giáo dục quyền con người, quyền công dân ở nước ta hiện nay thực trạng và giải pháp - Pdf 21

1

mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con ngời, quyền công dân là những yếu tố cơ bản, nền tảng
của một xã hội dân chủ, văn minh. T tởng về quyền con ngời (nhân quyền)
đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại; nhng không phải trong bất
cứ hình thái kinh tế - xã hội nào, trong bất cứ kiểu Nhà nớc nào nó cũng tồn
tại và đợc thừa nhận một cách đầy đủ. Vì thế, quyền con ngời là một phạm
trù lịch sử và là kết quả của cuộc đấu tranh không ngừng của toàn nhân loại
vơn tới những lý tởng, giải phóng hoàn toàn con ngời nhằm xây dựng một
xã hội thật sự công bằng, dân chủ, nhân đạo.
Giai cấp t sản khi thực hiện cách mạng t sản, đã coi nhân quyền nh
một vũ khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến và để
tập hợp lực lợng trong xã hội; do đó từ thế kỷ XVIII vấn đề nhân quyền đã
đợc giai cấp t sản đề cập đến nh Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ năm 1789, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789.
Sau khi chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị
đập tan năm 1945, vấn đề nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của cả Nhà
nớc xã hội chủ nghĩa và t bản chủ nghĩa, nên khi tổ chức Liên Hợp Quốc ra
đời thì vấn đề cơ bản, đầu tiên của tổ chức này là vấn đề nhân quyền. Nhân
quyền đã trở thành vấn đề quan trọng, thờng xuyên đợc đề cập đến trong
quan hệ quốc tế. Liên Hợp Quốc đã ban hành hàng loạt các văn kiện khẳng
định các quyền và tự do của tất cả mọi ngời, đặc biệt là Hiến chơng Liên
Hợp Quốc 1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngời 1948 thì vấn đề
nhân quyền đã chuyển sang một bớc ngoặt mới trong lịch sử nhân loại, trở
thành một quan hệ cơ bản đợc điều chỉnh bằng pháp luật quốc tế.
Đến nay quyền con ngời đã đợc ghi nhận, khẳng định trong Hiến
pháp của nhiều quốc gia trên thế giới.
2


cầu. Thực hiện đợc điều đó, Đảng và Nhà nớc ta đã hởng ứng, tham gia có
hiệu quả "Thập kỷ giáo dục nhân quyền" của Liên Hợp Quốc.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên đây, việc nghiên
cứu làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá những thành tựu, u điểm đã đạt đợc và
làm rõ những khuyết điểm tồn tại của vấn đề giáo dục nhân quyền; đồng thời
xác định phơng hớng, nội dung, phơng pháp tiếp tục thực hiện giáo dục
nhân quyền trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở nớc ta hiện
nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách.
2. Tình hình nghiên cứu
- Vấn đề giáo dục quyền con ngời, quyền công dân đã đợc Liên Hợp
Quốc, các nhà khoa học pháp lý nớc ta và thế giới quan tâm nghiên cứu. Tuy
nhiên, có thể xuất phát từ quan điểm cho rằng giáo dục pháp luật đã bao hàm
cả giáo dục quyền con ngời, quyền công dân nên các nhà luật học nớc ta
mới chỉ tập trung nghiên cứu về giáo dục pháp luật mà cha quan tâm nghiên
cứu vấn đề giáo dục quyền con ngời, quyền công dân nh là một lĩnh vực
nghiên cứu độc lập, riêng biệt. Vì thế thời gian qua, ở nớc ta đã có rất nhiều
các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật nh: "Giáo dục ý thức pháp
luật với việc tăng cờng pháp chế xã hội chủ nghĩa", luận án Phó tiến sĩ của
Trần Ngọc Đờng; "ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa và giáo dục pháp luật
cho nhân dân lao động (ở Việt Nam)", luận án Phó tiến sĩ của Nguyễn Đình
Lộc; "Giáo dục pháp luật cho nhân dân" của Nguyễn Ngọc Minh (Tạp chí
Cộng sản, số 10, 1983); "Giáo dục ý thức pháp luật để tăng cờng pháp chế
xã hội chủ nghĩa và xây dựng con ngời mới" của Phùng Văn Tửu (Tạp chí
Giáo dục lý luận, số 4, 1985); "Giáo dục ý thức pháp luật" của Nguyễn Trọng
Bình (Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4, 1989); "Cơ sở khoa học của việc xây
dựng ý thức và lối sống theo pháp luật" đề tài khoa học cấp nhà nớc, mã số
07-17 do Viện Nhà nớc - Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và
4


