Luận văn triết học vấn đề con người và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay thực trạng và giải pháp - Pdf 26

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vấn đề con người luôn là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đến
hiện đại. Với nguồn tiềm năng trí tuệ vô tận, là nguồn lực quyết định, là mục tiêu và
động lực của sự phát triển thì trong thời đại nào con người vẫn luôn là lực lượng sản
xuất cơ bản, hàng đầu của xã hội, giữ vị trí trung tâm cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Có thể thấy vấn đề triết học về con người là một nội dung lớn trong lịch sử triết
học nhân loại. Đó là những nội dung: Con người là gì? Bản tính, bản chất con người?
Mối quan hệ giữa con người và thế giới? Con người có thể làm gì để giải phóng mình,
đạt tới tự do? Đây cũng chính là nhân sinh quan - nội dung cấu thành thế giới quan
triết học.
Tùy theo điều kiện lịch sử của mỗi thời đại mà nổi trội lên khía cạnh này hoặc
khía cạnh khác. Đồng thời, tùy theo góc độ tiếp cận khác nhau mà các trường phái triết
học, các nhà triết học trong lịch sử có những phát hiện, đóng góp khác nhau trong việc
lí giải về con người. Do vậy, vấn đề con người là đề tài không mới nhưng luôn chứa
đựng những nội dung mới. Quan hệ biện chứng giữa con người và lịch sử chỉ ra rằng,
con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Tất cả vấn đề
trên về thực chất là nhằm giải phóng con người, hướng tới vì mục đích con người, vì
con người – chủ thể của lịch sử - xã hội, thể hiện bản chất cách mạng và khoa học của
triết học Mác – Lênin.
Trước lúc đi xa, Hồ Chí Minh đã để lại muôn vàn tình yêu thương và những lời
căn dặn với Đảng và Nhà nước là phải quan tâm đến mọi đối tượng trong xã hội. Điều
này được thể hiện trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người nhấn mạnh “đầu
tiên là công việc đối với con người” [20; tr.383].
Trong quá trình toàn cầu hóa như hiện nay, nền kinh tế nào dựa nhiều vào tri
thức sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển, duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, sử
dụng hiệu quả nguồn nhân lực, tạo nhiều công ăn việc làm, giải quyết tốt hơn các quan
hệ xã hội, cải thiện đời sống con người,v.v… Trong điều kiện mới đó, sự phát triển
1
của mỗi quốc gia phụ thuộc nguồn nhân lực chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tài

2
người và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay – thực trạng và giải
pháp”.
3
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Đây là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu và học giả quan tâm như:
Hồ Sỹ Quý (2007), Con người và phát triển con người, Nhà xuất bản Giáo dục
Nguyễn Thành Trung (2008), Vai trò của con người và vấn đề phát huy nguồn
lực con người trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học số 206
Nguyễn Văn Vĩnh (2005), Triết học chính trị về phần con người, Nhà xuất bản
chính trị Quốc gia Hà Nội
Trần Khánh Đức (2002), Giáo dục kĩ thuật – nghề nghiệp và phát triển nguồn
nhân lực, Nxb Giáo dục
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề con người theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Tìm hiểu thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện
nay từ đó đề ra một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực Việt Nam.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề con người
Phạm vi: Thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam từ 2001 đến nay
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Phương pháp kết hợp lịch sử và logic
6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Giúp người đọc thấy được thực trạng phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam
trong những năm qua và hiện nay. Khóa luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho
những ai quan tâm đến vấn đề con người và phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
hiện nay.
7. KẾT CẤU KHOÁ LUẬN

