LUẬN văn THẠC sĩ GIÁO dục QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG dân ở nước TA HIỆN NAY THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người, quyền công dân là những yếu tố cơ bản, nền tảng
của một xã hội dân chủ, văn minh. Tư tưởng về quyền con người (nhân
quyền) đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại; nhưng không phải
trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào, trong bất cứ kiểu Nhà nước nào nó
cũng tồn tại và được thừa nhận một cách đầy đủ. Vì thế, quyền con người là
một phạm trù lịch sử và là kết quả của cuộc đấu tranh không ngừng của toàn
nhân loại vươn tới những lý tưởng, giải phóng hoàn toàn con người nhằm xây
dựng một xã hội thật sự công bằng, dân chủ, nhân đạo.
Giai cấp tư sản khi thực hiện cách mạng tư sản, đã coi nhân quyền như
một vũ khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến và để
tập hợp lực lượng trong xã hội; do đó từ thế kỷ XVIII vấn đề nhân quyền đã
được giai cấp tư sản đề cập đến như Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ năm 1789, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789.
Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị
đập tan năm 1945, vấn đề nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của cả Nhà
nước xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, nên khi tổ chức Liên Hợp Quốc ra
đời thì vấn đề cơ bản, đầu tiên của tổ chức này là vấn đề nhân quyền. Nhân
quyền đã trở thành vấn đề quan trọng, thường xuyên được đề cập đến trong
quan hệ quốc tế. Liên Hợp Quốc đã ban hành hàng loạt các văn kiện khẳng
định các quyền và tự do của tất cả mọi người, đặc biệt là Hiến chương Liên
Hợp Quốc 1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 thì vấn đề
nhân quyền đã chuyển sang một bước ngoặt mới trong lịch sử nhân loại, trở
thành một quan hệ cơ bản được điều chỉnh bằng pháp luật quốc tế.
Đến nay quyền con người đã được ghi nhận, khẳng định trong Hiến
pháp của nhiều quốc gia trên thế giới.





3

toàn cầu. Thực hiện được điều đó, Đảng và Nhà nước ta đã hưởng ứng, tham
gia có hiệu quả "Thập kỷ giáo dục nhân quyền" của Liên Hợp Quốc.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đây, việc nghiên
cứu làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá những thành tựu, ưu điểm đã đạt được và
làm rõ những khuyết điểm tồn tại của vấn đề giáo dục nhân quyền; đồng thời
xác định phương hướng, nội dung, phương pháp tiếp tục thực hiện giáo dục
nhân quyền trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện
nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu
- Vấn đề giáo dục quyền con người, quyền công dân đã được Liên
Hợp Quốc, các nhà khoa học pháp lý nước ta và thế giới quan tâm nghiên
cứu. Tuy nhiên, có thể xuất phát từ quan điểm cho rằng giáo dục pháp luật đã
bao hàm cả giáo dục quyền con người, quyền công dân nên các nhà luật học
nước ta mới chỉ tập trung nghiên cứu về giáo dục pháp luật mà chưa quan tâm
nghiên cứu vấn đề giáo dục quyền con người, quyền công dân như là một lĩnh
vực nghiên cứu độc lập, riêng biệt. Vì thế thời gian qua, ở nước ta đã có rất
nhiều các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật như: "Giáo dục ý thức
pháp luật với việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa", luận án Phó tiến sĩ
của Trần Ngọc Đường; "Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và giáo dục pháp
luật cho nhân dân lao động (ở Việt Nam)", luận án Phó tiến sĩ của Nguyễn
Đình Lộc; "Giáo dục pháp luật cho nhân dân" của Nguyễn Ngọc Minh (Tạp
chí Cộng sản, số 10, 1983); "Giáo dục ý thức pháp luật để tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa và xây dựng con người mới" của Phùng Văn Tửu (Tạp
chí Giáo dục lý luận, số 4, 1985); "Giáo dục ý thức pháp luật" của Nguyễn
Trọng Bình (Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4, 1989); "Cơ sở khoa học của việc
xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật" đề tài khoa học cấp nhà nước, mã

đối có hệ thống về vấn đề giáo dục quyền con người, quyền công dân trong
điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.


