ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
--------o0o--------
TÔ ĐỨC
QUYỀN ƢU ĐÃI XÃ HỘI CỦA CÔNG DÂN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội- 2007
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quyền ưu đãi xã hội đối với người có công với đất nước không chỉ là vấn
đề đạo lý, truyền thống mà còn là vấn đề chính trị, tư tưởng, kinh tế và xã hội. Đó
không chỉ là vấn đề cấp bách trước mắt mà còn có ý nghĩa lâu dài.
Chính vì vậy, sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành
lập, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành quy định về quyền ưu đãi xã hội đối với
những người có công với đất nước. Ngày 16 tháng 02 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký ban hành Sắc lệnh số 20/SL về chế độ hưu bổng thương tật…Từ đó đến
nay, quyền ưu đãi xã hội đối với người có công với đất nước đã có một chặng
đường trên nửa thế kỷ hình thành phát triển.
Hiện nay, có hơn 8 triệu người thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội. Nguồn kinh
phí đảm bảo thực hiện ưu đãi xã hội hàng năm được điều chỉnh căn cứ vào tình
hình kinh tế xã hội của đất nước và khả năng đáp ứng ngân sách nhà nước (năm
2005 là 5.832 tỷ đồng; năm 2006 là 6.193 tỷ đồng; năm 2007 là hơn 8000 tỷ
đồng). Như vậy, số lượng đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội ở nước ta là
rất lớn. [19].
mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế- xã hội. Tập trung giải quyết những
vấn đề xã hội bức xúc” [15; tr101].
Trong điều kiện mới về kinh tế- xã hội của đất nước hiện nay, quyền ưu đãi
xã hội của công dân ở Việt Nam đã bộc lộ những điểm bất cập, lạc hậu, không
còn phù hợp với thực tế cuộc sống. Điều này ảnh hưởng không ít đến đời sống,
tâm tư và tình cảm của đối tượng thụ hưởng quyền ưu đãi xã hội.
Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mục đích cao cả,
nhiệm vụ thường trực của Nhà nước pháp quyền không có gì khác hơn là vì con
người. Tất cả vì con người, theo hướng có lợi cho con người là một trong những
tiêu chí quan trọng nhất của Nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, trong thực tế cuộc
sống, nhất là lĩnh vực ưu đãi xã hội, nguyên tắc trên còn chưa thực sự được quan
tâm đầy đủ và còn thiếu những quy định cụ thể làm cơ sở pháp lý bảo đảm thực
hiện. Quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam cũng không phải là một
ngoại lệ. Đây là lĩnh vực bắt gặp nhiều vấn đề liên quan đến tính hợp pháp và hợp
lý, đến nguyên tắc và ngoại lệ trong việc xây dựng, ban hành và áp dụng quy định
pháp luật.
Từ những lý do nêu trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quyền ưu đãi xã hội
của công dân ở Việt Nam hiện nay” làm Luận văn Thạc sĩ Luật học cho bản thân
mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, đã có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực ưu đãi
xã hội ở Việt Nam với nhiều cách tiếp cận khác nhau như: Luận án Tiến sỹ Luật
học của Nguyễn Đình Liêu “Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi xã hội ở Việt Nam:
Lý luận và thực tiễn”- Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; “Góp phần đổi mới
và hoàn thiện chính sách đảm bảo xã hội ở nước ta hiện nay” PGS, PTS Đỗ Minh
Cương, PTS Mạc Văn Tiến- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 1996; Luận văn
thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
* Nội dung nghiên cứu
- Khái niệm và đặc điểm quyền ưu đãi xã hội của công dân.
- Nội dung quyền ưu đãi xã hội của công dân.
- Các bảo đảm pháp lý thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân.
- Sự phát triển quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam từ năm 1945
đến nay.
- Điều chỉnh pháp luật và hoạt động thực hiện quyền ưu đãi xã hội của
công dân ở nước ta.
- Đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật và hoạt động thực hiện quyền ưu
đãi xã hội của công dân ở nước ta.
- Nhu cầu, quan điểm, giải pháp hoàn thiện quyền ưu đãi xã hội của công
dân ở Việt Nam giai đoạn hiện nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật lịch sử: Nhận thức, xác định quyền ưu đãi xã hội
của công dân ở Việt Nam theo một hệ thống có mối liên hệ lịch sử, kế thừa và
phát triển.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp
luật và hoạt động thực hiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam.
- Phương pháp chuyên gia: Thu thập thông tin, quan điểm, phương pháp
luận của các chuyên gia về quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thu thập tài liệu, thông tin về quyền ưu
đãi xã hội của công dân ở Việt Nam và những nội dung dự báo xã hội, pháp luật
về vấn đề này.
- Phương pháp tư duy lô gíc: Lý luận- thực trạng- hướng xây dựng trong
việc luận giải những vấn đề lý luận, thực tiễn để nêu lên căn cứ và nội dung hoàn
thiện quyền ưu đãi xã hội của công dân ở Việt Nam.