Chương 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ CON NGƯỜI
1.1. Quan điểm về con người trong triết học
1.1.1.Quan điểm về con người trong triết học trước Mác
• Quan điểm về con người trong triết học phương Đông
Sự phát triển của tư tưởng triết học phương Đông từ cổ đại đến đương đại, sự
giao lưu tư tưởng và văn hóa trong khu vực mang bản sắc độc đáo so với phương Tây.
Những tư tưởng triết học phương Đông, cái nôi là ở Ấn Độ, Trung Quốc và triết học
phương Tây du nhập vào Việt Nam, dần dần hòa quyện vào tư tưởng và văn hóa dân
tộc. Lịch sử triết học cho thấy rằng, cần xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa cái dân tộc
và cái quốc tế, làm cho những tư tưởng triết học của dân tộc ngày càng phong phú
hơn, sống động hơn trong các mối liên hệ chặt chẽ cùng với sự phát triển chung của
thế giới nhằm đạt tới một nền văn minh hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong nền triết học Trung Hoa suốt chiều dài lịch sử trên hai ngàn năm cổ -
trung đại, vấn đề bản tính con người là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Giải quyết vấn
đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận từ góc độ hoạt động thực
tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và bản tính người là Thiện (Nho gia) và bản tính
người là Bất thiện (Pháp gia). Các nhà tư tưởng của Đạo gia, ngay từ Lão Tử thời
Xuân Thu, lại tiếp cận giải quyết vấn đề bản tính người từ góc độ khác và đi đến kết
luận bản tính tự nhiên của con người. Sự khác nhau về góc độ tiếp cận và với những
kết luận khác nhau về bản tính con người đã là tiền đề xuất phát cho những quan điểm
khác nhau của các trường phái triết học này trong việc giải quyết các vấn đề về quan
điểm chính trị, đạo đức và nhân sinh của họ. Đặc biệt, với sự chi phối thế giới quan
duy tâm hoặc duy vật chất phác, biểu hiện trong tư tưởng Nho giáo, Lão giáo, quan
niệm về bản chất con người cũng thể hiện một cách phong phú.
Khổng Tử (551 – 479 TCN), tên là Khâu, tự Trọng Ni, sinh ra ở nước Lỗ. Ông
cho rằng, bản chất con người là “thiên mệnh” chi phối quyết định, đức “Nhân” chính
là giá trị cao nhất của con người, đặc biệt là người quân tử. Bên cạnh đó, phẩm chất
chất phác, tình cảm chân thực là điều kiện cần thiết để trau dồi đức “Nhân”. “Chính
danh” là con đường đạt tới điều Nhân. (Ông nói: Sửa mình, khôi phục điều Lễ là

Thứ hai, sản vật tự nhiên và của cải làm ra thì ít mà nhu cầu con người thì vô cùng,
cho nên dẫn đến “tranh” “loạn”. Do vậy, ông chủ trương phải tăng cường sản xuất,
tạo nhiều của cải, và thực hành tiết kiệm. Đặc biệt, hạn chế dục vọng, lấy lễ nghĩa làm
cơ sở, làm nguyên tắc đạo đức để phân chia thứ bậc và cung cách giao tiếp xã hội.
7
Hơn nữa, ông phản đối thuyết “Tính thiện” duy tâm của Mạnh Kha và đưa ra
thuyết “Tính ác” (bản chất con người khi sinh ra vốn dĩ là ác), nhưng có thể cải biến
được đó là phải chống lại cái ác ấy. Tuy hai quan điểm khác nhau nhưng có điểm
tương đồng là yêu cầu con người phải tu dưỡng để làm những điều lễ nghĩa. Điểm
khác nhau là: theo quan điểm tính thiện của Mạnh Tử thì con người phải được dẫn dắt
bằng đạo đức. Còn theo quan điểm tính ác của Tuân Tử, thì phải lấy pháp luật mà ngăn
chặn cái ác. Tuy nhiên, trong thuyết “Tính ác” của ông có những nhân tố hợp lí, quan
niệm tiến bộ. Ông đưa ra thuyết “Sửa tính quấy”, cho rằng đạo đức của con người là
do tập quán, qua quá trình học tập mà ra, cho nên có thể sửa được. Tuân tử cho rằng sự
phân biệt giữa “Quân tử” và “Tiểu nhân” cũng như sự phân biệt “ Sĩ, nông, công,
thương”, không phải là do trời phú cho, mà là kết quả lâu ngày…
Trong triết học phương Đông, còn có quan niệm duy tâm cho rằng trời và con
người còn có thể hòa hợp với nhau (thiên thân hợp nhất). Đổng Trọng Thư (179 – 117
TCN), kế thừa Nho giáo theo khuynh hướng duy tâm cực đoan, quan niệm rằng trời và
con người có thể thông hiểu lẫn nhau (thiên nhân cảm ứng). Nhìn chung, đây là quan
điểm duy tâm, quy cuộc đời con người vào vai trò quyết định của “thiên mệnh” vì con
người bẩm sinh không phải “tính thiện” mà cũng không phải “tính ác”; hành vi
“thiện”, “ác” của con người là do hoàn cảnh tạo nên. Ông cho rằng “muốn thi hành lễ
nghĩa phải có đủ gạo ăn” [26; tr.69]. Tuy nhiên, cũng có tư tưởng ngược lại, đó là
quan niệm thiên nhân bất tương quan của Tuân Tử. Ông chủ trương về phương diện
sinh dưỡng thì người mang ơn trời, nhưng về phương diện trị loạn, thịnh suy thì đạo
trời không quan hệ gì đến đạo người, trời không thể làm hại được người, mà cả trời
cũng không thể giúp được người. Tư tưởng triết học có mầm mống duy vật ấy của
Tuân Tử có thái độ bị động của con người, khuyến khích con người có tinh thần tích
cực, dám tự mình giải quyết những vấn đề của mình.