3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn của vấn đề giáo dục quyền con
ngời, quyền công dân để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cờng công tác
giáo dục quyền con ngời - quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà
nớc pháp quyền ở nớc ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ cơ sở lý luận về giáo dục quyền con ngời, quyền công dân.
- Đánh giá thực trạng giáo dục quyền con ngời, quyền công dân ở
nớc ta hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cờng công tác giáo dục quyền con
ngời, quyền công dân trong điều kiện xây dựng Nhà nớc pháp quyền ở
Việt Nam.
4. Giới hạn nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung vào vấn đề giáo dục quyền con ngời, quyền công
dân ở nớc ta hiện nay, qua khảo sát thực tiễn vấn đề này ở nớc ta thời gian qua.
5. Cái mới của luận văn
- Là công trình chuyên khảo nghiên cứu tơng đối có hệ thống về giáo
dục quyền con ngời, quyền công dân ở nớc ta hiện nay.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, tính đặc thù của giáo dục quyền
con ngời, quyền công dân ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân, làm hạn chế hiệu
quả giáo dục quyền con ngời, quyền công dân ở nớc ta trong thời gian qua;
trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt vấn đề giáo dục
quyền con ngời, quyền công dân ở Việt Nam.
6

6. Phơng pháp nghiên cứu
- Luận văn đợc thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà
nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quan hệ giữa Nhà nớc pháp

trong những quyền đó có quyền đợc sống, quyền tự do và quyền mu cầu
hạnh phúc" [93, tr. 15].
Nh vậy, trong lịch sử phát triển của quyền con ngời, Tuyên ngôn
độc lập của Mỹ năm 1776 có thể đợc coi là sự xác nhận chính thức, đầu tiên
về mặt nhà nớc về quyền con ngời. Khi đánh giá về văn kiện này, C.Mác đã
cho rằng: Nớc Mỹ - đó là nơi "lần đầu tiên xuất hiện ý tởng về một nớc
cộng hòa dân chủ vĩ đại thống nhất, bản tuyên ngôn nhân quyền đầu tiên đã
đợc công bố và đã có sự thúc đẩy đầu tiên đối với cuộc cách mạng châu Âu
thế kỷ XVIII" [57, tr. 65]. Tuyên ngôn này là cơ sở để xây dựng nên bản Hiến
pháp của Mỹ năm 1787.
Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, vấn đề nhân quyền càng trở nên
bức xúc và trở thành mối quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở
8

đó, ngày 24-10-1945 tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời và đã thông qua bản
"Hiến chơng Liên Hợp Quốc" với mục đích chính là vì vấn đề quyền con
ngời trên phạm vi toàn cầu. Tiếp đến, tháng 12-1948 Liên Hợp Quốc đã công
bố bản "Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền". Trên cơ sở này, hàng loạt văn
kiện quốc tế về nhân quyền đợc tuyên bố, ký kết và trở thành luật pháp quốc
tế về quyền con ngời.
ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thì Việt
Nam đã có một lịch sử truyền thống lâu đời, trải qua suốt quá trình dựng nớc
và giữ nớc về sự hình thành và đảm bảo quyền con ngời. Tuy nhiên, phải
đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công mới thực sự mở ra một
kỷ nguyên mới về quyền con ngời , thời kỳ mà quyền con ngời đợc đề cao,
đợc chính thức ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật.
Mặc dù vấn đề quyền con ngời, quyền công dân đã đợc hình thành
từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. ở Việt Nam cũng vậy, nhng do nó đợc
nhìn nhận dới những góc độ khác nhau (triết học, chính trị học, kinh tế học,
luật học ), xuất phát từ những mục đích, màu sắc t tởng, lãnh địa chính trị của

