LUẬN VĂN:Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN: Xã hội hóa công chứng ở
Việt Nam hiện nay

mở đầu

1. Lý do chọn đề tài
Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ,
tăng cường pháp chế là một nội dung quan trọng của sự nghiệp đổi mới toàn diện

Với lý do trên, tác giả chọn đề tài " Xó hội húa cụng chứng ở Việt Nam
hiện nay " cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xã hội hóa công chứng là vấn đề mới ở Việt Nam, chưa có tiền lệ, chưa
được thể chế hóa.
Về góc độ lý luận, cho đến nay vấn đề xã hội hóa công chứng chưa được
nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, đầy đủ; chưa có một đề tài nào trực tiếp đi
sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về xã hội hóa công chứng. Trong một số luận án, luận
văn, bài viết về công chứng, xã hội hóa công chứng mới chỉ được đề cập đến như là
một trong các giải pháp hoàn thiện pháp luật công chứng hoặc đổi mới tổ chức hoạt
động công chứng ở Việt Nam hiện nay. Ví dụ: Luận án tiến sĩ Luật học: "Tổ chức và
hoạt động công chứng nhà nước ở nước ta hiện nay" của tác giả Dương Khánh, 2002;
Luận văn thạc sĩ Luật học: "Hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam hiện
nay" của tác giả Lê Kim Hoa, 2003; bài "Một số ý kiến về đổi mới tổ chức và hoạt
động của cơ quan công chứng" của tác giả Lê Khả đăng trên báo Pháp luật, ngày
18/2/2003; "Công chứng, chứng thực trong điều kiện cải cách hành chính và cải cách
tư pháp" của tác giả Trần Thất, đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6/2004;
"Công chứng, chứng thực ở Việt Nam - Thực trạng và định hướng phát triển" của tác
giả Phạm Văn Lợi, đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7/2002.

Một số luận văn, bài viết về xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp, trong
đó, hoạt động công chứng được đề cập đến như một trong các hoạt động bổ trợ tư
pháp cần thiết phải xã hội hóa. Ví dụ: Luận văn thạc sĩ Luật học: "Xã hội hóa các
hoạt động bổ trợ tư pháp" của tác giả Trần Thị Quang Hồng, 2000; bài "Khái niệm,
định hướng xã hội hóa tổ chức và hoạt động bổ trợ tư pháp" của tác giả Nguyễn Văn
Tuân, đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 8/2004.
Tác giả Nguyễn Văn Toàn đã có Luận văn thạc sĩ (bảo vệ tại Cộng hòa
Pháp) với đề tài: "Công chứng Việt Nam trong nền kinh tế thị trường theo mô hình
công chứng Latinh", 2004. Luận văn đã nghiên cứu và phân tích khá sâu sắc các
hệ thống công chứng trên thế giới, đặc biệt, đi sâu nghiên cứu cải cách công chứng

đến năm 2020.
4. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
4.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về xã hội hóa công chứng, đề xuất và phân tích các quan điểm, giải pháp
xã hội hóa công chứng ở Việt Nam trong thời gian tới, góp phần thực hiện mục tiêu
cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước nói chung, mục tiêu cải cách tư pháp nói
riêng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân.
4.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về công chứng, xã hội hóa công chứng.
- Đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động công chứng nhà nước và phân
tích các yêu cầu khách quan xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay.

- Đề xuất các quan điểm, giải pháp xã hội hóa công chứng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng, Nhà nước ta
về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân; về cải cách hành chính, cải cách tư pháp.
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
trực tiếp sử dụng các phương pháp của triết học Mác - Lênin, như phương pháp
kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp lịch sử cụ thể, phân tích và tổng
hợp, thống kê luật học, lý thuyết hệ thống
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là chuyên khảo khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tương
đối có hệ thống về xã hội hóa công chứng, đưa ra khái niệm xã hội hóa công
chứng, nguyên tắc phạm vi xã hội hóa công chứng, ý nghĩa của xã hội hóa công
chứng, các giải pháp cơ bản để đưa chủ trương xã hội hóa công chứng của Đảng và

nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện
đó có hiệu lực thực hiện. Lần đầu tiên kể từ khi thành lập nước (2/9/1945), khái niệm
công chứng nhà nước được đưa ra ở Việt Nam, đánh dấu sự đổi mới về tư duy pháp
lý, bước đầu đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế ở giai đoạn đầu của thời kỳ chuyển
đổi. Tuy nhiên, là văn bản pháp lý đầu tiên về công chứng trong giai đoạn đầu của
thời kỳ đổi mới, do đó, văn bản này không thể tránh được các hạn chế, đó là: chưa
xác định được chủ thể, đối tượng của hoạt động công chứng cũng như nội dung
việc công chứng, chưa phân biệt rõ hoạt động công chứng với hoạt động của các
cơ quan nhà nước khác.
Quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã làm
tăng nhanh cả về số lượng và quy mô các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại, đặt ra

yêu cầu ngày càng cao đối với hoạt động công chứng. Do đó, trong vòng 10 năm
(1991 - 2000), Chính phủ đã ban hành ba nghị định về tổ chức và hoạt động công
chứng nhà nước, đó là: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị
định số 45/HĐBT); Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và
hoạt động công chứng nhà nước (sau đây gọi tắt là Nghị định số 31/CP) và Nghị định
số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau
đây gọi tắt là Nghị định số 75/2000/NĐ-CP).
Theo Nghị định số 45/HĐBT, công chứng nhà nước được xác định như sau:
Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các
hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng ngừa vi
phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng
cứ (Điều 1).
Đến Nghị định số 31/CP, công chứng nhà nước được xác định:
Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng

tên gọi từ "Phòng công chứng nhà nước" ở các văn bản pháp lý trước đó thành
"Phòng công chứng". Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo tiền đề để tiến
tới chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và xã hội hóa nghề công chứng ở Việt
Nam.
Tuy nhiên, khái niệm công chứng của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP còn
có một số điểm chưa phù hợp, đó là:
Thứ nhất, mặc dù Nghị định đã có sự phân biệt hành vi công chứng và
hành vi chứng thực bằng hai khái niệm khác nhau, song xem xét tổng thể Nghị định

số 75/2000/NĐ-CP, có thể thấy, hoạt động công chứng và hoạt động chứng thực
vẫn được đồng nhất cả về chủ thể, đối tượng và ý nghĩa pháp lý.
Thứ hai, nếu Thông tư số 574/QLTPK cũng như Nghị định số 45/CP và
Nghị định số 31/CP chưa xác định chủ thể của hoạt động công chứng, thì Nghị
định số 75/2000/NĐ-CP lại xác định chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng
công chứng - "Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận ". Thực tiễn
hoạt động công chứng cho thấy, dù được tổ chức như thế nào, công chứng vẫn là
hoạt động của công chứng viên, công chứng viên phải chịu trách nhiệm cá nhân về
hành vi công chứng của mình. Quy định như trên đã làm "mờ" đi vai trò của công
chứng viên trong hoạt động công chứng.
Thứ ba, xem xét một cách hệ thống các văn bản pháp lý về công chứng ở
nước ta từ năm 1987 đến nay cho thấy, dù sử dụng thuật ngữ "Công chứng nhà
nước" hay "Công chứng" thì quan niệm về công chứng của Việt Nam vẫn không
thay đổi, đó là: công chứng là hoạt động của Nhà nước, do Nhà nước trực tiếp thực
hiện. Với quan niệm này, công chứng Việt Nam được tổ chức theo mô hình công
chứng nhà nước (phòng công chứng là cơ quan nhà nước, công chứng viên là công
chức nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, Nhà nước đảm bảo toàn bộ cơ
sở vật chất cho hoạt động công chứng). Đây là mô hình công chứng mang tính đặc
thù của Liên Xô (cũ) và hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa trước đây trong điều kiện
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp.
Những điểm chưa phù hợp trên đã dẫn đến các cách hiểu khác nhau (thậm chí

