Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay - Pdf 28

1
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân
chủ, tăng cường pháp chế là một nội dung quan trọng của sự nghiệp đổi mới
toàn diện đất nước ở Việt Nam hiện nay. Một trong các yêu cầu quan trọng của
nội dung này là xác định đúng vai trò, chức năng của Nhà nước trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xác định vai trò của Nhà
nước trong cung ứng dịch vụ công nhằm làm cho bộ máy nhà nước tinh gọn,
hiệu lực, hiệu quả; đảm bảo sự phát triển bền vững và nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Trước yêu cầu trên, xã hội hóa dịch vụ công, trong đó có xã hội hóa
công chứng là một giải pháp quan trọng.
Cùng với chủ trương xã hội hóa các hoạt động luật sư, tư vấn, giám
định tư pháp, xã hội hóa công chứng là quan điểm, chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay, thể hiện đặc biệt rõ nét ở Nghị quyết
số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 với nội dung:
Hoàn thiện thể chế công chứng. Xác định rõ phạm vi công
chứng và chứng thực, giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Xây
dựng mô hình quản lý nhà nước về công chứng theo hướng Nhà nước
chỉ tổ chức cơ quan công chứng thích hợp; có bước đi phù hợp để
từng bước xã hội hóa công việc này [29].
Tuy nhiên, cũng như xã hội hóa dịch vụ công, xã hội hóa công chứng ở
nước ta hiện nay vẫn còn là vấn đề mới, chưa có tiền lệ, chưa được làm sáng tỏ
về lý luận cũng như thực tiễn; còn có sự khác nhau về nhận thức không chỉ trong
người dân, mà ngay cả trong đội ngũ công chức trong các cơ quan hành chính, cơ
2
quan tư pháp, các chuyên gia, các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu khoa học
pháp lý.

bổ trợ tư pháp cần thiết phải xã hội hóa. Ví dụ: Luận văn thạc sĩ Luật học:
"Xã hội hóa các hoạt động bổ trợ tư pháp" của tác giả Trần Thị Quang Hồng,
2000; bài "Khái niệm, định hướng xã hội hóa tổ chức và hoạt động bổ trợ tư
pháp" của tác giả Nguyễn Văn Tuân, đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật,
số 8/2004.
Tác giả Nguyễn Văn Toàn đã có Luận văn thạc sĩ (bảo vệ tại Cộng
hòa Pháp) với đề tài: "Công chứng Việt Nam trong nền kinh tế thị trường theo
mô hình công chứng Latinh", 2004. Luận văn đã nghiên cứu và phân tích khá
sâu sắc các hệ thống công chứng trên thế giới, đặc biệt, đi sâu nghiên cứu cải
cách công chứng ở Cộng hòa Ba Lan và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, hai
điển hình thành công của việc cải cách công chứng từ mô hình công chứng
nhà nước sang mô hình công chứng Latinh ở các nước có nền kinh tế chuyển
đổi; phân tích thực trạng công chứng Việt Nam và đưa ra giải pháp đổi mới
công chứng Việt Nam theo mô hình công chứng Latinh. Tuy nhiên, cơ sở lý
luận của việc đổi mới này chưa được tác giả quan tâm đề cập trong luận văn.
Bộ Tư pháp, Nhà Pháp luật Việt - Pháp cũng đã tổ chức một số hội
thảo khoa học về đổi mới tổ chức và hoạt động công chứng trong điều kiện
cải cách hành chính ở Việt Nam; về vai trò của các nghề bổ trợ tư pháp (trong
đó có công chứng) trong Nhà nước pháp quyền; về kinh nghiệm tổ chức, hoạt
động công chứng ở Cộng hòa Pháp và các quốc gia trên thế giới…
Gần đây nhất, đầu năm 2005, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
được giao nhiệm vụ nghiên cứu đề tài cấp bộ "Những vấn đề lý luận và thực
tiễn của việc xã hội hóa một số hoạt động bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp",
mà địa chỉ áp dụng kết quả nghiên cứu là lĩnh vực công chứng, giám định tư
4
pháp và một số hoạt động hộ tịch. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đề tài hiện mới
đang từng bước triển khai.
Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay là đề tài đầu tiên nghiên cứu
tương đối hệ thống và toàn diện lý luận về xã hội hóa công chứng, nhằm góp
phần làm cơ sở khoa học cho quá trình xã hội hóa công chứng ở Việt Nam.