đợc xác định trong mối tơng quan với các thực thể xã hội khác và vì là quan
hệ xã hội nên nó đợc chế độ nhà nớc, pháp luật điều chỉnh bảo vệ.
Quan niệm này có tính tích cực khi coi quyền con ngời là một khái
niệm có tính lịch sử, đặt con ngời trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Vì
con ngời là thực thể của xã hội, có mối quan hệ phổ biến với xã hội nên
quyền con ngời cũng luôn gắn liền với đấu tranh giai cấp, đấu tranh chống áp
bức bóc lột, đấu tranh chống bạo lực, chống bất công trong xã hội. Cơ sở của
quyền con ngời ở đây chính là trình độ phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã
hội và do chế độ kinh tế, chế độ xã hội quyết định.
- Quan niệm thứ ba: Quan niệm của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề
quyền con ngời. Quan niệm này đã khắc phục đợc tính phiến diện, phản
khoa học về con ngời, quyền con ngời ở các quan niệm trên.
Xuất phát từ quan niệm coi con ngời vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là
sản phẩm của xã hội, con ngời mặc dù vẫn là một thực thể tự nhiên nh các
10

loài động vật khác, nhng lại khác với loài động vật khác ở chỗ con ngời chỉ
thực sự tồn tại với t cách là một con ngời khi nó đợc tồn tại trong cộng
đồng xã hội. Hai mặt này tồn tại biện chứng trong một con ngời. Trong cái tự
nhiên của con ngời có mặt xã hội và trong cái xã hội của con ngời có mặt tự
nhiên. Mặt này trở thành tiền đề cho mặt kia trong mối quan hệ chặt chẽ
không thể tách rời. Xuất phát từ quan niệm này về quyền con ngời nên chủ
nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con ngời: "Về bản chất bao hàm
cả hai mặt tự nhiên và xã hội" [65, tr. 12].
Xét về mặt tự nhiên, C.Mác cho rằng, con ngời là "động vật xã
hội" [63, tr. 855] có khả năng "tái sinh ra con ngời", con ngời là động vật cao
cấp nhất trong quá trình tiến hóa. Do đó, về mặt này, cũng nh quan niệm thứ
nhất, quyền con ngời trớc hết là một thuộc tính tự nhiên. Quyền con ngời
không phải là một "tặng vật", do giai cấp thống trị ban phát thông qua nhà
nớc mà quyền con ngời trong hình thức lịch sử tự nhiên của nó mang bản

thì tự do, quyền con ngời ngày càng đợc mở rộng, ngày càng đợc đảm bảo
bấy nhiêu.
Từ quan điểm trên cho thấy, về bản chất, quyền con ngời bao gồm cả
quyền tự nhiên và quyền xã hội. Quyền tự nhiên phải đợc đặt trong tổng hòa
các mối quan hệ xã hội, chịu sự chi phối, ràng buộc của xã hội, gắn liền với
quá trình chinh phục tự nhiên và xã hội. Quyền con ngời chỉ đợc đặt ra khi
nó tồn tại trong cộng đồng ngời. Khái niệm quyền con ngời chỉ xuất hiện
khi con ngời bị những thực thể ngời khác xâm hại đến lợi ích của mình.
Hoặc ngợc lại, nếu con ngời tồn tại độc lập, không có mối liên hệ cộng
đồng, không bị các thực thể khác trong cộng đồng tác động xâm hại đến lợi
ích của mình thì không thể làm xuất hiện khái niệm quyền con ngời.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quyền con ngời không phải
chỉ là phép cộng đơn giản đối với hai quan niệm về quyền con ngời nêu trên,
mà từ phân tích nêu trên cho thấy bản chất hai mặt tự nhiên và xã hội của
12