xã hội chủ nghĩa (Sovietique).
So sánh các hệ thống công chứng cho thấy, mặc dù giữa hệ thống công
chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo - Saxon có sự khác biệt nhau về cách
thức tổ chức, hoạt động, trình tự, thủ tục công chứng, song quan niệm về công

chứng ở hai hệ thống này về cơ bản tương đồng. Cả hai hệ thống này đều coi công
chứng là một nghề tự do, công chứng viên hoạt động độc lập, tự chịu trách nhiệm cá
nhân về hoạt động của mình. Tuy nhiên, đó là một nghề đặc biệt, đòi hỏi công chứng
viên phải có trình độ chuyên môn (luật) và kỹ năng nghiệp vụ được Nhà nước
công nhận để có thể đảm bảo tính xác thực cho các hợp đồng vốn rất phức tạp, đa
dạng, công chứng viên do Nhà nước bổ nhiệm hoặc công nhận theo các điều kiện,
tiêu chuẩn do luật định và hoạt động theo chế độ chứng chỉ hành nghề.
Có thể thấy rõ điều đó qua pháp luật thực định về công chứng của một số
nước.
ở Cộng hòa Pháp (một điển hình của trường phái công chứng Latinh),
Điều 1 Pháp lệnh số 45-2500 ngày 02/11/1945 về Điều lệ công chứng của Cộng hòa
Pháp quy định: "Công chứng viên là viên chức công, được bổ nhiệm để lập các hợp
đồng và văn bản mà theo đó, các bên phải hoặc muốn đem lại tính xác thực giống
như các văn bản của các cơ quan công quyền và để đảm bảo ngày, tháng chắc
chắn, lưu giữ và cấp các bản sao văn bản công chứng" [118, tr. 8]. (Điều 1 Điều lệ
công chứng được ban hành kèm theo Lệnh số 48/FR ngày 29/8/1968 của Cộng hòa
Bê-nanh cũng chép lại gần như nguyên văn điều luật trên) [118, tr. 125].
ở Vương quốc Anh (một trong các điển hình của trường phái công chứng
Anglo - Saxon), quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 quy định:
Công chứng viên là viên chức được bổ nhiệm để thực hiện các
hành vi công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập chứng thư
và các giấy tờ khác có liên quan đến việc: chuyển nhượng hoặc xác lập
giấy tờ khác có liên quan đến việc chuyển nhượng bất động sản và tài
sản cá nhân, giấy ủy quyền liên quan đến bất động sản và tài sản cá
nhân ở Anh, xứ Wales, các nước khác thuộc khối cộng đồng Anh hoặc

- ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là đảm bảo giá trị thực hiện
cho các hợp đồng giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu có
tranh chấp xảy ra (văn bản công chứng là một công chứng thư).
Qua các phân tích trên cho thấy, khởi nguồn, hoạt động công chứng là
hoạt động của xã hội, với vai trò làm chứng của quần chúng nhằm đảm bảo tính
công khai, minh bạch, khách quan của các khế ước, văn tự được lập, đề phòng sự
tranh chấp, lật lọng. Có thể nói, ở giai đoạn đầu của lịch sử công chứng, công
chứng chính là nhu cầu tự nhiên, tự bảo vệ của dân chúng khi họ tham gia các hợp
đồng, giao dịch chứ chưa phải nhu cầu của quản lý nhà nước. Như vậy, công
chứng là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc.
Mặt khác, với vai trò chủ yếu là hỗ trợ công dân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân và các tổ chức trong các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại;
phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật; hỗ trợ quản lý nhà nước, góp phần
đảm bảo ổn định trật tự xã hội, thúc đẩy các giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại
phát triển và hỗ trợ tư pháp thông qua việc cung cấp chứng cứ cho hoạt động xét
xử, công chứng là một nghề có tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa phục vụ
cho lợi ích chung của xã hội, cộng đồng. Với vai trò quan trọng như trên, công
chứng đã trở thành đối tượng quản lý của Nhà nước. Thậm chí, ở một số quốc gia,
trong những điều kiện lịch sử nhất định, công chứng còn trở thành một hoạt động
thuộc chức năng xã hội của Nhà nước (chức năng cung ứng dịch vụ công).
Như vậy, bản chất công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công
(Service public). Với sự tinh thông nghề nghiệp, bằng việc tư vấn, soạn thảo,
chứng nhận các hợp đồng, giấy tờ, công chứng viên đã cung cấp dịch vụ bảo đảm
an toàn pháp lý cho công dân và các tổ chức khi tham gia giao dịch dân sự, kinh
tế, thương mại.
Khẳng định bản chất công chứng như trên, cho phép chúng ta thấy rõ:
Công chứng là một hoạt động xã hội - nghề nghiệp, không mang đặc trưng quyền lực