5

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề giáo dục quyền con
người, quyền công dân để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác
giáo dục quyền con người - quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục quyền con người, quyền công dân.
- Đánh giá thực trạng giáo dục quyền con người, quyền công dân ở
nước ta hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục quyền con
người, quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở
Việt Nam.
4. Giới hạn nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung vào vấn đề giáo dục quyền con người, quyền công
dân ở nước ta hiện nay, qua khảo sát thực tiễn vấn đề này ở nước ta thời gian
qua.
5. Cái mới của luận văn
- Là công trình chuyên khảo nghiên cứu tương đối có hệ thống về giáo
dục quyền con người, quyền công dân ở nước ta hiện nay.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, tính đặc thù của giáo dục quyền
con người, quyền công dân ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân, làm hạn chế hiệu
quả giáo dục quyền con người, quyền công dân ở nước ta trong thời gian qua;


1.1.1. Khái niệm quyền con người, quyền công dân
Quyền con người - Nhân quyền, quyền công dân là một phạm trù lịch
sử. Từ thời cổ đại những tư tưởng và yêu sách về các quyền, mà trước hết yêu
sách về các quyền con người đã được phát sinh ở vùng Địa Trung Hải là nơi
có nền văn minh, kinh tế phát triển rực rỡ nhất lúc bấy giờ. Sau khi các quyền
con người được triển khai ở các quốc gia trong vùng và khu vực xung quanh
rồi mới xâm nhập vào xã hội châu Âu cổ đại và châu Âu mới.
Năm 1776, hầu hết các nước thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ đã tuyên bố
độc lập với đế chế Anh. Trong một văn bản có tên là "Tuyên ngôn độc lập của
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ", đã khẳng định: "... tất cả mọi người sinh ra đều
bình đẳng... tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được,
trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu
hạnh phúc" [93, tr. 15].
Như vậy, trong lịch sử phát triển của quyền con người, Tuyên ngôn
độc lập của Mỹ năm 1776 có thể được coi là sự xác nhận chính thức, đầu tiên
về mặt nhà nước về quyền con người. Khi đánh giá về văn kiện này, C.Mác
đã cho rằng: Nước Mỹ - đó là nơi "lần đầu tiên xuất hiện ý tưởng về một
nước cộng hòa dân chủ vĩ đại thống nhất, bản tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên
đã được công bố và đã có sự thúc đẩy đầu tiên đối với cuộc cách mạng châu
Âu thế kỷ XVIII" [57, tr. 65]. Tuyên ngôn này là cơ sở để xây dựng nên bản
Hiến pháp của Mỹ năm 1787.
Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề nhân quyền càng trở nên
bức xúc và trở thành mối quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở


8

đó, ngày 24-10-1945 tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời và đã thông qua bản
"Hiến chương Liên Hợp Quốc" với mục đích chính là vì vấn đề quyền con