Đông. Nhìn chung, các nhà triết học theo lập trường triết học duy vật đã lựa chọn góc
độ khoa học tự nhiên để lí giải về bản chất con người và các vấn đề khác có liên quan.
Các trường phái triết học tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Kitô giáo nhận thức
về vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí. Kitô giáo nhận thức vấn
đề con người do đấng tối cao an bài, sắp đặt; về bản chất con người là có tội. Con
người bao gồm hai phần: thể xác và linh hồn. Thể xác sẽ mất đi nhưng linh hồn thì tồn
tại vĩnh cửu. Linh hồn là giá trị cao nhất của con người. Do vậy phải biết chăm sóc
linh hồn để hướng đến thiên đường vĩnh cửu.
Triết học Hi Lạp và La Mã cổ đại khi bàn về vấn đề con người đều tập trung ở
số phận, nỗi khổ đau, niềm hạnh phúc của con người. Đặc biệt là triết học Hy – La coi
9
trọng vấn đề con người. Mặc dù giữa các nhà triết học vẫn còn nhiều bất đồng về vấn
đề này nhưng nhìn chung họ đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của
tạo hóa. Tư tưởng ấy được thể hiện rõ qua luận điểm nổi tiếng của Pitago: Con người
là thước đo tất thảy mọi vật. Triết học Sôcrát đánh dấu một bước ngoặc trong sự phát
triển tư tưởng triết học ở Hy Lạp và La Mã cổ đại, từ chỗ chủ yếu bàn về căn nguyên,
bản chất của thế giới và nhận thức chúng với việc coi triết học và tự ý thức của con
người về chính bản thân mình. Từ đây, những vấn đề thiết thực của cuộc sống con
người trở thành một trong những đề tài chính của triết học. Tuy nhiên, con người thời
cổ đại được nhìn nhận dưới góc độ cá thể và giá trị con người chủ yếu chỉ được bàn
đến ở khía cạnh đạo đức, giao tiếp, nhận thức luận. Hoạt động thực tiễn của con người
hầu như không được bàn đến.
Ngay từ thời Cổ đại, các nhà triết học duy vật đã từng đưa ra quan niệm về bản
chất vật chất tự nhiên của con người, coi con người cũng như vạn vật trong giới tự
nhiên không có gì thần bí, đều được cấu tạo nên từ vật chất. Tiêu biểu là Đêmôcrit về
bản tính vật chất nguyên tử cấu tạo nên thể xác và linh hồn của con người. Đây cũng là
tiền đề phương pháp luận của quan điểm nhân sinh theo đường lối Êpiquya. Những
quan điểm duy vật như vậy đã được tiếp tục phát triển trong nền triết học thời Phục
hưng và Cận đại mà tiêu biểu là các nhà duy vật nước Anh và Pháp thế kỉ XVIII; nó
cũng là một trong những tiền đề lý luận cho chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc.

