1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết thất nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao dần
đời sống của nhân dân luôn là vấn đề nóng bỏng, là mối quan tâm hàng đầu
của Đảng, Nhà nước và mọi thành viên trong xã hội ta.
Nước ta có dân số trẻ, số lượng người trong độ tuổi lao động năm
2000 là gần 40 triệu mà đa số ở nông thôn, trong khi bình quân ruộng đất
đầu người thấp, ngành nghề chưa phát triển, tỷ lệ tăng dân số cao... Do vậy,
số người lao động chưa đủ hoặc chưa có việc làm ngày càng nhiều.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân, việc
sử dụng máy móc và ứng dụng những thành tựu của cách mạng khoa học
công nghệ, cải tiến tổ chức sản xuất tuy có tạo thêm nhiều chỗ làm việc
nhưng cầu về lao động vẫn nhỏ hơn cung, đồng thời xuất hiện tình trạng
thừa lao động giản đơn, lao động lành nghề sử dụng chưa phù hợp.
Để tạo việc làm, nước ta đã có nhiều giải pháp tích cực, trong đó
xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp quan trọng. Tuy nhiên,
quá trình hợp tác quốc tế về lao động (cách gọi trước đây) hay xuất khẩu
lao động (cách gọi hiện nay) đang còn nhiều nhược điểm, thiếu sót như:
việc quản lý xuất khẩu lao động chưa tốt; quyền lợi của người lao động của
ta ở nước ngoài chưa được quan tâm đầy đủ (cả về vật chất và tinh thần),
chất lượng lao động kém, trình độ ngoại ngữ thấp, ý thức kỷ luật lao động
của người Việt Nam ở nước ngoài chưa cao...
Chính vì vậy, chỉnh đốn và đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động,
mở rộng thị trường lao động, đặc biệt là ở những thị trường có điều kiện
lao động tốt, thu nhập cao, là một trong những vấn đề có tình thời sự nhằm
giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, thúc đẩy sự hội nhập của Việt Nam
Minh Đức: Đánh giá hợp tác lao động 10 năm 1985 - 1995 và
phương hướng 1996 - 2000.
Tuy nhiên, phần lớn các công trình trên chỉ là những bài báo về
từng mặt của xuất khẩu lao động:
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của chương trình hợp tác lao động quốc
tế và XKLĐ.
- Phân tích một số thị trường lao động trên thế giới và trong khu vực.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh XKLĐ ở nước ta.
Còn có ít công trình phân tích một cách tương đối toàn diện công
tác XKLĐ của ta.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Hiện nay, ở nước ta còn có những cách hiểu khác nhau về nội dung
của phạm trù XKLĐ. Luận văn này chỉ sử dụng phạm trù "xuất khẩu lao
động" theo nghĩa hẹp, nghĩa là chỉ xét những người lao động Việt Nam
được đưa đi làm việc tại các nước và các vùng ngoài lãnh thổ Việt Nam.
5. Những đóng góp của luận văn
Tìm hiểu tình hình XKLĐ của một số nước từ đó rút ra những kinh
nghiệm có thể vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
Khái quát được những thành tựu, những thiếu sót chủ yếu và
nguyên nhân trong công tác XKLĐ ở nước ta những năm qua.
Đề xuất một số giải pháp khả thi đẩy mạnh XKLĐ trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các
giảng viên, các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội trong lĩnh vực
hợp tác lao động quốc tế và những độc giả quan tâm đến lĩnh vực này.
4
cho các công ty nước ngoài và làm việc cho họ ở ngay trên lãnh thổ của
mình. Chẳng hạn, người lao động Việt Nam làm cho các công ty nước
ngoài trong các khu chế xuất ngay trên lãnh thổ Việt Nam. Còn XKLĐ trực
tiếp là người lao động được đưa sang các nước khác làm thuê.
Từ ngày 4/5 đến ngày 12/6 năm 1999, kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa
X Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Doanh
nghiệp. Điều 2 Luật Doanh nghiệp xác định: "Việc thành lập, tổ chức quản
6
lý và hoạt động của doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam áp dụng theo quy
định của luật này và các quy định luật pháp khác có liên quan.
Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của luật này và quy
định của luật chuyên ngành về cùng một vấn đề, thì áp dụng theo quy định
của luật chuyên ngành" [21, tr. 7].
Căn cứ vào luật này đã xuất hiện ý kiến cho rằng mọi doanh nghiệp
nằm trên lãnh thổ Việt Nam đều chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp
Việt Nam. Do vậy, quan niệm như trên về XKLĐ không còn phù hợp.