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, trực tiếp sử dụng các phương pháp của triết học Mác - Lênin, như
phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp lịch sử cụ thể,
phân tích và tổng hợp, thống kê luật học, lý thuyết hệ thống...
6. Đóng góp mới của luận văn
Luận văn là chuyên khảo khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách
tương đối có hệ thống về xã hội hóa công chứng, đưa ra khái niệm xã hội hóa
công chứng, nguyên tắc phạm vi xã hội hóa công chứng, ý nghĩa của xã hội
hóa công chứng, các giải pháp cơ bản để đưa chủ trương xã hội hóa công
chứng của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống.
7. Ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Luận văn đóng góp cho việc giải quyết các vấn đề lý luận về việc xã
hội hóa công chứng ở Việt Nam.
- Những vấn đề được làm sáng tỏ trong luận văn có thể đóng góp cho
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về công chứng ở Việt Nam theo hướng
xã hội hóa, thực hiện chủ trương xã hội hóa công chứng của Đảng và Nhà nước.
- Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy về công chứng, xã
hội hóa công chứng.
6
8. Kết cấu luận văn
Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.
7
Chơng 1
Cơ sở lý luận về xã hội hóa công chứng

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò công chứng
1.1.1. Khái niệm công chứng
Khái niệm công chứng là một vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa quyết
định đối với toàn bộ các vấn đề khác liên quan đến công chứng, đặc biệt là

Công chứng nhà nớc là việc chứng nhận tính xác thực của
các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nớc, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần
phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng và giấy tờ đã đợc công chứng có giá trị
chứng cứ (Điều 1).
Đến Nghị định số 31/CP, công chứng nhà nớc đợc xác định:
Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp
đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nớc, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức) góp phần phòng
ngừa vi phạm pháp luật, tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Các hợp đồng, giấy tờ đã đợc công chứng nhà nớc chứng nhận
hoặc ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực có giá trị chứng
cứ, trừ trờng hợp bị tòa án nhân dân tuyên bố là vô hiệu (Điều 1).
So với Thông t số 574/QLTPK, khái niệm công chứng ở hai Nghị định
này đã đợc xác định cụ thể, rõ ràng hơn. Và nếu so sánh Nghị định số
9
45/HĐBT với Nghị định số 31/CP thì Nghị định số 31/CP đã bớc đầu có sự
phân biệt hành vi công chứng và hành vi chứng thực. Tuy nhiên, ý nghĩa pháp
lý của hành vi công chứng và hành vi chứng thực cha đợc phân biệt. Quy
định "chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng, giấy tờ" ở cả hai Nghị định
này còn quá chung chung, khó hiểu, dễ gây nên sự tùy tiện và các hệ quả khác
nhau trong thực tiễn hoạt động công chứng.
Chỉ đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP, khái niệm công chứng mới đợc
tách bạch khỏi khái niệm chứng thực. Khái niệm công chứng ở Nghị định này
đã đợc xác định khoa học hơn, tiệm cận gần hơn với quan niệm chung của
thế giới về công chứng. Theo Nghị định này, "công chứng là việc phòng công
chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng đợc giao kết hoặc giao dịch

