xét một cách hệ thống các văn bản pháp lý về công chứng ở nước ta
từ năm 1987 đến nay cho thấy, dù sử dụng thuật ngữ "Công chứng nhà nước" hay "Công
chứng" thì quan niệm về công chứng của Việt Nam vẫn không thay đổi, đó là: công chứng
là hoạt động của Nhà nước, do Nhà nước trực tiếp thực hiện. Với quan niệm này, công
chứng Việt Nam được tổ chức theo mô hình công chứng nhà nước (phòng công chứng là
cơ quan nhà nước, công chứng viên là công chức nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà
nước, Nhà nước đảm bảo toàn bộ cơ sở vật chất cho hoạt động công chứng). Đây là mô hình
công chứng mang tính đặc thù của Liên Xô (cũ) và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây trong điều kiện kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp.
Những điểm chưa phù hợp trên đã dẫn đến các cách hiểu khác nhau (thậm chí trái
ngược nhau) không chỉ của xã hội mà cả các nhà quản lý và đội ngũ công chứng viên về công
chứng (công chứng là một cơ quan hành chính, cũng có ý kiến cho là cơ quan hành chính - tư
pháp, hoạt động công chứng là hoạt động quản lý nhà nước; công chứng là một tổ chức nghề
nghiệp, hoạt động công chứng là hoạt động nghề nghiệp, hỗ trợ công dân, hỗ trợ quản lý nhà
nước và hỗ trợ tư pháp, do đó, công chứng là một thiết chế bổ trợ tư pháp cũng giống như luật
sư).
Sự thiếu thống nhất trong nhận thức về công chứng như trên đã gây ảnh hưởng
điều kiện, tiêu chuẩn do luật định và hoạt động theo chế độ chứng chỉ hành nghề.
Có thể thấy rõ điều đó qua pháp luật thực định về công chứng của một số nước.
ở Cộng hòa Pháp (một điển hình của trường phái công chứng Latinh), Điều 1 Pháp
lệnh số 45-2500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ công chứng của Cộng hòa Pháp quy định: "Công
chứng viên là viên chức công, được bổ nhiệm để lập các hợp đồng và văn bản mà theo đó,
các bên phải hoặc muốn đem lại tính xác thực giống như các văn bản của các cơ quan công
quyền và để đảm bảo ngày, tháng chắc chắn, lưu giữ và cấp các bản sao văn bản công
chứng" [118, tr. 8]. (Điều 1 Điều lệ công chứng được ban hành kèm theo Lệnh số 48/FR
ngày 29/8/1968 của Cộng hòa Bê-nanh cũng chép lại gần như nguyên văn điều luật trên)
[118, tr. 125].
ở Vương quốc Anh (một trong các điển hình của trường phái công chứng Anglo -
Saxon), quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 quy định:
Công chứng viên là viên chức được bổ nhiệm để thực hiện các hành vi
công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập chứng thư và các giấy tờ
khác có liên quan đến việc: chuyển nhượng hoặc xác lập giấy tờ khác có liên
quan đến việc chuyển nhượng bất động sản và tài sản cá nhân, giấy ủy quyền
liên quan đến bất động sản và tài sản cá nhân ở Anh, xứ Wales, các nước khác
thuộc khối cộng đồng Anh hoặc ở nước ngoài; chứng nhận hoặc xác nhận các
giấy tờ liên quan đến di chúc, lập kháng nghị hàng hải về sự cố
xảy ra đối với tàu và hàng hóa trên tàu trong thời gian tàu đi trên biển [111, tr.
90].
Hệ thống công chứng Collectiviste lại có quan niệm về công chứng khác với hệ
thống công chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo - Saxon. ở hệ thống công chứng
Collectiviste, công chứng chưa được coi là một nghề (công chứng viên là công chức nhà
nước, kiêm nhiệm cả việc chứng thực (thị thực hành chính); việc công chứng được giao cho
cả các chủ thể không phải là công chứng viên đảm nhiệm; công chứng viên không có chứng
chỉ hành nghề, không phải chịu trách nhiệm dân sự trước khách hàng, chỉ phải chịu trách
nhiệm hành chính trước Nhà nước về những sai phạm trong hoạt động của mình).
Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống công chứng Collectiviste, hầu hết các nước đã
Thậm chí, ở một số quốc gia, trong những điều kiện lịch sử nhất định, công chứng còn trở
thành một hoạt động thuộc chức năng xã hội của Nhà nước (chức năng cung ứng dịch vụ
công).
Như vậy, bản chất công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công (Service
public). Với sự tinh thông nghề nghiệp, bằng việc tư vấn, soạn thảo, chứng nhận các hợp
đồng, giấy tờ, công chứng viên đã cung cấp dịch vụ bảo đảm an toàn pháp lý cho công dân
và các tổ chức khi tham gia giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại.
Khẳng định bản chất công chứng như trên, cho phép chúng ta thấy rõ: Công chứng
là một hoạt động xã hội - nghề nghiệp, không mang đặc trưng quyền lực nhà nước. Về mặt tổ
chức, công chứng cần được xác định là một tổ chức nghề nghiệp chứ không phải là cơ quan
hành chính hay cơ quan hành chính - tư pháp.
Như vậy, để đảm bảo sự phù hợp, hài hòa, tương thích với quan niệm của thế giới
về công chứng, tạo tiền đề cho sự phát triển công chứng và nâng cao hiệu quả công chứng,
phát huy vai trò công chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiện nay, công chứng nên được hiểu như sau: Công chứng là hành vi của công
chứng viên lập, chứng nhận tính xác thực của các giao dịch nhằm đảm bảo an toàn pháp lý
cho các chủ thể tham gia giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật. Văn bản
công chứng có giá trị thực hiện và giá trị chứng cứ.
1.1.2. Đặc điểm công chứng
Từ khái niệm trên, có thể thấy hoạt động công chứng có các đặc điểm cơ bản:
Đặc điểm thứ nhất: Nội dung cơ bản của hoạt động công chứng là lập hợp đồng,
giấy tờ theo yêu cầu của đương sự và chứng nhận các hợp đồng giấy tờ theo quy định của
pháp luật.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của hoạt động công chứng, là căn cứ quan trọng nhất
để phân biệt hoạt động công chứng với các hoạt động mang tính chất hành chính của các cơ
quan công quyền. Hành vi lập hợp đồng, giấy tờ theo yêu cầu của đương sự và chứng nhận
các hợp đồng giấy tờ đó theo quy định của pháp luật chính là hành vi tạo nên các văn bản
công chứng. Hay nói cách khác, các hợp đồng giấy tờ đã được công chứng gọi là các văn bản
công chứng.
chứng thư (văn bản có tính chất như hai bên tự lập, không theo thể thức bắt buộc, không có
chứng nhận của công chứng viên).
Ngoài ra, sau khi lập, chứng nhận các hợp đồng giấy tờ như đã phân tích ở trên,
công chứng viên còn phải cấp văn bản cho khách hàng và có nghĩa vụ lưu giữ văn bản
công chứng lâu dài, đảm bảo an toàn và cấp bản sao văn bản công chứng khi có yêu cầu
của các bên giao kết hợp đồng, giao dịch.
Với phân tích trên, có thể thấy, hoạt động công chứng là hoạt động nghề nghiệp có
tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa cao, khác với hoạt động chuyên môn thuần túy
như hoạt động của các công chức hành chính. Bản thân hoạt động công chứng chứa đựng
tính phức tạp, đa dạng của các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại. Vì thế, không phải
ngẫu nhiên mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có các quy định nghiêm ngặt về điều
kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm công chứng viên.
Đặc điểm thứ hai: Chủ thể của hoạt động công chứng là công chứng viên.