nhà nước. Về mặt tổ chức, công chứng cần được xác định là một tổ chức nghề nghiệp
chứ không phải là cơ quan hành chính hay cơ quan hành chính - tư pháp.

chất của hợp đồng giao dịch, xác định các quan hệ pháp lý phát sinh xung quanh một
yêu cầu công chứng, hậu quả pháp lý có thể xảy ra. Ví dụ, khi tiếp nhận một yêu cầu
chứng nhận hợp đồng mua bán nhà ở, công chứng viên, ngoài việc xác định các nội
dung cơ bản của hợp đồng theo quy định của pháp luật (tình trạng, chất lượng tài
sản; vị trí ranh giới tài sản; giá cả, phương thức thanh toán ); còn phải xác định
các quan hệ pháp lý liên quan khác:
- Quan hệ sở hữu (sở hữu chung hay sở hữu riêng).
- Quan hệ thừa kế (tài sản có liên quan đến di sản thừa kế hay không?).
- Quan hệ giao dịch bảo đảm (tài sản có đảm bảo cho việc thực hiện một
nghĩa vụ nào hay không như: cầm cố, bảo lãnh, thế chấp ) v.v
Đồng thời, cần phải giải thích rõ cho khách hàng biết, nếu có sự man trá,
không trung thực trong quá trình giao kết hợp đồng, sẽ phải chịu những hậu quả
pháp lý gì khi tranh chấp xảy ra.
Chứng nhận các hợp đồng, giấy tờ theo quy định của pháp luật là việc
công chứng viên, trên cơ sở các hợp đồng, giấy tờ đã được lập, công nhận tính
đúng đắn, chính xác, có thực, hợp pháp của các hợp đồng, giấy tờ bằng việc ghi lời
chứng theo thể thức và nội dung do pháp luật quy định và ký tên vào văn bản, giấy
tờ đó.
Khi đã hoàn tất hai giai đoạn trên, hợp đồng, giấy tờ đã trở thành văn bản
công chứng - một loại công chứng thư (văn bản có tính chất công, có tính chất như
văn bản của cơ quan công quyền, được lập ra do người có thẩm quyền và theo
trình tự, thể thức chặt chẽ). Ngược lại, nếu công chứng viên mới lập văn bản, (giai

đoạn 1) hoặc kể cả vì lẽ nào đó, công chứng viên đã ghi lời chứng mà chưa ký vào
văn bản, thì đó mới chỉ là một tư chứng thư (văn bản có tính chất như hai bên tự
lập, không theo thể thức bắt buộc, không có chứng nhận của công chứng viên).
Ngoài ra, sau khi lập, chứng nhận các hợp đồng giấy tờ như đã phân tích ở
trên, công chứng viên còn phải cấp văn bản cho khách hàng và có nghĩa vụ lưu giữ
văn bản công chứng lâu dài, đảm bảo an toàn và cấp bản sao văn bản công chứng
khi có yêu cầu của các bên giao kết hợp đồng, giao dịch.