mà chưa đề cập đến khái niệm của vấn đề này theo nghĩa được khái quát hóa
từ những đặc điểm, nội dung, tính chất đặc thù của nó.
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, mỗi
định nghĩa là một sự biểu hiện khác nhau về góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân
quyền. Tuy nhiên, tổng hợp lại các quan niệm đó được phân chia thành ba
quan niệm chủ yếu, khác nhau về quyền con người như sau :
- Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con người là một thực thể
tự nhiên, nên quyền con người phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền",
nghĩa là quyền con người, quyền lợi của con người với tư cách là người, gắn
liền với cá nhân con người, không thể tách rời.
Quan điểm này được các đại biểu tư tưởng của giai cấp tư sản ở thế kỷ
XVII, XVIII như Crotius, Hobbes, Kant, Locke, Spinoza, Rousseau hoàn
thiện và nêu ra trong học thuyết về pháp luật tự nhiên. Trường phái này cho
rằng, quyền tự nhiên, pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật nhà
nước.
- Về quan niệm thứ hai: Trái với quan niệm thứ nhất, quan niệm này
lại chỉ đặt con người và quyền con người trong mối quan hệ xã hội. Quan
niệm này cho rằng, con người chỉ là một thực thể xã hội, nên quyền của nó
chỉ được xác định trong mối tương quan với các thực thể xã hội khác và vì là
quan hệ xã hội nên nó được chế độ nhà nước, pháp luật điều chỉnh bảo vệ.
Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con người là một khái
niệm có tính lịch sử, đặt con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì
con người là thực thể của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên
quyền con người cũng luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống
áp bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất công trong xã hội. Cơ sở
của quyền con người ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn
hóa, xã hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định.


10


11

của tự nhiên, nhưng bên cạnh đó, để được gọi là người nó còn phải tồn tại
trong cộng đồng xã hội, và biến đổi cùng với cộng đồng xã hội của mình.
Bằng khả năng của mình, con người tác động vào tự nhiên, xã hội làm biến
đổi tự nhiên và xã hội để phục vụ nhu cầu tự tồn tại, phát triển của mình.
Ngược lại, những biến đổi của tự nhiên, của xã hội do con người tạo ra cũng
tác động chi phối trở lại con người, làm biến đổi con người. Do đó xét về khía
cạnh xã hội, thì "quyền con người, ngay từ khi có xã hội loài người, bên cạnh
bản tính tự nhiên còn in đậm bản tính xã hội" [65, tr. 13].
Khi xã hội hình thành giai cấp, hình thành nhà nước đã tạo ra những
chuyển biến có tính "bước ngoặt" trong sự biến đổi mối quan hệ tương quan
giữa bản tính tự nhiên và bản tính xã hội của quyền con người. Đi kèm xã hội
có giai cấp là mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giai cấp; do đó, trong điều kiện
xã hội có giai cấp thì bản tính xã hội trở thành bản tính giai cấp. Và ngay cả
bản tính tự nhiên, những giá trị phổ biến của quyền con người cũng tất yếu
chịu sự chi phối của giai cấp thống trị xã hội.
Mặt khác, quyền con người, kể cả quyền tự nhiên, bẩm sinh còn bị
ràng buộc, chi phối vào chính khả năng khám phá chinh phục tự nhiên của
chính con người, nghĩa là phụ thuộc vào khả năng hoàn thiện, phát triển của
con người, sự phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ phát triển kinh tế - xã
hội. Con người càng có khả năng chế ngự, chinh phục thiên nhiên bao nhiêu
thì tự do, quyền con người ngày càng được mở rộng, ngày càng được đảm bảo
bấy nhiêu.
Từ quan điểm trên cho thấy, về bản chất, quyền con người bao gồm cả
quyền tự nhiên và quyền xã hội. Quyền tự nhiên phải được đặt trong tổng hòa
các mối quan hệ xã hội, chịu sự chi phối, ràng buộc của xã hội, gắn liền với
quá trình chinh phục tự nhiên và xã hội. Quyền con người chỉ được đặt ra khi
nó tồn tại trong cộng đồng người. Khái niệm quyền con người chỉ xuất hiện

dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi luật định và quyền quyết


13

định các hoạt động của mình và của người khác trên cơ sở pháp luật
[31, tr. 34].
Định nghĩa này cũng mới chỉ đề cập đến quyền con người với tư cách
là phạm trù luật học.
Chúng tôi nhận thức rằng, khái niệm quyền con người phải là một
phạm trù tổng hợp, bao hàm cả bản chất và những thuộc tính đa diện - nhiều
mặt của nó. Có một định nghĩa đang được sử dụng phổ biến trong giảng dạy,
nghiên cứu về nhân quyền ở nước ta hiện nay: "Nhân quyền (hay quyền con
người) là những năng lực và nhu cầu vốn có và chỉ có ở con người, với tư
cách là thành viên cộng đồng nhân loại, được thể chế hóa bằng pháp luật quốc
gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [90, tr. 10]. Chúng tôi cho rằng, khái
niệm này bắt nguồn từ khái niệm của Mác về quyền con người. Theo Mác:
"Quyền con người là những đặc quyền chỉ có ở con người mới có, với tư cách
là con người, là thành viên xã hội loài người" [57, tr. 14]. Định nghĩa này
cũng tương ứng với nội dung của khái niệm quyền con người do Trưởng đoàn
đại biểu Việt Nam phát biểu tại hội nghị quốc tế về nhân quyền ở Viên (Áo)
tháng 6 năm 1993: Quyền con người là một phạm trù tổng hợp, vừa là "chuẩn
mực tuyệt đối" mang tính phổ biến, vừa là "sản phẩm tổng hợp của một quá
trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triền", quyền con người "không
thể tách rời", đồng thời cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế - xã hội... Quyền con người là một tổng thể những quyền gắn bó
với nhau trong mối tương quan biện chứng. Đó là quyền cá nhân và quyền
của dân tộc cộng đồng, quyền chính trị - dân sự và kinh tế văn hóa xã hội,
quyền của cá nhân đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội... Trong thời đại ngày
nay, quyền con người không thể tách khỏi hòa bình, dân chủ và phát triển.

người cũng rộng hơn chủ thể quyền công dân vì ngoài những cá nhân là công
dân, chủ thể quyền con người còn bao gồm cả những người không phải là
công dân như đã người nước ngoài, người không quốc tịch.
Nhận xét về vấn đề này, C.Mác - Ph.Ăngghen cho rằng:


17

Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm có nội
dung và ý nghĩa khác nhau, nhưng không thể tách biệt đến mức đối
lập, mà về thực chất chúng thống nhất với nhau. Quyền con người
phải "thu hút" được quyền công dân vào nội dung của nó, vì chúng
nằm trong một chỉnh thể thống nhất, phản ánh tổng thể nhu cầu của
con người hiện thực trong điều kiện còn tồn tại Nhà nước [57, tr. 14].
Và "Vì vậy, Mác - Ăngghen đã sử dụng cả hai khái niệm Quyền con
người và Quyền công dân" [57, tr. 14].
1.1.2. Khái niệm giáo dục quyền con người, quyền công dân
1.1.2.1. Các quan niệm khác nhau về giáo dục quyền con người,
quyền công dân
Hiện đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục quyền con
người, quyền công dân.
- Quan niệm của giai cấp tư sản: Các nước tư bản hiện đang rất quan
tâm đến vấn đề giáo dục quyền con người. Vấn đề này được các nước phương
Tây thực hiện thường xuyên, liên tục cho mọi đối tượng cả trong phạm vi
quốc gia và cả trên phạm vi toàn cầu dưới nhiều hình thức, phương pháp khác
nhau, nhằm đạt được những mục đích khác nhau. Xuất phát từ lợi ích chính trị
của mình, họ chỉ tập trung vào việc giáo dục một số quan điểm về quyền con
người dưới đây:
Ưu tiên giáo dục các quyền tự nhiên:
Quan niệm này xuất phát từ việc tuyệt đối hóa quyền tự nhiên của con

tôi đặc biệt nghĩ đến một sự kiện lịch sử như sự phá hủy văn hóa và
các dân tộc thổ dân Mỹ, sự bóc lột nô lệ da đen châu Phi trong khi
xây dựng kinh tế quốc gia... [3, tr. 50].
+ Khi phân tích về quan hệ giai cấp ở Mỹ, trong tác phẩm "Lối sống
Mỹ" (đã xuất bản ở 9 nước, bằng 7 ngôn ngữ khác nhau) A.R.Lanier đã viết:


19

... Hoa Kỳ thường tự hào là một xã hội không giai cấp.
Khách lạ dễ thấy ở Mỹ lương cao và mức sinh hoạt cao, quần áo
các kiểu may sẵn hàng loạt, ăn nói bỗ bã, hay sử dụng tên cúng
cơm... Thực ra thì có giai cấp, bắt đầu ngay từ khu vực ở. Có điều là
ranh giới giai cấp ấy rất dễ bị hủy bỏ, chỉ cần có nghị lực và thành
công. Biết bao nhiêu người giàu sang xuất thân hàn vi. Người Mỹ
lại thay đổi chổ ở luôn; trong 5 gia đình, có 1 cứ ba năm lại dọn nhà
một lần. Với tâm lý tự lực, không có thành kiến giai cấp như ở nước
khác.
Giai cấp gắn với gia đình. Từ thế chiến II, gia đình Mỹ càng
lỏng lẻo; thành công cá nhân ít có ảnh hưởng đến gia đình, do đó,
khái niệm giai cấp cũng có phần mờ nhạt hơn. Ngày nay, các khái
niệm chủng tộc, gốc rễ dân tộc, địa phương... thường át khái niệm
giai cấp. Vị trí xã hội không phải là một yếu tố ổn định, thừa hưởng
của giai cấp như nhiều nơi khác" [78, tr. 152].
Ở Pháp, quốc gia được coi là cái nôi của quyền tự do công dân khi từ
năm 1789 đã công bố bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng.
Nội dung Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp gần đây nhất tiếp
tục được thể hiện trong Hiến pháp của Cộng hòa Pháp năm 1958, đã toát lên
tư tưởng chủ đạo của nó là:
Hoạt động tự do của con người là một quyền tự nhiên, vì

Theo quy định của Hiến pháp Pháp, một cơ sở quan trọng để bảo đảm
các quyền tự do là nguyên tắc tính phù hợp, dung hòa giữa các quyền tự do,
tính chất cùng tồn tại trong quan hệ thống nhất giữa các quyền tự do công cộng,
địa phương và cá nhân. Trong đó, các quyền tự do công cộng (mục 2 Điều 34
Hiến pháp Pháp), các quyền tự do của các tập thể địa phương và vùng lãnh
thổ (mục 4 Điều 34, mục 2 Điều 72 Hiến pháp Pháp) đều được coi là "nền
tảng để tôn cao quyền tự do của cá nhân, của công dân cũng như quyền chiếm
giữ và phân chia tài sản riêng" [47, tr. 373]. Như vậy, nghĩa vụ của bộ máy
nhà nước là phải đảm bảo thực hiện đúng pháp luật và trách nhiệm của mình để


21

bảo đảm tôn trọng và thực hiện ở mức độ cao nhất các quyền, tự do của công
dân.
Ở Đức, quyền công dân bắt đầu được ghi nhận trong Hiến pháp từ
năm 1818 - 1819 (Hiến pháp Baria và Bađen năm 1818, Nurtemberg năm
1819), khi đó, nước Đức còn đang ở trong thời kỳ quân chủ lập hiến. Đây là
thời kỳ chuyển giao giữa chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa nên
thời kỳ này đã có một sự dung hòa, thích nghi giữa trật tự pháp luật quân chủ
tuyệt đối với những đòi hỏi về kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản mà
trong đó, cái ảnh hưởng to lớn là những tư tưởng của chủ nghĩa tự do kinh tế.
Tư tưởng này đã trở thành căn cứ nền tảng cho việc hình thành nên những
quyền và tự do công dân có tính kinh điển đang dần được xác nhận trong
pháp luật thực định và tồn tại trong các Hiến pháp, văn bản pháp luật của
nước Đức sau này. Điều 1 Luật cơ bản của Đức quy định: "Việc tôn trọng và
bảo vệ các quyền của con người được tuyên bố là nguyên tắc cơ bản của toàn
bộ quyền lực nhà nước" [47, tr. 410]. Nguyên tắc quyền tự chủ của nhân dân
và học thuyết quyền tự nhiên được tiếp tục thể hiện ở Điều 4 Luật cơ bản khi
nội dung của điều luật này tuyên bố cấm vi phạm và xuyên tạc các quyền của