Công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm, chịu trách nhiệm tiếp nhận hoặc lập các
loại hợp đồng, giấy tờ theo yêu cầu của đương sự, bảo đảm tính chính xác về ngày, tháng,
năm, địa điểm lập văn bản, hợp đồng; ghi nhận một cách khách quan, trung thực, chính
xác ý chí, nguyện vọng, thỏa thuận của các bên đương sự; đem lại cho các hợp đồng, giấy
tờ đó giá trị như văn bản của cơ quan công quyền (công chứng thư - Acte - authentique).
ở hầu hết các quốc gia, công chứng viên là người hành nghề tự do trong khuôn khổ
luật định.
Đặc điểm thứ ba: Văn bản công chứng có giá trị thực hiện và giá trị chứng cứ.
Văn bản công chứng là văn bản do công chứng viên lập theo trình tự, thể thức bắt
buộc, ghi lại một cách chính xác ngày, tháng, năm, địa điểm giao kết và ý chí, nguyện
vọng, giao kết của các bên khi tham gia hợp đồng giao dịch. Văn bản công chứng là một
công chứng thư.
Theo Bộ luật Dân sự Pháp, tại Điều 1319: "Văn bản công chứng đem lại sự tin cậy
đầy đủ cho hợp đồng"; Điều 1317: "Văn bản công chứng là văn bản được công chứng viên
lập để làm chứng, tại một địa điểm và theo những thể thức bắt buộc" [111, tr. 56].
Theo Điều 76 Dụ số 43 (29-11-1954) về Quy chế ngạch chưởng khế (của chính
dung, văn bản công chứng được lập theo trình theo tự, thủ tục chặt chẽ do luật định, công
chứng viên không chỉ chứng nhận, đảm bảo và chịu trách nhiệm về tính đích thực của hợp
đồng, giao dịch mà còn phải đảm bảo và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp, không trái đạo
đức xã hội của các hợp đồng, giao dịch đó, đảm bảo không xâm hại lợi ích của người thứ
ba hoặc của Nhà nước. Vì vậy, văn bản công chứng có giá trị chấp hành riêng biệt. Khi
được xuất trình trước tòa án với tư cách là chứng cứ, thì tòa án, nói chung không cần phải
đánh giá lại tính xác thực của những điều đã được ghi trong văn bản đó và mặc nhiên xem
nó là chứng cứ. Vì lý do nào đó, để bác bỏ hiệu lực chứng cứ của một văn bản công chứng,
tòa án phải xem xét theo một trình tự tố tụng riêng về chính văn bản công chứng đó (với tư
cách là thưa kiện chính vụ), chứ không thể tùy tiện bác bỏ giá trị văn bản công chứng trong
một vụ kiện khác.
Ngoài ra, giá trị chứng cứ của văn bản công chứng ở hệ thống công chứng Latinh
còn được bảo đảm ở việc văn bản công chứng được bảo vệ an toàn, lưu giữ lâu dài theo
quy định của pháp luật, đồng thời được ghi vào sổ danh mục công chứng theo đúng trình
tự luật định. Đó chính là yếu tố đảm bảo cho văn bản công chứng không thể bị thay đổi,
sửa chữa, đánh tráo.
Đặc điểm thứ tư: Công chứng là hoạt động hỗ trợ đắc lực cho công dân và các tổ
chức khi tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại; hỗ trợ tích cực cho hoạt động
quản lý nhà nước và hoạt động tư pháp nên thường được xếp vào nhóm bổ trợ tư pháp (có
thể nói đặc điểm này là hệ quả của các đặc điểm trên).
Các nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn lịch sử cho thấy, Nhà nước pháp quyền
chỉ có thể tồn tại trong hiện thực trên nền tảng của một xã hội dân chủ, ở đó hình thành và
phát triển mạnh mẽ hệ thống các mối liên hệ đa dạng theo chiều ngang của các cá nhân,
các tổ chức và cộng đồng trên cơ sở tự nguyện, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp
luật. Trong đó, quan hệ cơ bản là quan hệ hợp đồng được điều chỉnh bằng pháp luật trên cơ
sở nguyên tắc công dân được làm tất cả, trừ những gì luật cấm; các quyền tự do kinh
doanh, tự do hợp đồng, tự do sở hữu và tự do định đoạt của công dân được pháp luật thừa
nhận và đảm bảo thực hiện.