quyền con ngời có những thuộc tính phức tạp và luôn có sự thống nhất giữa
hai mặt đối lập.
Nhận thức khái niệm quyền con ngời với đầy đủ bản chất, thuộc tính
của nó cho thấy quyền con ngời là một phạm trù phức tạp. Vì vậy, cần thiết
phải đa ra định nghĩa về quyền con ngời. Tuy nhiên, nếu chỉ đa ra định
nghĩa quyền con ngời với t cách là một phạm trù riêng biệt của chính trị
học, kinh tế học, triết học, luật học sẽ là điều phiến diện, không đầy đủ, vì nh
thế nó mới chỉ thể hiện đợc quyền con ngời dới góc độ khoa học, mà
không thể hiện đợc bản chất cũng nh tính đa diện của vấn đề này. Hay nói
cách khác, nó mới chỉ thể hiện trạng thái tĩnh của quyền con ngời.
Jacques Mourgon (giáo s đại học khoa học xã hội Toulouse) đa ra
định nghĩa: "Quyền con ngời là những đặc quyền đợc các quy tắc điều
khiển mà con ngời giữ riêng lấy trong các quan hệ của mình với các cá nhân
và với chính quyền" [68, tr. 12]. Định nghĩa này chủ yếu đề cập đến quyền

đôi với nghĩa vụ đối với xã hội Trong thời đại ngày nay, quyền con ngời
không thể tách khỏi hòa bình, dân chủ và phát triển.
Nh vậy, định nghĩa trên về nhân quyền đã đợc khái quát hóa từ góc
độ bản chất của vấn đề, đợc xem xét từ các đặc điểm của nó (so sánh giữa
con ngời và động vật khác), và cũng đợc xem xét từ góc độ giới hạn, phạm
vi của vấn đề. Định nghĩa này không chỉ khắc phục đợc tính phiến diện của
các định nghĩa khác, mà nó còn xác định rõ ràng "ranh giới" của vấn đề, hạn
chế của việc hiểu và vận dụng lệch lạc về quyền con ngời. Chúng tôi tán
thành với khái niệm này.
1.1.1.2. Khái niệm quyền công dân
Quyền công dân, về nguồn gốc lịch sử, nó là một khái niệm xuất
hiện cùng với cách mạng t sản và chỉ tồn tại trong xã hội công dân. Cách
14

mạng t sản đã biến con ngời (giai cấp thống trị trong xã hội) từ địa vị
thần dân trong nhà nớc quân chủ sang địa vị công dân trong nhà nớc
cộng hòa. Nghĩa là, khi đề cập đến khái niệm công dân là đề cập tới một bộ
phận con ngời, theo quy định của pháp luật với t cách là những thành
viên bình đẳng trong Nhà nớc, từ đó mà quyền con ngời đợc thừa nhận
một cách rộng rãi và bình đẳng với ý nghĩa là quyền công dân. Nhng
quyền công dân không phải và không bao giờ trở thành hình thức cuối cùng
của quyền con ngời, nó chỉ thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà
nớc và mối quan hệ đó đợc xác định thông qua một chế định pháp luật
đặc biệt là chế định quốc tịch.
Hiện vẫn tồn tại một số khái niệm khác nhau về quyền công dân:
- Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì quyền công dân là: "Quyền của
ngời công dân đợc thừa nhận, bao gồm quyền tự do dân chủ và các quyền
về kinh tế - văn hóa xã hội" [104, tr. 1384]
- Theo tiến sĩ Nguyễn Đình Lộc, "quyền công dân - đó là sự thể chế
hóa về mặt nhà nớc bằng pháp luật địa vị con ngời trong khuôn khổ nhà