Có thể thấy, văn bản công chứng được tạo lập trước hết không nhằm tạo ra
chứng cứ và càng không phải mục đích duy nhất làm chứng cứ. Văn bản công
chứng được tạo lập, trước hết đảm bảo giá trị thực hiện đối với các bên giao kết
(ràng buộc chặt chẽ quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự, là cơ sở pháp lý không
thể phản bác để các bên buộc bên kia phải thực hiện đúng các thỏa thuận). Đồng thời,
có giá trị đối với cả bên thứ ba. Ví dụ: Ông A và bà B ký kết với nhau một hợp đồng
mua bán nhà ở, có chứng nhận của công chứng viên, kể từ ngày được công chứng,
trong thời hạn ghi trong hợp đồng, ông A và bà B phải tự nguyện, chủ động thực hiện
hợp đồng theo các điều khoản đã thỏa thuận. Đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền
liên quan (trước bạ, nhà đất ) cũng buộc phải chấp hành (giải quyết các việc liên
quan đến thủ tục mua bán nhà ở) mà không thể từ chối, cản trở. Có thể nói, hiệu lực
thực hiện ngay (gần như là tuyệt đối) đó là điểm cốt lõi, chỉ có văn bản công chứng
mới có được. Điều này giải thích vì sao ở Pháp, công chứng viên được coi là thẩm
phán về hợp đồng.
Giá trị chứng cứ của các hợp đồng giấy tờ đã được công chứng chính là giá
trị làm chứng của nó. Trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, những hợp đồng, giấy
tờ đã được công chứng chính là bằng chứng không thể chối cãi giữa các bên tham gia
hợp đồng, giao dịch. Từ đó, quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các bên được
bảo vệ và bảo đảm thực hiện.

Tuy nhiên trên thế giới, các hệ thống pháp luật khác nhau có quan điểm
khác nhau khi xác định giá trị chứng cứ của văn bản công chứng. Do công chứng
của hệ thống Anglo - Saxon là công chứng hình thức (công chứng viên nhận diện
đúng khách hàng, ghi đúng ngày, tháng, năm, ghi lại một cách trung thành ý chí,
các thỏa thuận của các bên, không quan tâm đến tình trạng pháp lý của đối tượng
hợp đồng, không cần biết nội dung của hợp đồng, giao dịch có trái pháp luật, đạo
đức xã hội hay không, không chịu trách nhiệm nếu có điều khoản nào đó trong
hợp đồng bất lợi cho một bên hoặc gây thiệt hại cho người thứ ba), văn bản công
chứng mang lại sự an toàn pháp lý thấp nên không có hiệu lực bắt buộc thực hiện
đối với các bên như phán quyết của tòa án. Văn bản công chứng cũng có giá trị

do sở hữu và tự do định đoạt của công dân được pháp luật thừa nhận và đảm bảo
thực hiện.
Là hoạt động gắn liền với các hợp đồng, giao dịch; phát sinh, tồn tại, phát
triển trên cơ sở nhu cầu về an toàn pháp lý của các hợp đồng, giao dịch, công
chứng chính là hoạt động hỗ trợ đắc lực cho công dân và các tổ chức khi tham gia
giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại.
Thông qua chức năng này, hoạt động công chứng đã góp phần bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp, chính đáng cho các chủ thể khi tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng
ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, tạo sự ổn định cho xã hội.
Không chỉ hỗ trợ tích cực công dân khi tham gia các hợp đồng, giao dịch, mà
thông qua việc phòng ngừa vi phạm pháp luật, công chứng còn góp phần hỗ trợ quản
lý nhà nước một cách thường xuyên, liên tục đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý của
Nhà nước.
Nếu như hỗ trợ hành pháp được biểu hiện thường xuyên, liên tục, thì trái
lại công chứng chỉ có ý nghĩa bổ trợ tư pháp khi có tranh chấp xảy ra. Khi có tranh
chấp xảy ra, công chứng cung cấp chứng cứ không thể phản bác.