XKLĐ hiện nay được hiểu là việc đưa người lao động từ nước xuất
khẩu đến làm việc ở các nước có nhu cầu nhập khẩu lao động. Theo cách
hiểu này thì XKLĐ chỉ bao gồm trường hợp thứ hai của quan niệm trước,
và đây cũng là cách hiểu được sử dụng trong luận văn này.
Theo lý luận trừu tượng thì những người lao động đi làm việc ở
nước ngoài có thể dưới hình thức bán hàng hóa sức lao động hoặc dưới
hình thức làm dịch vụ (như làm việc nội trợ). Luận văn này không tách biệt
mà gộp chung lại khi tính cung cầu trên thị trường lao động.
1.1.2. Thị trường lao động
Thị trường lao động theo đúng nghĩa chỉ là mua bán hàng hóa sức
lao động. Ở đây tính cả việc thuê người làm dịch vụ. Thị trường lao động
Ở nước ta, mức cung lao động lớn nhưng khả năng giải quyết việc
làm trong nước còn hạn chế, đồng thời giá cả của sức lao động trong nước
thấp (do nền kinh tế kém phát triển và thu nhập bình quân đầu người thấp)
do vậy XKLĐ là cấp thiết, phù hợp với quy luật hình thành thị trường lao
động quốc tế. Tuy nhiên, lao động của ta chỉ có thể hội nhập vào thị trường
lao động quốc tế khi chất lượng của nó đáp ứng được đòi hỏi của thị
trường.
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở
NƯỚC TA
8
Ngày nay, di chuyển lao động trên phạm vi toàn cầu là một hiện
tượng kinh tế - xã hội phổ biến. Do vậy, thuật ngữ "xuất khẩu lao động"
cũng được sử dụng một cách rộng rãi hơn và được coi như một phương
thức thực hiện phân công lao động quốc tế.
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ, lực lượng sản xuất đã phát triển tới một trình độ cao
chưa từng có. Sự phát triển của nó đã vượt ra khỏi phạm vi của mỗi quốc
gia. Mỗi một quốc gia đã trở thành một khâu gắn kết chặt chẽ và không thể
tách rời khỏi nền kinh tế thế giới. Muốn phát triển và đạt hiệu quả về kinh tế
phải có sự mở rộng quan hệ và tham gia vào sự phân công lao động quốc
tế.
Mặt khác, cùng với sự phát triển chung là sự phát triển không đều
về kinh tế - chính trị - xã hội cũng như sự phân bố không đồng đều về tài
nguyên và các nguồn lực khác. Điều đó dẫn đến tình trạng không có quốc
gia nào có lợi thế so sánh tuyệt đối và tương đối trên mọi lĩnh vực, nên tất
yếu phải tham gia thị trường quốc tế, trong đó có thị trường lao động.
XKLĐ đã trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng trong nhiều thập kỷ
Do sự phát triển của khoa học công nghệ và do quy luật tích lũy TBCN đã
làm cho cấu tạo hữu cơ tư bản ngày càng tăng, bộ phận tư bản khả biến có
xu hướng giảm tương đối trong tổng số tư bản là nguyên nhân gây ra hiện
tượng thất nghiệp.
Ở nước ta, dân số - lao động - việc làm đang trở thành vấn đề nhức
nhối. Giải quyết sự mất cân đối về cung cầu lao động, tạo việc làm không chỉ
đơn thuần là vấn đề kinh tế hay xã hội mà còn là vấn đề chính trị. Trên diện
tích 330.991 km2 trải dài theo mảnh đất hình chữ S là một lượng dân cư
76,3 triệu người. Về dân số, nước ta đứng thứ 13 trên thế giới. Mật độ dân số
cao, năm 1930 là 30 người/km 2 năm 1960 là 91 người/km 2, đến năm 1975 là
144 người/km2, năm 1997 là 232 người/km2, và năm 1999 là 236 người/km 2.
10
Mặt khác, nước ta là một quốc gia dân số trẻ, tỷ lệ tăng dân số cao, vì vậy
số dân trong độ tuổi lao động lớn.