Khái niệm quyền con ngời, là khái niệm rộng hơn so với khái niệm
quyền công dân. Nó không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nớc
mà còn thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân con ngời với cộng đồng xã hội. Do
đó, trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, quyền con ngời bao gồm toàn bộ
những quyền tự nhiên đợc xác định từ khi họ sinh ra và tồn tại trong suốt cuộc
đời của họ. Thạc sĩ Vũ Công Giao cho rằng, quyền con ngời đóng vai trò "là cơ
sở để xác định tính điều chỉnh tự định đoạt của con ngời, khả năng độc lập của
con ngời trong việc giải quyết các nhu cầu cá nhân" [36, tr. 21].
Trong quan hệ với cộng đồng nhân loại, quyền con ngời bao gồm những
nhu cầu, lợi ích của con ngời đợc ghi nhận và bảo vệ bằng cả pháp luật quốc
gia và pháp luật quốc tế. Phạm vi tồn tại của nó không chỉ trong mối quan hệ với
một nhóm, một dân tộc, một quốc gia mà còn tồn tại trong mối quan hệ với cả
16

cộng đồng nhân loại. Nó thể hiện sự bình đẳng không chỉ những ngời có chung
quốc tịch, mà còn biểu hiện sự bình đẳng của mọi ngời trong cả cộng đồng
ngời. Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, nó ngày càng trở thành yếu tố quan trọng.
Từ phân tích trên cho thấy, khái niệm quyền con ngời, quyền công
dân tuy có mối quan hệ gần gũi, mật thiết nhng không đồng nhất cả về chủ
thể lẫn nội dung. Tuy nhiên, hoàn toàn không có sự đối lập giữa quyền con
ngời và quyền công dân. Trong mối quan hệ giữa hai vấn đề này thì quyền
con ngời là khái niệm rộng hơn bao hàm cả quyền công dân, còn quyền công
dân là một thành tố, một bộ phận thiết yếu cơ bản của nó. Quyền con ngời
không thể thay thế quyền công dân, đồng thời quyền công dân không thể chứa
đựng hết dung lợng của quyền con ngời. Về chủ thể, chủ thể quyền con
ngời cũng rộng hơn chủ thể quyền công dân vì ngoài những cá nhân là công
dân, chủ thể quyền con ngời còn bao gồm cả những ngời không phải là
công dân nh đã ngời nớc ngoài, ngời không quốc tịch.
Nhận xét về vấn đề này, C.Mác - Ph.Ăngghen cho rằng:
Quyền con ngời và quyền công dân là hai khái niệm có nội

Thứ hai, khi quyền, tự do cá nhân đợc đề cao tuyệt đối sẽ dẫn đến
việc triệt tiêu quyền lợi của tập thể, nhóm, giới, xóa nhòa quyền giai cấp và sẽ
dẫn đến hệ quả mà giai cấp t sản - giai cấp đang thống trị xã hội mong muốn
là ý thức đấu tranh giai cấp trong xã hội bị thủ tiêu, ý thức đấu tranh đòi
quyền lợi của tập thể dân c, sắc tộc, bộ phận xã hội bị xóa bỏ.
Để hiểu rõ quan điểm này của giai cấp t sản, chúng tôi xin nêu một
số dẫn chứng cụ thể sau:
+ Nhà hoạt động xã hội ngời Mỹ Barbara B.Bird đã viết:
chúng tôi khai quốc bằng một cuộc cách mạng chống chủ
nghĩa thực dân áp bức. Những sự kiện ấy kết hợp với chủ nghĩa cá
nhân thô thiển. Sự thiếu chủ nghĩa cổ điển, sự tin tởng vào những
tự do mà Hiến chơng về quyền lợi (Bill of Rights) đảm bảo đã dẫn
18