nhà nớc" hay "Công chứng" thì quan niệm về công chứng của Việt Nam vẫn
không thay đổi, đó là: công chứng là hoạt động của Nhà nớc, do Nhà nớc
trực tiếp thực hiện. Với quan niệm này, công chứng Việt Nam đợc tổ chức
theo mô hình công chứng nhà nớc (phòng công chứng là cơ quan nhà nớc,
công chứng viên là công chức nhà nớc, hởng lơng từ ngân sách nhà nớc,
Nhà nớc đảm bảo toàn bộ cơ sở vật chất cho hoạt động công chứng). Đây là mô
hình công chứng mang tính đặc thù của Liên Xô (cũ) và hầu hết các nớc xã hội
chủ nghĩa trớc đây trong điều kiện kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp.
Những điểm cha phù hợp trên đã dẫn đến các cách hiểu khác nhau (thậm
chí trái ngợc nhau) không chỉ của xã hội mà cả các nhà quản lý và đội ngũ công
chứng viên về công chứng (công chứng là một cơ quan hành chính, cũng có ý
kiến cho là cơ quan hành chính - t pháp, hoạt động công chứng là hoạt động
quản lý nhà nớc; công chứng là một tổ chức nghề nghiệp, hoạt động công chứng
là hoạt động nghề nghiệp, hỗ trợ công dân, hỗ trợ quản lý nhà nớc và hỗ trợ t
pháp, do đó, công chứng là một thiết chế bổ trợ t pháp cũng giống nh luật s).
11
Sự thiếu thống nhất trong nhận thức về công chứng nh trên đã gây
ảnh hởng không nhỏ tới chất lợng, hiệu quả và vai trò công chứng trong đời
sống xã hội. Nguyên nhân chính ở đây là do chúng ta cha có đợc nhận thức
đúng về bản chất công chứng.
Nh vậy, để có đợc nhận thức thống nhất, chuẩn xác về công chứng,
tạo tiền đề cho sự phát triển công chứng, phát huy vai trò công chứng trong
đời sống xã hội, về mặt lý luận, trớc hết cần nghiên cứu làm rõ bản chất
công chứng.
Vậy, nên hiểu nh thế nào về bản chất công chứng?
Theo Từ điển Luật học của Mỹ, công chứng (Notarial) là hoạt động
của công chứng viên Công chứng viên, theo tiếng Latinh là "Notarius".
"Notarius" trong Luật Anh cổ là một ngời sao chép hay trích lục các loại văn
bản, giấy tờ khác, ngời làm chứng. Trong Luật La Mã, là ngời ghi chép, th
ký, tốc ký, ngời ghi chép các hoạt động trong nghị viện của tòa án, hoặc ghi

tháng chắc chắn, lu giữ và cấp các bản sao văn bản công chứng" [118, tr. 8].
(Điều 1 Điều lệ công chứng đợc ban hành kèm theo Lệnh số 48/FR ngày
29/8/1968 của Cộng hòa Bê-nanh cũng chép lại gần nh nguyên văn điều luật
trên) [118, tr. 125].
ở Vơng quốc Anh (một trong các điển hình của trờng phái công
chứng Anglo - Saxon), quy chế công chứng năm 1801, 1833, 1834 quy định:
Công chứng viên là viên chức đợc bổ nhiệm để thực hiện
các hành vi công chứng sau: Soạn thảo, chứng nhận hoặc xác lập
chứng th và các giấy tờ khác có liên quan đến việc: chuyển nhợng
hoặc xác lập giấy tờ khác có liên quan đến việc chuyển nhợng bất
động sản và tài sản cá nhân, giấy ủy quyền liên quan đến bất động
13
sản và tài sản cá nhân ở Anh, xứ Wales, các nớc khác thuộc khối
cộng đồng Anh hoặc ở nớc ngoài; chứng nhận hoặc xác nhận các
giấy tờ liên quan đến di chúc, lập kháng nghị hàng hải về sự cố
xảy ra đối với tàu và hàng hóa trên tàu trong thời gian tàu đi trên
biển [111, tr. 90].
Hệ thống công chứng Collectiviste lại có quan niệm về công chứng khác
với hệ thống công chứng Latinh và hệ thống công chứng Anglo - Saxon. ở hệ
thống công chứng Collectiviste, công chứng cha đợc coi là một nghề (công
chứng viên là công chức nhà nớc, kiêm nhiệm cả việc chứng thực (thị thực
hành chính); việc công chứng đợc giao cho cả các chủ thể không phải là công
chứng viên đảm nhiệm; công chứng viên không có chứng chỉ hành nghề, không
phải chịu trách nhiệm dân sự trớc khách hàng, chỉ phải chịu trách nhiệm hành
chính trớc Nhà nớc về những sai phạm trong hoạt động của mình).
Tuy nhiên, hiện nay trong hệ thống công chứng Collectiviste, hầu hết
các nớc đã chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng đều có sự đổi mới trong
quan niệm về công chứng phù hợp với quan niệm của hệ thống công chứng
Latinh và hệ thống Anglo - Saxon, đó là xác định công chứng là một nghề tự
do đặt dới sự quản lý của Nhà nớc và đang từng bớc tiến hành cải cách