chủ yếu quan điểm phương Tây [107, tr. 3].
Ông cũng cho rằng, hiện có nhiều người nghi ngờ thuật ngữ "các
quyền xã hội - kinh tế", họ thậm chí còn không cả thừa nhận các quyền này
như là một bộ phận trong toàn bộ các quyền cơ bản của con người và không
chịu coi đó là những quyền phải được nhà nước bảo đảm. Cơ sở của quan
điểm này là việc trong các xã hội kinh doanh tư nhân (chủ yếu là Tây Âu và
Bắc Mỹ), con người phải tự lo liệu lấy cho mình và "trong những điều kiện
ấy, nói đến bảo đảm những quyền xã hội - kinh tế sẽ là vô nghĩa và mâu thuẫn
với mâu thuẫn xã hội. Trong lòng xã hội tự do kinh doanh, Nhà nước không
sản xuất hàng hóa và dịch vụ, nó cũng không sở hữu nhà ở và bất động sản,
do đó, nó không thể bảo đảm cho con người những của cải loại ấy" [107, tr.
5]. Khi Nhà nước cần đảm bảo mức sống cho một bộ phận nhân dân nghèo


23

khổ nhất trong xã hội thì Nhà nước phải bắt những người có thu nhập cao
phải tự hạn chế mình để nuôi sống bộ phận nghèo khổ trong xã hội. Điều này
tuy đang được khuyến khích ở các nước tư bản nhưng nó lại được coi là hoạt
động từ thiện chứ không phải là sự tôn trọng và bảo vệ các quyền xã hội và
kinh tế của công dân. Hay nói rõ hơn, nó không phải là một quyền của công
dân.
Về vấn đề này, chúng ta cũng có thể thấy được rất rõ trong hệ thống
pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức. Hiến pháp năm 1848 của Đức lần đầu
tiên ghi nhận một số quyền xã hội, phản ánh ảnh hưởng của tư tưởng xã hội dân chủ, thể hiện sự quan tâm đến quyền lợi của giai cấp khác ngoài giai cấp tư
sản, thể hiện quan niệm mới về quyền con người không chỉ là các quyền chính
trị và dân sự. Tuy nhiên, trong thực tế, các quyền này được phân biệt rất rõ ràng:
... đồng thời với việc các quyền chính trị và tự do công dân
được xem như là những quyền có tính chất truyền thống, tức là
những bảo đảm chống lại sự tùy tiện của các cơ quan thừa hành và

nhận, sẽ bảo đảm cho tự do của tất cả chúng ta. Thiếu sự khoan
dung chắc chắn chúng ta sẽ không làm được gì... tính phổ biến của
nhân quyền sẽ cho nhân quyền sức mạnh. Nó là động lực để nhân
quyền liên kết các biên giới quốc gia, vượt qua mọi trở ngại, thách
thức và bạo lực... Cuộc đấu tranh cho các quyền con người trên toàn
cầu luôn diễn ra ở khắp mọi nơi và đã là cuộc đấu tranh chống trả
tất cả các hình thức chuyên chế tàn bạo và sự bất công, chống lại
tình trạng nô lệ, chống lại chủ nghĩa thực dân, chống lại chủ nghĩa
A-pac-thai. Ngày hôm nay, cuộc đấu tranh đó chưa hề giảm sức
mạnh và chưa bị khác trước [50, tr. 1].
Nhân dịp này, Mary Robinson - Đại diện cho Cao ủy Liên Hợp Quốc
cũng có một thông điệp:
Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về nhân quyền nguyện
hỗ trợ tất cả những ai hành động theo tư tưởng của Tuyên ngôn thế
giới về nhân quyền với những dòng mở đầu như sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status