đến sự chấp nhận bạo lực khi dân chúng tôi tìm cách chiếm đoạt đất
hoang, thú vật và ngời da đỏ vốn là thổ dân ở đây trớc. Điều này
khiến cho ngời ta đặt u tiên vào cá nhân hơn là gia đình hoặc cộng
đồng trong khi di chuyển để cắm những địa bàn di dân, nhiều khi ở
những miền hẻo lánh, chúng tôi đã đa điều ấy tới chỗ cực đoan.
Tôi lấy làm buồn vì sự tan vỡ của gia đình và cộng đồng Mỹ.
Tôi kinh tởm bạo lực trong nền văn hóa của chúng tôi. ấy là tôi đặc
biệt nghĩ đến một sự kiện lịch sử nh sự phá hủy văn hóa và các dân
tộc thổ dân Mỹ, sự bóc lột nô lệ da đen châu Phi trong khi xây dựng
kinh tế quốc gia [3, tr. 50].
+ Khi phân tích về quan hệ giai cấp ở Mỹ, trong tác phẩm "Lối sống
Mỹ" (đã xuất bản ở 9 nớc, bằng 7 ngôn ngữ khác nhau) A.R.Lanier đã viết:
Hoa Kỳ thờng tự hào là một xã hội không giai cấp.
Khách lạ dễ thấy ở Mỹ lơng cao và mức sinh hoạt cao, quần áo các
kiểu may sẵn hàng loạt, ăn nói bỗ bã, hay sử dụng tên cúng cơm
Thực ra thì có giai cấp, bắt đầu ngay từ khu vực ở. Có điều là ranh

đợc sử dụng và phân chia tài sản hoàn toàn tuyệt đối miễn sao việc sử dụng
và phân chia tài sản không phạm vào những gì sắc luật và quy chế không
cấm". Nhà làm luật không có quyền xâm phạm hoặc hạn chế quá mức việc
chiếm giữ, sử dụng và phân chia tài sản, phải theo đúng nguyên tắc: "Cho phép
làm tất cả những gì không gây phơng hại đến những ngời khác, hay làm hại
đến lợi ích xã hội" [47, tr. 372], hoặc theo ý kiến của Giscard d'Estaing thì nhà
làm luật:
Chỉ có đợc quyền can thiệp vào các quan hệ kinh tế tự do
dựa trên cơ sở cạnh tranh và thị trờng trong những trờng hợp bất đắc
dĩ hoặc trong những trờng hợp phải kìm lại sự tiến triển buộc cá
nhân phải mất qua nhiều công sức vất vả không đáng có, hoặc nhằm
mục đích thay đổi quá trình chuyên môn hóa nền kinh tế đang khiến
nó phụ thuộc quá vào ngời cấp vốn và thị trờng quốc tế [47, tr 372].
20

Theo quy định của Hiến pháp Pháp, một cơ sở quan trọng để bảo đảm
các quyền tự do là nguyên tắc tính phù hợp, dung hòa giữa các quyền tự do,
tính chất cùng tồn tại trong quan hệ thống nhất giữa các quyền tự do công cộng,
địa phơng và cá nhân. Trong đó, các quyền tự do công cộng (mục 2 Điều 34
Hiến pháp Pháp), các quyền tự do của các tập thể địa phơng và vùng lãnh thổ
(mục 4 Điều 34, mục 2 Điều 72 Hiến pháp Pháp) đều đợc coi là "nền tảng để
tôn cao quyền tự do của cá nhân, của công dân cũng nh quyền chiếm giữ và
phân chia tài sản riêng" [47, tr. 373]. Nh vậy, nghĩa vụ của bộ máy nhà nớc
là phải đảm bảo thực hiện đúng pháp luật và trách nhiệm của mình để bảo đảm
tôn trọng và thực hiện ở mức độ cao nhất các quyền, tự do của công dân.
ở Đức, quyền công dân bắt đầu đợc ghi nhận trong Hiến pháp từ năm
1818 - 1819 (Hiến pháp Baria và Bađen năm 1818, Nurtemberg năm 1819),
khi đó, nớc Đức còn đang ở trong thời kỳ quân chủ lập hiến. Đây là thời kỳ
chuyển giao giữa chế độ phong kiến và chế độ t bản chủ nghĩa nên thời kỳ
này đã có một sự dung hòa, thích nghi giữa trật tự pháp luật quân chủ tuyệt