Nhà nớc. Thậm chí, ở một số quốc gia, trong những điều kiện lịch sử nhất
định, công chứng còn trở thành một hoạt động thuộc chức năng xã hội của
Nhà nớc (chức năng cung ứng dịch vụ công).
Nh vậy, bản chất công chứng là hoạt động mang tính dịch vụ công
(Service public). Với sự tinh thông nghề nghiệp, bằng việc t vấn, soạn thảo,
chứng nhận các hợp đồng, giấy tờ, công chứng viên đã cung cấp dịch vụ bảo
đảm an toàn pháp lý cho công dân và các tổ chức khi tham gia giao dịch dân
sự, kinh tế, thơng mại.
15
Khẳng định bản chất công chứng nh trên, cho phép chúng ta thấy rõ:
Công chứng là một hoạt động xã hội - nghề nghiệp, không mang đặc trng quyền
lực nhà nớc. Về mặt tổ chức, công chứng cần đợc xác định là một tổ chức nghề
nghiệp chứ không phải là cơ quan hành chính hay cơ quan hành chính - t pháp.
Nh vậy, để đảm bảo sự phù hợp, hài hòa, tơng thích với quan niệm
của thế giới về công chứng, tạo tiền đề cho sự phát triển công chứng và nâng
cao hiệu quả công chứng, phát huy vai trò công chứng trong nền kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta hiện nay, công chứng nên đợc
hiểu nh sau: Công chứng là hành vi của công chứng viên lập, chứng nhận tính
xác thực của các giao dịch nhằm đảm bảo an toàn pháp lý cho các chủ thể
tham gia giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật. Văn bản công
chứng có giá trị thực hiện và giá trị chứng cứ.
1.1.2. Đặc điểm công chứng
Từ khái niệm trên, có thể thấy hoạt động công chứng có các đặc điểm
cơ bản:
Đặc điểm thứ nhất: Nội dung cơ bản của hoạt động công chứng là lập
hợp đồng, giấy tờ theo yêu cầu của đơng sự và chứng nhận các hợp đồng
giấy tờ theo quy định của pháp luật.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất của hoạt động công chứng, là căn cứ quan
trọng nhất để phân biệt hoạt động công chứng với các hoạt động mang tính chất
hành chính của các cơ quan công quyền. Hành vi lập hợp đồng, giấy tờ theo