Bảng 1: Tỷ lệ tăng dân số và mức sinh ở Việt Nam
Năm
1960
1989
1996
1999
3,4%
Tỷ lệ % trọng
lực lượng
15 - 24
8.577,6
22,70
25 - 34
10.600,8
28,06
35 - 44
10.393,9
27,51
45 - 54
5.565,2
14,73
55 - 59
1.267,1
làm. Năm 1997 tạo được 1,2 triệu chỗ làm. Năm 1998 là 1,4 triệu. Tuy
nhiên, tốc độ tăng việc làm luôn thấp hơn tốc độ tăng của nguồn lao động,
do vậy tỷ lệ thất nghiệp của ta vẫn cao [11, tr. 43].
Ngày 22-9-1999 Ban chỉ đạo điều tra lao động, việc làm trung ương
đã tổ chức công bố kết quả điều tra lao động, việc làm ở khu vực thành thị.
Theo ông Nguyễn Lương Trào - Thứ trưởng Bộ Lao động Thương binh và
Xã hội, trưởng ban chỉ đạo thì tính chung cả nước tỷ lệ thất nghiệp của lực
lượng lao động là 7,4% (nữ là 8,2%) tăng 0,55% và vẫn đang tiếp tục tăng, đã
dẫn đến tình trạng thừa cung thiếu cầu trên thị trường lao động, và đang gây
sức ép lớn cho chính sách kinh tế - xã hội của quốc gia về giải quyết việc
làm. Cung lớn hơn cầu trên thị trường lao động là do những nhân tố sau:
Một là: Lực lượng lao động tăng nhanh do tốc độ tăng dân số cao từ
mấy thập kỷ trước để lại. Mỗi năm dân số của ta tăng khoảng 1,5 triệu và
cung cấp vào thị trường một lực lượng lao động vào khoảng 1,3 triệu
người.
Hai là: Do việc áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên
tiến trong lĩnh vực sản xuất, nhất là trong nông nghiệp, mà "máy móc chèn
lấn người" làm cho nhân lực trong các ngành sản xuất nói chung và ở trong
nông nghiệp nói riêng dôi ra đáng kể (thời gian nhàn rỗi ở nông thôn trung
12
bình khoảng 28%). Lực lượng lao động dôi ra này chủ yếu là lao động giản
đơn.
Ba là: Do cải cách các DNNN, năm 1990 ta có khoảng 12.000
doanh nghiệp nhà nước thì đầu năm 1996 còn khoảng 6.000 [10, tr. 41] và
đến năm 2000 dự kiến sẽ chỉ còn 4.066 DNNN [5, tr. 37]. Theo ông
Nguyễn Văn Khang - chuyên viên Vụ Lao động văn hóa - xã hội - Bộ Kế
hoạch và đầu tư thì số lao động không bố trí được việc làm tại các DNNN
9,34
Đông Bắc
6,42
6,34
6,60
8,72
Tây Bắc
4,51
4,73
5,92
6,58
Bắc Trung Bộ
6,96
6,68
7,26
Đông Nam Bộ
5,43
5,89
6,44
6,52
Đồng bằng sông Cửu Long
4,73
4,72
6,35
6,53
Theo tính toán để giải quyết số lao động dôi ra ở các DNNN do sắp
xếp lại đòi hỏi phải tốn kém khoảng 2.000 tỷ đồng, trong đó Nhà nước phải
chịu 1.000 tỷ, 1.000 tỷ còn lại do các doanh nghiệp trang trải.
Như vậy nước ta không những dôi dư về lao động giản đơn mà
trong một chừng mực cụ thể còn dư thừa cả lao động kỹ thuật, lao động có
nghề.
Tìm lời giải bài toán tạo việc làm cho những người lao động nói
trên là việc làm vô cùng khó khăn đối với những nhà hoạch định chính
sách. Đây là điểm nút quan trọng gỡ những khó khăn của tình hình kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để tạo được một việc làm tốt
trong các ngành công nghiệp nặng đòi hỏi phải đầu tư khoảng 100 triệu
chính, XKLĐ và chuyên gia là một chiến lược quan trọng trước mắt và lâu
dài. Quan điểm này đã được thể hiện rõ trong chỉ thị số 41 CT/TW ngày
22/9/1998 của Bộ Chính trị về XKLĐ và chuyên gia, trong đó nêu rõ: "xuất
khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần
phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao
trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước
và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước". Chủ
trương này được cụ thể hóa trong Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày
20/9/1999 của Chính phủ quy định việc đưa người lao động và chuyên gia
Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Ở nước ta, những năm qua xuất khẩu lao động đã có vai trò quan
trọng thể hiện cụ thể trên một số mặt chính như sau:
15
Xuất khẩu lao động góp phần đắc lực vào giải quyết việc làm, qua
đó nâng cao chất lượng nhân lực, tạo nhân tố quan trọng bền vững cho
công cuộc phát triển đất nước.