trờng của Liên Xô về những quyền xã hội - kinh tế rất cứng rắn,
khó mà các nớc t bản thỏa hiệp đợc với Liên Xô trên lĩnh vực
này. Tuy thế, ngời ta vẫn tìm ra đợc cách nhân nhợng nhau,
đáng lẽ thảo chỉ một hiệp ớc về quyền con ngời, ngời ta đã thảo
ra hai bản. Hiệp ớc quốc tế về các quyền xã hội, kinh tế và văn
hóa, chủ yếu phản ánh quan điểm của Liên Xô và hiệp ớc quốc tế
về các quyền công dân và quyền chính trị của con ngời phản ánh
chủ yếu quan điểm phơng Tây [107, tr. 3].
Ông cũng cho rằng, hiện có nhiều ngời nghi ngờ thuật ngữ "các
quyền xã hội - kinh tế", họ thậm chí còn không cả thừa nhận các quyền này
nh là một bộ phận trong toàn bộ các quyền cơ bản của con ngời và không
chịu coi đó là những quyền phải đợc nhà nớc bảo đảm. Cơ sở của quan
điểm này là việc trong các xã hội kinh doanh t nhân (chủ yếu là Tây Âu và
22

Bắc Mỹ), con ngời phải tự lo liệu lấy cho mình và "trong những điều kiện ấy,
nói đến bảo đảm những quyền xã hội - kinh tế sẽ là vô nghĩa và mâu thuẫn với
mâu thuẫn xã hội. Trong lòng xã hội tự do kinh doanh, Nhà nớc không sản
xuất hàng hóa và dịch vụ, nó cũng không sở hữu nhà ở và bất động sản, do đó,
nó không thể bảo đảm cho con ngời những của cải loại ấy" [107, tr. 5]. Khi
Nhà nớc cần đảm bảo mức sống cho một bộ phận nhân dân nghèo khổ nhất
trong xã hội thì Nhà nớc phải bắt những ngời có thu nhập cao phải tự hạn
chế mình để nuôi sống bộ phận nghèo khổ trong xã hội. Điều này tuy đang
đợc khuyến khích ở các nớc t bản nhng nó lại đợc coi là hoạt động từ
thiện chứ không phải là sự tôn trọng và bảo vệ các quyền xã hội và kinh tế của
công dân. Hay nói rõ hơn, nó không phải là một quyền của công dân.
Về vấn đề này, chúng ta cũng có thể thấy đợc rất rõ trong hệ thống pháp
luật của Cộng hòa Liên bang Đức. Hiến pháp năm 1848 của Đức lần đầu tiên ghi
nhận một số quyền xã hội, phản ánh ảnh hởng của t tởng xã hội - dân chủ, thể
hiện sự quan tâm đến quyền lợi của giai cấp khác ngoài giai cấp t sản, thể hiện