Là hoạt động gắn liền với các hợp đồng, giao dịch; phát sinh, tồn tại, phát triển
mại, công chứng còn là một biện pháp phòng ngừa có hiệu quả và quan trọng ở cả hai khía
cạnh: tạo cho công dân ý thức thận trọng, có trách nhiệm hơn trong việc thể hiện ý chí của
mình phù hợp với pháp luật, với đạo đức xã hội khi tham gia các quan hệ giao dịch; đồng
thời nếu có xảy ra tranh chấp trong các quan hệ pháp lý đó, thì đã có cơ sở pháp lý chắc
chắn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngoài các vai trò truyền thống nói trên, trong điều kiện kinh tế thị trường và Nhà
nước pháp quyền, quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự do định đoạt được khẳng định và
đảm bảo thực hiện, vai trò công chứng ngày càng được khẳng định. Trong điều kiện này, công
chứng còn là một trong các thiết chế bảo đảm quyền dân chủ. Có thể nói, hoàn thiện thể chế
công chứng theo hướng xã hội hóa không chỉ là nhu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội hiện
nay, mà còn là nhu cầu của bản thân quá trình dân chủ hóa xã hội, thúc đẩy quyền con người.
Hoạt động công chứng góp phần đảm bảo trật tự, ổn định xã hội, làm lành mạnh hóa đời sống
dân sự, tạo điều kiện để công dân thực hiện tốt hơn quyền tự do kinh doanh, tự do sở hữu, tự
do định đoạt, đảm bảo các nguyên tắc của kinh tế thị trường.
Như vậy, công chứng chính là một trong các phương tiện, công cụ tạo ra khả năng
để công dân tự bảo vệ các quyền, tự do và lợi ích của mình; đồng thời góp phần nâng cao
dân trí pháp lý, mở rộng dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân trong các giao lưu dân sự,
kinh tế, thương mại; tạo môi trường pháp lý an toàn, lành mạnh để các giao lưu dân sự,
kinh tế, thương mại phát triển, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Thứ hai: Bản thân công chứng không phải là một hoạt động quản lý nhà nước, nhưng
nó góp phần hỗ trợ tích cực cho Nhà nước thực hiện quản lý kinh tế, quản lý xã hội bằng
pháp luật, một yêu cầu cốt lõi của Nhà nước pháp quyền. Mặt khác, bằng cách tạo ra chứng
cứ không thể phản bác về các giao dịch, công chứng tạo thuận lợi cho hoạt động xét xử của
tòa án nếu có tranh chấp xảy ra.
Mặc dù có vai trò quan trọng như trên, nhưng công chứng chỉ có thể phát huy vai trò,
tác dụng khi được tổ chức phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, với bản chất xã hội - nghề
nghiệp và với khuynh hướng phát triển công chứng trên thế giới hiện nay.
1.2. xã hội hóa dịch vụ công và khái niệm, đặc trưng, nguyên tắc, phạm vi, ý
nghĩa của xã hội hóa công chứng
là có năng lực khi ngày càng cung cấp nhiều dịch vụ công cho xã hội.
Tuy nhiên, phạm vi dịch vụ công ở mỗi quốc gia khác nhau, hoặc trong mỗi quốc gia,
ở mỗi giai đoạn phát triển cũng khác nhau.
ở một số quốc gia (Thụy Điển, Canada, Cộng hòa Liên bang Đức…), dịch vụ công
được xác định theo nghĩa rộng, bao gồm các hoạt động của Nhà nước trong hầu hết các lĩnh
vực (từ lập pháp, an ninh, quốc phòng cho đến giáo dục, y tế, thu gom rác thải… đều là hoạt
động dịch vụ công). Ví dụ, ở Canada có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch vụ công, từ
an ninh, quốc phòng đến việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội. Các nước khác,
trong đó có Việt Nam lại phân biệt chức năng hoạch định chính sách với chức năng cung
ứng dịch vụ công của Nhà nước. Theo đó, chức năng hoạch định, tổ chức thực hiện chính
sách không phải là dịch vụ công. Chỉ những hoạt động nào của cơ quan nhà nước và viên
chức nhà nước phục vụ trực tiếp các nhu cầu của công dân và các tổ chức mới là dịch vụ
công.