dung hòa lợi ích giai cấp và việc coi nhu cầu ý muốn của con người là yếu tố quyết
định tất cả đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Nhà triết học Prôtagor (490 – 420 TCN) thuộc trường phái Xôphixtơ đã coi con
người là thước đo của vũ trụ đang tồn tại. Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử nhân
loại, trường phái triết học này đã đưa ra quan điểm bình đẳng giữa người với người.
Theo họ, Thượng đế tạo ra mọi người đều tự do, tự nhiên không ai biến thành nô lệ cả.
Tư tưởng nhân đạo đó trở thành phương châm tư tưởng cho các nhà triết học thời kì
Phục Hưng noi theo.
Triết học thời kì Phục Hưng gắn liền với vấn đề về con người và giải phóng con
người, chứng minh sức mạnh của con người, xem con người là thước đo vạn vật, các
giá trị văn hóa, nghệ thuật của con người được đặc biệt quan tâm. Nicôlai Kudan
(1401 – 1464) coi con người là sản phẩm tối cao và tinh túy nhất trong sự sáng tạo của
Thượng đế. Lêôna Đơvanxi (1452 – 1529) khẳng định con người là vũ trụ vĩ đại nhất
của tạo hóa, con người biết dựa trên các sự vật tự nhiên để sáng tạo ra các sự vật mới
phục vụ cho cuộc sống của mình.
11
Trong nền triết học phương Tây hiện đại, nhiều trào lưu triết học vẫn coi những
vấn đề triết học về con người là vấn đề trung tâm của những suy tư triết học mà tiêu
biểu là chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Phơrớt…
Triết học cổ điển Đức với các đại diện tiêu biểu như: Cantơ (1724 – 1804),
Hêghen (1770 – 1831) đã phát triển quan niệm về con người theo khuynh hướng chủ
nghĩa duy tâm. Hêghen, với cách nhìn của một nhà duy tâm khách quan, thông qua sự
vận động của ý niệm tuyệt đối, thông qua quá trình tự ý thức tư tưởng của con người
đã đưa con người trở về với giá trị tinh thần, giá trị về bản thể. Ông đã trình bày một
cách có hệ thống về các quy luật của quá trình tư duy con người, làm rõ cơ chế của đời
sống tinh thần cá nhân trong hoạt động con người. Dù cho con người được nhận thức
dưới góc độ duy tâm khách quan nhưng Hêghen là người khẳng định vai trò chủ thể
của con người với lịch sử, đồng thời là sự phát triển của lịch sử.
Vượt qua những hạn chế của triết học Hêgghen, nhà triết học duy vật Phoiơbăc
(1804 – 1872) đã phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật thể, phi thể xác về bản chất

Trải qua hàng chục vạn năm, các giai đoạn mang tính sinh học mà con người
trải qua được sinh thành, phát triển và mất đi quy định bản tính sinh học trong đời
sống con người.
Tuy nhiên, điều cần khẳng định mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất
quyết định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế
giới loài vật là phương diện xã hội của nó.
Trong lịch sử đã có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài
vật, như con người là động vật sử dụng công cụ lao động, là một động vật có tính xã
hội, hoặc con người là động vật có tư duy. Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì
nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lên
được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề con
người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của nó, mà trước
hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất. “Có thể phân biệt con người với súc vật,
bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con
người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra
những tư liệu sinh hoạt của mình – đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con
người quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã
gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [14; tr.29].
13
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn
bộ giới tự nhiên: “Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản
xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [8; tr.137].
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất; hoạt
động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con người. Thông
qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần,
phục vụ cho đời sống của mình, hình thành và phát triển ngôn ngữ tư duy, xác lập
quan hệ xã hội. Do vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của
con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát triển của