văn bản, giấy tờ đó.
Khi đã hoàn tất hai giai đoạn trên, hợp đồng, giấy tờ đã trở thành văn
bản công chứng - một loại công chứng th (văn bản có tính chất công, có tính
chất nh văn bản của cơ quan công quyền, đợc lập ra do ngời có thẩm
quyền và theo trình tự, thể thức chặt chẽ). Ngợc lại, nếu công chứng viên mới
lập văn bản, (giai đoạn 1) hoặc kể cả vì lẽ nào đó, công chứng viên đã ghi lời
17
chứng mà cha ký vào văn bản, thì đó mới chỉ là một t chứng th (văn bản có
tính chất nh hai bên tự lập, không theo thể thức bắt buộc, không có chứng
nhận của công chứng viên).
Ngoài ra, sau khi lập, chứng nhận các hợp đồng giấy tờ nh đã phân
tích ở trên, công chứng viên còn phải cấp văn bản cho khách hàng và có nghĩa
vụ lu giữ văn bản công chứng lâu dài, đảm bảo an toàn và cấp bản sao văn
bản công chứng khi có yêu cầu của các bên giao kết hợp đồng, giao dịch.
Với phân tích trên, có thể thấy, hoạt động công chứng là hoạt động nghề
nghiệp có tính chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa cao, khác với hoạt động
chuyên môn thuần túy nh hoạt động của các công chức hành chính. Bản thân
hoạt động công chứng chứa đựng tính phức tạp, đa dạng của các giao dịch dân
sự, kinh tế, thơng mại. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà hầu hết các quốc
gia trên thế giới đều có các quy định nghiêm ngặt về điều kiện, tiêu chuẩn bổ
nhiệm công chứng viên.
Đặc điểm thứ hai: Chủ thể của hoạt động công chứng là công chứng viên.
Công chứng viên do Nhà nớc bổ nhiệm, chịu trách nhiệm tiếp nhận
hoặc lập các loại hợp đồng, giấy tờ theo yêu cầu của đơng sự, bảo đảm tính
chính xác về ngày, tháng, năm, địa điểm lập văn bản, hợp đồng; ghi nhận một
cách khách quan, trung thực, chính xác ý chí, nguyện vọng, thỏa thuận của
các bên đơng sự; đem lại cho các hợp đồng, giấy tờ đó giá trị nh văn bản của
cơ quan công quyền (công chứng th - Acte - authentique).
ở hầu hết các quốc gia, công chứng viên là ngời hành nghề tự do
trong khuôn khổ luật định.

đồng, giấy tờ đã đợc công chứng chính là bằng chứng không thể chối cãi giữa
các bên tham gia hợp đồng, giao dịch. Từ đó, quyền, lợi ích hợp pháp, chính
đáng của các bên đợc bảo vệ và bảo đảm thực hiện.
19
Tuy nhiên trên thế giới, các hệ thống pháp luật khác nhau có quan
điểm khác nhau khi xác định giá trị chứng cứ của văn bản công chứng. Do
công chứng của hệ thống Anglo - Saxon là công chứng hình thức (công chứng
viên nhận diện đúng khách hàng, ghi đúng ngày, tháng, năm, ghi lại một cách
trung thành ý chí, các thỏa thuận của các bên, không quan tâm đến tình trạng
pháp lý của đối tợng hợp đồng, không cần biết nội dung của hợp đồng, giao
dịch có trái pháp luật, đạo đức xã hội hay không, không chịu trách nhiệm nếu
có điều khoản nào đó trong hợp đồng bất lợi cho một bên hoặc gây thiệt hại
cho ngời thứ ba), văn bản công chứng mang lại sự an toàn pháp lý thấp nên
không có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên nh phán quyết của tòa
án. Văn bản công chứng cũng có giá trị chứng cứ song không cao hơn các t
chứng th. Công chứng Latinh là công chứng nội dung, văn bản công chứng
đợc lập theo trình theo tự, thủ tục chặt chẽ do luật định, công chứng viên
không chỉ chứng nhận, đảm bảo và chịu trách nhiệm về tính đích thực của hợp
đồng, giao dịch mà còn phải đảm bảo và chịu trách nhiệm về tính hợp pháp,
không trái đạo đức xã hội của các hợp đồng, giao dịch đó, đảm bảo không
xâm hại lợi ích của ngời thứ ba hoặc của Nhà nớc. Vì vậy, văn bản công
chứng có giá trị chấp hành riêng biệt. Khi đợc xuất trình trớc tòa án với t
cách là chứng cứ, thì tòa án, nói chung không cần phải đánh giá lại tính xác
thực của những điều đã đợc ghi trong văn bản đó và mặc nhiên xem nó là
chứng cứ. Vì lý do nào đó, để bác bỏ hiệu lực chứng cứ của một văn bản công
chứng, tòa án phải xem xét theo một trình tự tố tụng riêng về chính văn bản
công chứng đó (với t cách là tha kiện chính vụ), chứ không thể tùy tiện bác
bỏ giá trị văn bản công chứng trong một vụ kiện khác.
Ngoài ra, giá trị chứng cứ của văn bản công chứng ở hệ thống công
chứng Latinh còn đợc bảo đảm ở việc văn bản công chứng đợc bảo vệ an