Thời kỳ bùng nổ dân số đã qua đi. Tốc độ tăng dân số đã chững lại
và được kiểm soát nhưng tốc độ gia tăng nguồn lao động vẫn ở mức độ
cao, trung bình từ năm 1981 đến năm 2000 là 2,75%. Dự kiến từ năm 2005
trở đi tốc độ tăng lao động sẽ là 2,2%. Cầu lao động trong nước thấp hơn
cung, không sử dụng hết lao động trong nước là một khả năng thực tế.
Theo thống kê và dự báo trong 15 năm từ năm 1991 đến 2005, dân số trong
độ tuổi lao động sẽ tăng thêm 15,9 triệu, mỗi năm bình quân tăng thêm trên
1 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. Đến năm 2005 nước ta có thêm
23,5 triệu lao động cần được giải quyết việc làm. Số lao động trẻ (từ 16-35
tuổi) tăng từ 25 triệu vào năm 1990 lên 26,8 triệu vào năm 1995 và 30,4
triệu vào năm 2005. Do khả năng tạo thêm việc làm có hạn nên bộ phận
người lao động. Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,
gần đây hàng năm người lao động Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài
gửi về nước hơn 1 tỷ USD. Đây là một nguồn thu lớn vì hiện nay nền kinh
tế nước ta mới có một số ít ngành sản xuất đạt trên 1 tỷ USD.
Về thu nhập cá nhân: người lao động đi làm việc ở nước ngoài có
thu nhập cao, mức thu nhập cầm tay bình quân hàng tháng cao hơn từ 4-6
lần thu nhập của người có việc làm trong nước. Hiện thực cho thấy hầu như
gia đình nào có người đi XKLĐ thì mức sống và điều kiện sinh hoạt của
gia đình đó được nâng lên rõ rệt. Vì vậy XKLĐ đang trở thành một phong
trào rộ lên ở khắp mọi nơi. Bình quân một người lao động ở nước ngoài
có mức thu nhập không ít hơn 300 USD/tháng, sau khi đã trừ đi các khoản
chi phí. So với thu nhập của Việt Nam (GDP bình quân đầu người) khoảng
hơn 300 USD một năm thì mức thu nhập của người lao động xuất khẩu
quả là không nhỏ. Ước tính mỗi năm người lao động sẽ dành dụm được
3.600 USD, sau ba năm lao động trở về nước họ sẽ có một lưng vốn
17
khoảng 11.000 USD. Quy đổi tỷ giá hối đoái hiện hành thì khi về nước họ
có không ít hơn 160 triệu. Đó là chưa kể tiền làm thêm giờ và tiền thưởng,
có khi bằng số lương của họ. Với những khoản thu nhập trên họ có điều
kiện tích lũy vốn, cải thiện đời sống của gia đình và mua sắm phương tiện
sản xuất để tự tạo việc làm.
1.3. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC
TRONG KHU VỰC
1.3.1. Philipin
Vượt lên cả những nước có dân số đông gấp hơn 10 lần là Ấn Độ và
Trung Quốc, Philipin nổi lên là một trong những nước cung ứng lao động lớn
Số ngoại tệ lao động gửi về (triệu USD)
378.214
449.271
417.030
500.000
640
791,9
856,8
1.000
[35, tr.19]
Bước sang thập kỷ 90, Philipin đã có bước chuyển mạnh mẽ trong
công tác XKLĐ. Theo POEA (Cục lao động nước ngoài Philipin) trong
những năm gần đây mỗi năm Philipin đưa đi XKLĐ khoảng 700.000 người
bao gồm cả lao động trên đất liền và trên biển. Hiện nay, Philipin có gần 7
triệu lao động làm việc ở 181 nước và các điểm trên thế giới, chiếm 10% số
dân cả nước và 20% dân số trong độ tuổi lao động. Trong số đó có 4,2 triệu
người lao động hợp đồng có thời hạn từ 6 tháng đến 2 năm.
Bảng 5: Xuất khẩu lao động của Philipin 1990 - 1998
(Đơn vị tính: người)
Năm
Số lao động được đưa đi
kinh tế mũi nhọn. Thu nhập từ lĩnh vực này đứng thứ 3 trong nền kinh tế
quốc dân - chỉ sau sản phẩm của cây dừa và ngành điện tử. Con số này
chiếm 18% sản phẩm quốc nội và gần bằng toàn bộ sự đóng góp của khu
vực nông nghiệp...