Xung quanh khái niệm dịch vụ công, ở Việt Nam cũng có nhiều ý kiến khác nhau.
Theo TS. Chu Văn Thành - Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội
vụ:
Dịch vụ công là những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc các
doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm
vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu thiết yếu chung của
cộng đồng, công dân theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và
ổn định xã hội [85, tr. 15].
Theo PGS.TS. Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia): "Dịch vụ công là
những hoạt động phục vụ trực tiếp các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ
bản của các tổ chức và người dân do Nhà nước đảm nhận hay ủy quyền cho các cơ sở ngoài
Nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội" [85, tr. 35-36].
Theo TS. Nguyễn Văn Thủ (Văn phòng Chính phủ): "Dịch vụ công là các hoạt động
thiết yếu, đáp ứng nhu cầu chung của xã hội, do nền hành chính nhà nước đứng ra chịu trách
nhiệm cung cấp, không vì mục tiêu lợi nhuận, bị chi phối bởi cơ chế thị trường nhưng không
tuân theo quy luật của thị trường" [34, tr. 84].
lợi ích hợp pháp của nhân dân.
- Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Thông
thường, người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền, hay nói đúng hơn đã trả tiền
trước dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước. Cũng có những dịch vụ, người sử
dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí; tuy nhiên, Nhà nước cần có trách nhiệm
bảo đảm cung ứng các dịch vụ này không nhằm mục tiêu lợi nhuận.
- Mọi người dân (bất kể đóng thuế nhiều hay ít, không phải đóng thuế) đều có
quyền hưởng sự cung ứng dịch vụ công, với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền.
- Khác với những loại dịch vụ thông thường được hiểu là những hoạt động phục
vụ không tạo ra sản phẩm mang hình thái hiện vật, dịch vụ công là những hoạt động phục
vụ các nhu cầu thiết yếu của xã hội, bất kể sản phẩm được tạo ra có hình thái hiện vật hay
phi hiện vật.
Dịch vụ công gồm hai loại: Dịch vụ hành chính công và dịch vụ công cộng.
Dịch vụ hành chính công là nhóm các hoạt động thực hiện chức năng quản lý hành
chính, có sự giao tiếp với người dân, do các cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp đảm
nhận, nhằm cai quản các công việc của xã hội, duy trì kỷ cương xã hội, bảo đảm quyền dân
chủ và các quyền hợp pháp khác của công dân (khai sinh, hộ tịch, hộ khẩu ). Các dịch vụ này
ít nhiều mang tính bắt buộc, yêu cầu các công dân phải tuân thủ.
Hiện nay, ở nước ta vẫn có ý kiến cho rằng, hoạt động công chứng cũng thuộc nhóm
dịch vụ hành chính công. Song, qua phân tích ở tiết 1.1 cho thấy, công chứng không phải là
hoạt động quản lý nhà nước, do đó, không thuộc nhóm dịch vụ hành chính công. Sở dĩ có
nhận thức như trên là do hiện nay, công chứng nước ta đang được tổ chức như một cơ
quan công quyền.
Dịch vụ công cộng là các hoạt động phục vụ trực tiếp lợi ích công cộng, bao gồm các
nhu cầu thiết yếu, cơ bản trong đời sống con người (cung cấp điện nước, thu gom rác thải,
giáo dục, y tế, tư vấn pháp lý, công chứng ).
Đối với các dịch vụ công cộng, Nhà nước có thể trực tiếp cung ứng hoặc chuyển
giao cho tư nhân, tổ chức phi chính phủ cung ứng, Nhà nước chỉ đóng vai trò định hướng,
điều tiết, kiểm soát nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này.