trái lại công chứng chỉ có ý nghĩa bổ trợ t pháp khi có tranh chấp xảy ra. Khi
có tranh chấp xảy ra, công chứng cung cấp chứng cứ không thể phản bác.
21
Cần thấy rằng, tham gia tố tụng với ý nghĩa bổ trợ pháp không phải là
mục đích tự thân với ý nghĩa quyết định sự tồn tại của hoạt động công chứng.
Sự tham gia của công chứng với ý nghĩa là cung cấp chứng cứ không mang
tính chất bắt buộc mà trên cơ sở yêu cầu của một trong các chủ thể tham gia
quá trình tố tụng (có thể là tòa án, có thể là các bên đơng sự). Song, khi có
yêu cầu, công chứng đóng vai trò hỗ trợ đắc lực cho hoạt động t pháp bằng
việc cung cấp chứng cứ không thể bác bỏ, đảm bảo cho hoạt động xét xử đợc
khách quan, nhanh chóng, chính xác, đảm bảo chất lợng và hiệu quả xét xử.
1.1.3. Vai trò công chứng trong đời sống xã hội
Công chứng là hoạt động có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội,
thể hiện:
Thứ nhất: Công chứng là một biện pháp tích cực hỗ trợ cho công dân và
các tổ chức, để bảo đảm an toàn cho họ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, thơng
mại bằng cách tạo lập văn bản công chứng - một loại công chứng th - một loại
chứng cứ không thể phản bác. Bằng sự tinh thông nghề nghiệp của công chứng
viên, với trình tự, thể thức chặt chẽ, nghiêm ngặt trong quá trình lập văn bản công
chứng, công chứng đảm bảo sự bình đẳng, tự nguyện, tự do ý chí, khách quan
của các bên giao kết hợp đồng, tránh bị lừa dối, đe dọa, nài ép, tránh sự nhầm lẫn
về chủ thể, đối tợng và nội dung của các hợp đồng giao dịch.
Không chỉ hỗ trợ cho công dân, tổ chức trong các quan hệ dân sự, kinh
tế, thơng mại, công chứng còn là một biện pháp phòng ngừa có hiệu quả và
quan trọng ở cả hai khía cạnh: tạo cho công dân ý thức thận trọng, có trách
nhiệm hơn trong việc thể hiện ý chí của mình phù hợp với pháp luật, với đạo
đức xã hội khi tham gia các quan hệ giao dịch; đồng thời nếu có xảy ra tranh
chấp trong các quan hệ pháp lý đó, thì đã có cơ sở pháp lý chắc chắn để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ngoài các vai trò truyền thống nói trên, trong điều kiện kinh tế thị trờng