Vì thế, vấn đề thứ nhất của mọi quan hệ quốc tế là con ngời, quyền con
ngời. Nó còn cao hơn cả vấn đề chủ quyền quốc gia. Khi quyền con ngời ở
một quốc gia nào đó bị xâm phạm thì các nớc khác có nghĩa vụ phải can
thiệp để bảo vệ quyền con ngời ở đó. Thí dụ: điển hình cho quan điểm này là
sự can thiệp của Mỹ, Anh và các nớc NATO vào Irắc và Nam T trong thời
gian qua. Và gần đây nhất là việc Hạ nghị viện Mỹ thông qua "Đạo luật nhân
quyền Việt Nam", đã xâm phạm nghiêm trọng đến chủ quyền của Việt Nam.
Hàng năm Mỹ đều có báo cáo về việc bảo đảm nhân quyền của các nớc trên
thế giới theo tiêu chí nhân quyền của Mỹ; và coi đây là căn cứ để thực hiện
chính sách can thiệp vào công việc nội bộ của nớc khác.
- Quan điểm của Liên Hợp Quốc về giáo dục quyền con ngời: Ngay từ
khi ra đời, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã lập tức có giá trị nh một
văn kiện vĩ đại trong lịch sử nhân loại. Nó tạo ra sức mạnh về các khía cạnh
24

pháp lý trong quan hệ quốc tế, quốc gia, chính trị, đạo đức và những giá trị đó
ngày càng không ngừng đợc nâng cao với nền văn minh nhân loại. Kỷ niệm
50 năm Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, Tổng th ký Liên Hợp Quốc Kofi
Annan đã phát biểu:
Hôm nay, chúng ta ghi nhớ sự bắt đầu của năm thứ 50 sự
ra đời của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền. ở khắp mọi nơi trên
thế giới, đàn ông, phụ nữ và trẻ em thuộc đủ các màu da và tín
ngỡng sẽ tụ họp để đón nhận những quyền con ngời chung của
chúng ta Nhân quyền là cơ sở của sự tồn tại và cùng tồn tại của
con ngời. Quyền con ngời là phổ biến, không thể chia tách và phụ
thuộc lẫn nhau. Nhân quyền là cái làm nên nhân loại chúng ta. Đó
là những nguyên tắc mang tính cơ sở để chúng ta thiết lập cái ngôi
nhà thiêng liêng cho phẩm giá loài ngời Khi chúng ta nói về
quyền sống, hoặc về quyền phát triển, hoặc về quyền đợc bất đồng
quan điểm và có sự khác biệt, có nghĩa là chúng ta đang nói về

nhân quyền cùng với hòa bình, dân chủ và phát triển trở thành những nguyên
tắc chỉ đạo của thế kỷ XXI. Tuyên bố đề ra 7 t tởng chỉ đạo: Thừa nhận
phẩm giá của tất cả mọi ngời là mục tiêu tối cao; nhân quyền - ngôn ngữ
chung của nhân loại; quyền phụ nữ - trách nhiệm của tất cả; nhân quyền dân
chủ và phát triển - những tiêu chí dẫn tới tơng lai; xã hội dân sự - động lực phát
triển của nhân quyền; nhân quyền - những thành tựu và thách thức; Liên Hợp
Quốc - hành động trong lĩnh vực nhân quyền. Trong các t tởng chỉ đạo này,
quan điểm về giáo dục nhân quyền của Liên Hợp Quốc đã đợc thể hiện đầy
đủ, rõ nét trong t tởng chỉ đạo về nhân quyền - ngôn ngữ chung của nhân loại.
Những nội dung trên thể hiện quan điểm giáo dục quyền con ngời
của Liên Hợp Quốc, bao gồm những vấn đề sau:
- Mục đích của giáo dục nhân quyền nhằm: xây dựng một nền văn hóa
nhân quyền toàn cầu và cho phép mọi ngời đợc hởng các quyền.

Trích đoạn Những thành tựu, tồn tại và nguyên nhân rút ra từ thực tiễn giáo dục quyền con ng−ời, quyền công dân ở Việt Những quan điểm chung về giáo dục quyền con ng−ời, quyền công dân ở n−ớc ta hiện nay ph−ơng h−ớng, giải pháp tăng c−ờng giáo dục quyền con ng−ời quyền công dân ở n−ớc ta hiện nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status