5. Những đóng góp của Luận văn
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ QUYỀN ƢU ĐÃI XÃ HỘI CỦA CÔNG DÂN
1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền ƣu đãi xã hội của công dân
1.1.1. Khái niệm quyền ưu đãi xã hội của công dân
Sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân gắn liền với sự tồn tại và phát triển
của cộng đồng. Cộng đồng cơ bản và vững chắc nhất là gia đình, trên nữa là bộ
lạc, dòng họ, thôn, xóm, làng, bản, xã/phường, quận/huyện, tỉnh/thành phố và
quốc gia. Do vậy, các cá nhân phải có trách nhiệm, nghĩa vụ loan toan, gánh vác
các công việc của cộng đồng nơi mình sinh sống. Có cá nhân đóng góp nhiều sức
lực, của cải, thành tích cho cộng đồng, có cá nhân đóng góp ít.
Công việc chung của cộng đồng thường gồm hai loại: một là sự nghiệp
chiến đấu để bảo vệ cộng đồng; hai là sự nghiệp kiến thiết, xây dựng và phát triển
cộng đồng. Trong quá trình lo toan cho công việc chung của cộng đồng, có nhiều
cá nhân và gia đình của họ đã tình nguyện, chấp nhận hy sinh tính mạng, bị
thương tật, bệnh tật hoặc bị tàn phá hết cơ sở vật chất, của cải, không thể phục hồi
được cuộc sống bình thường. Đây chính là những đối tượng được cộng đồng hết
sức quan tâm, chăm sóc. Tuỳ theo đặc điểm của từng cộng đồng và truyền thống
của cộng đồng, những người đó và gia đình họ có thể được thưởng công xứng
đáng ngay sau khi hoàn thành công việc hoặc có thể được chăm sóc, nuôi dưỡng,
giúp đỡ trong suốt cuộc đời sau này. Họ chính là những người có công với cộng
đồng.
Bản thân những người có công là những cá nhân công dân bình thường,
làm công việc của cộng đồng, tự coi đó là trách nhiệm, nghĩa vụ với cộng đồng
mình nơi sinh sống. Họ không bao giờ kể công, đòi hỏi cộng đồng phải báo
nghĩa. Nhưng cộng đồng đời đời nhớ ơn họ và có những hoạt động “đền ơn đáp
nghĩa” cụ thể, nhất định tuỳ thuộc vào điều kiện chính trị- kinh tế- xã hội. Những
người có công được cộng đồng dành cho những quyền ưu đãi cụ thể trong nhiều
lĩnh vực của cuộc sống. Đó không phải là sự trả công, mà là sự “đền ơn đáp
được sửa đổi, bổ sung năm 2002 (2003), Nhà xuất bản chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
2. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (2000,
2004), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ về việc
hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có công
với cách mạng.
4. Nghị định số 32/2007/NĐ-CP ngày 02/03/2007 của Chính phủ quy định
mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng.
5. Pháp lệnh Ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ,
thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công
giúp đỡ cách mạng ngày 29/8/1994 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
6. Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh
hùng” ngày 29/8/1994 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
7. Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 26/2005/PLUBTVQH11 ngày 29/6/2005 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
8. Quyết định số 118/TTg ngày 27/2/1996 của Thủ tướng Chính phủ về
việc hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở.
9. Quyết định số 20/2000/QĐ- TTg ngày 3/2/2000 của Thủ tướng Chính
phủ về việc hỗ trợ người hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng
tháng Tám năm 1945 cải thiện nhà ở.
10. Quyết định số 170/2003/QĐ- TTg ngày 14/8/2003 của Thủ tướng
Chính phủ về chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá.
11. Thông tư Liên tịch số 21/2005/TTLT- BYT- BTC ngày 27/7/2005 của
Liên Bộ Y tế- Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc.
12. Thông tư Liên tịch số 16/2006/TTLT- BLĐTBXH- BGDĐT- BTC ngày
20/11/2006 của Liên Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội – Bộ Giáo
dục và Đào tạo – Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ ưu đãi trong giáo
dục và đào tạo đối với người có công với cách mạng và con của họ.
Nội.
27. Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam: Lý luận- Thực
tiễn (1996) - Nguyễn Đình Liêu, Luận án PTS Luật học- Hà Nội.
28. Phương án Điều tra mức sống người có công với cách mạng (2006) Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Hà Nội.
29. Quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Việt Nam (2004), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
30. Sáu mươi năm xây dựng và phát triển Ngành Lao động- Thương binh
và Xã hội (2006) - Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Nhà xuất bản
Lao động- Xã hội, Hà Nội.
31. Thư gửi Ban Thường trực của Ban Tổ chức ngày “thương binh toàn
quốc” (1947) - Bác Hồ, Hà Nội.
32. Thư gửi thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách nhân lễ mừng
chiến thắng của dân tộc (1997) - Tôn Đức Thắng, Sách Chính sách
TBLSNCC, Nhà xuất bản Lao động Xã hội, Hà Nội.
33. Thế hệ chúng ta và muôn đời con cháu mãi mãi nhớ ơn (2002) - Phan
Văn Khải, Báo Nhân dân số 17172 ngày 27/7/2002.
34. Thuật ngữ Lao động- Thương binh và Xã hội (1999), Nhà xuất bản
Lao động- Xã hội, Hà Nội.
35. Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Nhà xuất bản Trung tâm biên
soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội.
36. Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2000), Nhà xuất bản Đà
Nẵng, Hà Nội- Đà Nẵng.
37. Từ điển tiếng Việt thông dụng (1996), Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội.
38. Xác định các chính sách đối với người có công trong thời kỳ mới
(2002) – Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Hà Nội.