23
là public service) là khái niệm đợc sử dụng rộng rãi trên thế giới hiện nay. ở
Việt Nam, khái niệm dịch vụ công mới đợc bàn đến và sử dụng trong thời
gian gần đây. Tuy nhiên, dịch vụ công không phải là cái gì mới mẻ mà chính
là những hoạt động phục vụ cho các lợi ích thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân và các tổ chức mà Nhà nớc có trách nhiệm đảm bảo.
Nhà nớc có hai chức năng cơ bản: Chức năng quản lý nhà nớc đối
với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và chức năng phục vụ cho các tổ
chức, công dân trong xã hội (chức năng xã hội).
Chức năng quản lý nhà nớc bao gồm các hoạt động quản lý và điều
tiết đời sống kinh tế - xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ mô nh pháp
luật, chiến lợc, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và kiểm tra, kiểm soát. Chức
năng phục vụ bao gồm các hoạt động nhằm phục vụ cho các lợi ích thiết yếu,
các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tổ chức (cung ứng dịch vụ công).
Việc thực hiện quản lý nhà nớc là theo nhu cầu của bản thân bộ máy nhà nớc
nhằm đảm bảo trật tự, ổn định, công bằng xã hội; còn việc cung ứng dịch vụ
công lại do nhu cầu cụ thể của các tổ chức công dân, ngay cả khi các nhu cầu
này có thể phát sinh từ những yêu cầu của Nhà nớc. Tuy nhiên, hai chức năng
này luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Theo Ph. Ăng-ghen, "ở khắp nơi, chức năng
xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo
dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó" [55, tr. 253].
Thực tế cho thấy, trên ý nghĩa nhất định, mức độ, hiệu quả thực hiện
dịch vụ công quy định mức độ, hiệu quả thực hiện chức năng chính trị của giai
cấp. Vì vậy, mọi Nhà nớc đều dành sự chú ý đặc biệt cho việc cải tiến cung ứng
dịch vụ công nhằm nâng cao chất lợng dịch vụ công, đáp ứng nhu cầu của mọi
tầng lớp nhân dân, đảm bảo sự ổn định chung của xã hội - đó chính là cơ sở để
duy trì một Nhà nớc vững mạnh. Trong quá trình chuyển từ Nhà nớc cai trị sang
Nhà nớc phục vụ, khả năng cung cấp, đảm bảo dịch vụ công đợc coi là một
trong các tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực của chính phủ. Một chính phủ
đợc coi là có năng lực khi ngày càng cung cấp nhiều dịch vụ công cho xã hội.

hoạt động thiết yếu, đáp ứng nhu cầu chung của xã hội, do nền hành chính nhà
nớc đứng ra chịu trách nhiệm cung cấp, không vì mục tiêu lợi nhuận, bị chi phối
bởi cơ chế thị trờng nhng không tuân theo quy luật của thị trờng" [34, tr. 84].
So sánh các khái niệm trên cho thấy, tuy các tác giả có các cách diễn
đạt khác nhau, song đều có những điểm chung đó là:
- Dịch vụ công là hoạt động phục vụ cho nhu cầu và lợi ích chung thiết
yếu của xã hội, cộng đồng.
- Trách nhiệm bảo đảm thuộc về Nhà nớc. Nhà nớc có trách nhiệm
bảo đảm các dịch vụ này cho xã hội, ngay cả khi Nhà nớc chuyển giao cho
các chủ thể khác thực hiện, thì Nhà nớc vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm
đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này.
Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ "ủy quyền" trong các khái niệm của
các tác giả nói trên có lẽ là cha phù hợp, thể hiện sự độc quyền của Nhà nớc
(Nhà nớc cho ai tham gia cung ứng dịch vụ công, thời gian bao lâu, hoặc rút
lại sự ủy quyền lúc nào là do Nhà nớc quyết định); điều đó đồng nghĩa với vai
trò bị động, phụ thuộc của các chủ thể phi nhà nớc trong cung ứng dịch vụ
công. Trong khi đó, xét về nguồn gốc, dịch vụ công là các hoạt động mang
bản chất xã hội sâu sắc, phát sinh và tồn tại tự nhiên trong đời sống dân sự.
Với danh nghĩa là một tổ chức quyền lực công cộng đặc biệt, Nhà nớc đảm
bảo để các dịch vụ công đó đợc cung ứng thờng xuyên, liên tục, đảm bảo
cuộc sống bình thờng của mọi ngời dân, cũng chính là đảm bảo cơ sở xã hội
của Nhà nớc.
Do đó, theo tác giả luận văn, dịch vụ công là những hoạt động phục vụ
trực tiếp các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân và các tổ chức do Nhà nớc trực tiếp đảm nhận hoặc chuyển giao cho
khu vực t nhân thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội.
Dịch vụ công có những đặc trng cơ bản sau:

Trích đoạn Quan điểm, giải pháp xã hội hóa công chứng 1 Quan điểm xã hội hóa công chứng những công trình liên quan đến luận văn đã đ−ợc công bố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status