Luận đề trên khẳng định, không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều
kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong một
điều kiện lịch sử nhất định, một thời đại nhất định. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng
hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để
tồn tại và phát triển cả về thể lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ
xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ
cá nhân, gia đình và xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.
Điều cần lưu ý bản chất xã hội của con người không có nghĩa là phủ nhận mặt
tự nhiên trong đời sống con người. Song, ở con người, mặt tự nhiên, tồn tại trong sự
thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ở con người
cũng đã mang tính xã hội. Quan niệm bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội mới giúp chúng ta nhận thức đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự
nhiên, cái sinh vật của con người.
Luận điểm đó của Mác hoàn toàn không phủ nhận vai trò của các yếu tố sinh
học và đặc điểm sinh học của con người. Quan điểm của Mác cần chỉ rõ mặt xã hội
trong bản chất của con người. Đó là không có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều
kiện, hoàn cảnh cụ thể, xác định sống trong thực tiễn của mình, con người tạo ra
những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ.
Tính hiện thực của con người thể hiện sự tồn tại khách quan trong hoạt động thực tiễn
của con người. Và hoạt động lao động xã hội quyết định đời sống của con người nên
bản năng sinh vật được thu hút và hội nhập vào bản năng lao động – xã hội là đặc thù
của con người.
Ở đây, Mác đã phân biệt sự khác nhau giữa con người và con vật, đã khắc phục
sự thiếu sót của các nhà triết học trước Mác đã không thấy bản chất xã hội của con
người. Và khi xác định bản chất của con người, Mác đã nêu bật cái chung, cái không
15
thể thiếu và có tính chất quyết định làm cho con người trở thành một con người xã hội.
Trong đó, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ không
thể là cái duy nhất. Vì thế, cần phải thấy được các biểu hiện riêng biệt, phong phú và
đa dạng của mỗi cá nhân về phong cách, nhu cầu và lợi ích trong cộng đồng xã hội.

Trong tác phẩm Biện chứng tự nhiên, Ăngghen cho rằng: “Chỉ có con người là
mới đạt được đến chỗ in cái dấu của mình lên giới tự nhiên, không chỉ bằng cách di
chuyển các loài thực vật và động vật từ chỗ này sang chỗ khác, mà còn làm biến đổi
cả diện mạo, khí hậu của nơi họ ở, thậm chí còn làm biến đổi cả cây cỏ và các thú vật
tới một mức độ mà kết quả hoạt động của họ chỉ mất, khi nào toàn bộ trái đất tiêu
vong” [6, tr.475].
Như thế, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn tác động
vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của lịch sử xã hội,
của thế giới loài vật dựa vào sự phong phú của thế giới loài vật dựa vào sự phong phú
của thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theo mục đích của mình. Sản xuất
ngày càng phát triển theo tính chất xã hội hóa ngày càng tăng, việc tiến hành sản xuất
tập thể bằng lực lượng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do nó
mạng lại sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới. Trong quá trình cải biến tự
nhiên, con người cũng đồng thời làm ra lịch sử của mình.
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu tố hàng
đầu đóng vai trò quan trọng quyết định trong lực lượng sản xuất của xã hội mà hơn
nữa, con người còn đóng vai trò là chủ thể của quá trình hoạt động lịch sử. Thông qua
hoạt động sản xuất vật chất, con người sáng tạo ra lịch sử của mình, lịch sử của xã hội
loài người. Hoạt động lao động sản xuất vừa là điều kiện cho sự tồn tại của con người,
vừa là phương thức để làm biến đổi đời sống và bộ mặt của xã hội.
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn
phát triển nhất định của xã hội. Do vậy, bản chất của con người, trong mối quan hệ với
điều kiện lịch sử xã hội luôn vận động và biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Mặc dù là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nhưng con người có vai trò tích cực trong
tiến trình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải làm cho
hoàn cảnh này càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi
trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo khuynh hướng phát triển nhằm
đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông
qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh

bên trong của mỗi cá nhân. Bởi vậy, nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa cá
thể với giống loài thì nhân cách là khái niệm chỉ sự khác biệt của các cá nhân. Cá nhân
là phương thức biểu hiện của giống loài còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách
18
thức biểu hiện của mỗi cá nhân riêng biệt. Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo,
riêng biệt của mỗi cá nhân. Bởi vậy, nếu cá nhân là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa cá
thể với giống loài còn nhân cách vừa là nội dung, vừa là cách thức biểu hiện của mỗi
cá nhân riêng biệt. Ngoài ra, nhân cách còn biểu hiện cái tôi giữa các cá nhân, là sự
tổng hợp giữa các yếu tố sinh học, tâm lí, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng của mỗi cá
nhân, đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và tự điều chỉnh mọi
hoạt động của mình. Hơn nữa, nhân cách không phải là cái bẩm sinh, sẵn có mà được
hình thành và phát triển phụ thuộc vào ba yếu tố sau đây:
Thứ nhất, nhân cách phải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền học, một cá
thể sống phát triển cao nhất của giới hữu sinh.
Thứ hai, môi trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển của
nhân cách thông qua sự tác động biện chứng của gia đình, nhà trường và xã hội của
mỗi cá nhân.
Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan cá nhân, bao gồm toàn bộ các yếu
tố như quan điểm, lí luận, niềm tin, định hướng giá trị
Dựa trên nền tảng thế giới quan cá nhân để hình thành các thuộc tính bên trong
về năng lực, về phẩm chất xã hội như năng lực trí tuệ, chuyên môn, phẩm chất giá trị,
đạo đức, pháp luật, thẩm mĩ.
Một xã hội tiến bộ là một xã hội mà mỗi cá nhân phát triển nhân cách của mình
theo hướng tích cực, phát huy vai trò động lực, chủ thể sáng tạo của mỗi cá nhân.
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, xã hội giữ vai trò quyết định đối với
cá nhân. Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có ý nghĩa lớn được đề cập một
cách toàn diện và sâu sắc trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trong bất cứ giai đoạn nào, cá nhân cũng không tách rời xã hội. Là một hiện
tượng lịch sử, quan hệ cá nhân – xã hội luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển, sự
thay đổi về chất chỉ diễn ra khi có sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này với hình

ra: Xây dựng con người Việt Nam có tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, có ý
thức tự cường dân tộc, trách nhiệm cao trong lao động, có lương tâm nghề nghiệp, có
tác phong công nghiệp, có ý thức cộng đồng, tôn trọng nghĩa tình, có lối sống văn hóa,
quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội.
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về con người
1.2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh
Mỗi thời đại, mỗi giai cấp có sự nhìn nhận khác nhau về con người. Hồ Chí
Minh thường nói tới con Lạc cháu Hồng, Người đã có cảm nhận thiêng liêng về hai
20
tiếng “đồng bào”. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và qua hoạt động thực
tiễn, Hồ Chí Minh sử dụng khái niệm: người bản xứ bị bóc lột; người mất nước; người
da đen; người cùng khổ; người vô sản,
Đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, từ khi về nước lãnh đạo nhân
dân đấu tranh giành chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh đụng đến khái niệm: đồng
bào; quốc dân… Khi miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người dùng thêm nhiều
khái niệm như: công nhân; trí thức; lao động chân tay;…
Từ thập kỉ bốn mươi của thế kỉ XX, Hồ Chí Minh bàn đến chữ “người” với
nhiều nghĩa và phạm vi khác nhau.Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, không có con người
trừu tượng. Người viết “Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn.
Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng hơn là cả loài người” [19; tr.644]. Như vậy, có
thể thấy, Hồ Chí Minh xem xét con người trong các quan hệ xã hội của nó. Cách tiếp
cận vấn đề con người như vậy là phù hợp với cách tiếp cận chủ nghĩa Mác.
Chủ nghĩa Mác – Lênin được Hồ Chí Minh tiếp thu và truyền bá vào trong
nước đã nâng cao truyền thống dân tộc về con người, góp phần hình thành một cách
hoàn chỉnh tư tưởng nhân văn của Hồ Chí Minh, khẳng định thêm những tư tưởng mà
Người đã tiếp thu truyền thống của dân tộc chung quanh vấn đề con người. Đối với Hồ
Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là thành viên của gia đình và
cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hòa, phong phú.
Bao giờ Hồ Chí Minh cũng nói đến con người cụ thể, lịch sử. Chưa bao giờ thừa
nhận con người một cách chung chung, trừu tượng. Tùy theo từng thời điểm lịch sử cụ thể