Cần thấy rằng, tham gia tố tụng với ý nghĩa bổ trợ pháp không phải là mục
đích tự thân với ý nghĩa quyết định sự tồn tại của hoạt động công chứng. Sự tham
gia của công chứng với ý nghĩa là cung cấp chứng cứ không mang tính chất bắt
buộc mà trên cơ sở yêu cầu của một trong các chủ thể tham gia quá trình tố tụng
(có thể là tòa án, có thể là các bên đương sự). Song, khi có yêu cầu, công chứng
đóng vai trò hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tư pháp bằng việc cung cấp chứng cứ
không thể bác bỏ, đảm bảo cho hoạt động xét xử được khách quan, nhanh chóng,
chính xác, đảm bảo chất lượng và hiệu quả xét xử.
1.1.3. Vai trò công chứng trong đời sống xã hội
Công chứng là hoạt động có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, thể
hiện:
Thứ nhất: Công chứng là một biện pháp tích cực hỗ trợ cho công dân và các
tổ chức, để bảo đảm an toàn cho họ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại

Thứ hai: Bản thân công chứng không phải là một hoạt động quản lý nhà
nước, nhưng nó góp phần hỗ trợ tích cực cho Nhà nước thực hiện quản lý kinh tế,
quản lý xã hội bằng pháp luật, một yêu cầu cốt lõi của Nhà nước pháp quyền. Mặt
khác, bằng cách tạo ra chứng cứ không thể phản bác về các giao dịch, công chứng tạo
thuận lợi cho hoạt động xét xử của tòa án nếu có tranh chấp xảy ra.
Mặc dù có vai trò quan trọng như trên, nhưng công chứng chỉ có thể phát huy
vai trò, tác dụng khi được tổ chức phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, với bản
chất xã hội - nghề nghiệp và với khuynh hướng phát triển công chứng trên thế giới
hiện nay.
1.2. xã hội hóa dịch vụ công và khái niệm, đặc trưng, nguyên tắc, phạm
vi, ý nghĩa của xã hội hóa công chứng
1.2.1. Xã hội hóa dịch vụ công

ở trên, phần 1.1.1 đã khẳng định, "bản chất công chứng là hoạt động mang
tính dịch vụ công". Dịch vụ công (tiếng Anh là service public; tiếng Pháp là public
service) là khái niệm được sử dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay. ở Việt Nam,
khái niệm dịch vụ công mới được bàn đến và sử dụng trong thời gian gần đây. Tuy
nhiên, dịch vụ công không phải là cái gì mới mẻ mà chính là những hoạt động phục
vụ cho các lợi ích thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và các tổ
chức mà Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo.
Nhà nước có hai chức năng cơ bản: Chức năng quản lý nhà nước đối với
mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và chức năng phục vụ cho các tổ chức,
công dân trong xã hội (chức năng xã hội).
Chức năng quản lý nhà nước bao gồm các hoạt động quản lý và điều tiết
đời sống kinh tế - xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, chiến
lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và kiểm tra, kiểm soát. Chức năng phục vụ
bao gồm các hoạt động nhằm phục vụ cho các lợi ích thiết yếu, các quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân và tổ chức (cung ứng dịch vụ công). Việc thực hiện quản lý
nhà nước là theo nhu cầu của bản thân bộ máy nhà nước nhằm đảm bảo trật tự, ổn
định, công bằng xã hội; còn việc cung ứng dịch vụ công lại do nhu cầu cụ thể của

Theo TS. Chu Văn Thành - Viện trưởng Viện Khoa học tổ chức nhà nước,
Bộ Nội vụ:
Dịch vụ công là những hoạt động của các tổ chức nhà nước
hoặc các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước ủy quyền để
thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu
cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân theo nguyên tắc không vụ
lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội [85, tr. 15].
Theo PGS.TS. Lê Chi Mai (Học viện Hành chính Quốc gia): "Dịch vụ
công là những hoạt động phục vụ trực tiếp các lợi ích chung thiết yếu, các quyền

Trích đoạn Thực trạng cụng chứng nhà nước ở Việt Nam hiện nay Quan điểm, giải phỏp xó hội húa cụng chứng 1 Quan điểm xó hội húa cụng chứng Đổi mới nhận thức về bản chất, vai trũ cụng chứng Hoàn thiện phỏp luật cụng chứng theo hướng xó hội húa, đồng thời hoàn thiện cỏc quy định của phỏp luật liờn quan đến cụng chứng Hoàn thiện cơ chế quản lý cụng chứng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status