chế độ tư bản chủ nghĩa gây ra cho con người.
Thứ hai, quyết tâm hy sinh chiến đấu để giải phóng con người. Người viết: Tôi chỉ
có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta
được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.
Thứ ba, tin tưởng vào khả năng tự giải phóng của con người và không ngừng rèn
luyện, phát huy khả năng ấy.
Mục tiêu cách mạng của Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, thực hiện độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Khi đất nước còn nô lệ, lầm than thì mục tiêu trước hết phải là giải phóng dân
tộc, giành độc lập dân tộc. Sau khi chính quyền đã về tay nhân dân, thì mục tiêu ăn,
mặc, ở, đi lại, học hành được ưu tiên hơn. Bởi Người cho rằng, nếu nước độc lập mà
dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lí gì; vì vậy, chúng
ta cần thực hiện ngay: làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở,
làm cho dân được học hành.
22
Khẳng định con người là mục tiêu, là động lực của cách mạng thì điều quan
trọng là mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích
chính đáng của con người. Có thể đó là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt; lợi ích của cả
dân tộc và lợi ích của bộ phận, giai cấp, tầng lớp và cá nhân.
Con người là động lực của cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi cả nước,
toàn thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp công nhân và nông dân. Điều này có ý
nghĩa to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, không phải mọi con người ai cũng trở thành động lực, mà phải là
những con người được thức tỉnh, giác ngộ, giáo dục, định hướng và tổ chức. Họ phải
có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên truyền thống lịch sử và
văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam.
Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ chức, có
lãnh đạo.
Vì vậy, vai trò của Đảng cách mạng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư
tưởng là vô cùng quan trọng. Qua các phong trào cách mạng quần chúng, Đảng sẽ

Tóm lại, trong tư tưởng Hồ Chí Minh con người được nhìn nhận vừa là mục
tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực của chính sự
nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện triệt để và cụ thể trong lí luận chỉ đạo cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
1.2.2.Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là
đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.
Trong xã hội hiện đại, nguồn tài nguyên đích thực và quý giá nhất của mỗi quốc
gia chính là con người của quốc gia đó. Do vậy, mục đích phát triển kinh tế – xã hội
xét đến cùng là vì con người, để được như vậy chúng ta cần tạo môi trường thuận lợi
để con người có cuộc sống hạnh phúc, có sức khỏe và có cơ hội phát huy mọi năng lực
sáng tạo.
Tuy nhiên trên thực tế, không phải quốc gia nào cũng nhận thức được điều đó,
ngoài việc dựa trên sự phát triển về kinh tế, còn phụ thuộc vào bản chất chính trị cũng
như sự nhận thức của lực lượng lãnh đạo xã hội về vị trí, vai trò của con người trong
sự phát triển của xã hội.
24
Trong quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, thực chất của tiến trình lịch sử xã hội
vì con người, vì cuộc sống ngày càng hạnh phúc và tốt đẹp cho con người, vì cuộc
sống của con người và sự phát triển toàn diện của con người.
Ở Việt Nam, trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc
và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức ngày càng đầy
đủ, đúng đắn hơn về nhân tố con người cũng như tầm quan trọng của việc phát triển
con người.
Phát triển con người, thường xuyên chăm lo cho hạnh phúc của mỗi người, mỗi
gia đình luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam đặt lên hàng đầu với khẩu hiệu: gia đình
là tế bào của xã hội. Điều này hoàn toàn phù hợp với tôn chỉ của Đảng luôn được xác
định ngay từ khi mới thành lập và giữ vững trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng:
ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status