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu to lớn thì chiến lược XKLĐ
của Philipin cũng để lại những hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế - xã
hội. Sau 20 năm lao vào chương trình XKLĐ, Philipin đã phải đầu tư vào
đây một khoản ngân sách khá lớn. Mặt khác, do XKLĐ ồ ạt, không quản lý
và kiểm soát hết nên điều kiện việc làm không đảm bảo, người lao động bị
lạm dụng và bóc lột, an toàn lao động không tốt, an ninh cho người lao
động bị đe dọa đã làm cho cuộc sống của một bộ phận lớn lao động ở nước
ngoài của Philipin cực kỳ khó khăn, gian khổ. Sức ép về tâm lý, giá trị con
người đang biến đổi, sự li tán kéo dài đã làm cho nhiều gia đình ở Philipin
tan vỡ. Tội phạm trong thanh thiếu niên tăng nhanh. Chính phủ không kiểm
soát hết tình hình mà "chỉ còn cách là cung cấp dịch vụ và bảo đảm làm nhẹ
chi phí xã hội của di cư và làm thuận lợi cho việc tái hòa nhập của lao động
di cư trở về" [20, tr. 24].
Sự ra đi ồ ạt và đột ngột của một lực lượng lớn lao động Philipin
cho thấy tình hình kinh tế của đất nước không bền vững. Đặc biệt ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và tốc độ phát triển chậm lại
của nền kinh tế toàn cầu đã làm cho người lao động của Philipin ở nước
ngoài thất nghiệp tăng đáng kể. Lực lượng này trở về đã và đang gây nên
những trở ngại không nhỏ cho nền kinh tế vốn đã không mấy bền vững của
Philipin.
1.3.2. Thái Lan
Với hơn 60 triệu dân, Vương quốc Thái Lan có hơn 300 doanh
nghiệp được phép XKLĐ.
20
112.000
78.000
85.000
[35, tr.19]
Bước vào thập kỷ 90, là một nước có nền kinh tế mạnh trong ASEAN,
Thái Lan đã phát triển nhiều ngành công nghiệp và các ngành dịch vụ kỹ thuật
cao cần sử dụng nhiều lao động lành nghề nhưng Thái Lan không đào tạo kịp.
Các ngành lao động cần sử dụng lao động giản đơn vẫn gia tăng và thu hút
nhiều lao động. Thái Lan đã phải nhập khẩu lao động có trình độ và thực
hiện việc di chuyển nhà máy tới biên giới để thu hút lực lượng lao động
giản đơn từ các nước láng giềng như Miama, Lào, Campuchia... Tuy nhiên,
trong điều kiện thiếu lao động đó Chính phủ Thái Lan vẫn khuyến khích và
duy trì chính sách XKLĐ bởi chính sách này đã đem lại cho cả Nhà nước và
người lao động Thái Lan nhiều lợi ích kinh tế.
Năm 1995, Thái Lan có khoảng 450.000 người lao động đang làm
việc ở nước ngoài. Từ đó đến năm 1997 lực lượng lao động xuất khẩu của
Thái Lan có xu hướng giảm do tình hình kinh tế thế giới, tuy nhiên thu
nhập của người lao động từ nước ngoài gửi về Thái Lan không ngừng gia
tăng.
Bảng 7: Tình hình XKLĐ của Thái Lan qua một số năm của thập kỷ 90
21
Năm
1,15
1,30
[9, tr.39]
Với nhận thức XKLĐ sẽ góp phần làm giảm tình hình thất nghiệp
trong nước, tháo gỡ những khó khăn của nền kinh tế - xã hội, Chính phủ
Thái Lan đã có chính sách khuyết khích XKLĐ:
- Bộ lao động xã hội Thái Lan đã thành lập các trung tâm tư vấn về
pháp lý và thu xếp việc vay nợ cho những người Thái Lan đi lao động ở
nước ngoài.
- Nhà nước đào tạo nghề và ngoại ngữ cho người lao động trước khi
đi làm việc ở các nước.
- Việc tuyển người được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Bộ lao
động xã hội. Mặc dù có tới hơn 300 doanh nghiệp tham gia XKLĐ song Bộ
lao động luôn giữ quyền can thiệp vào hoạt động của các doanh nghiệp để
giúp các tổ chức này luôn đi đúng hướng.
1.3.3. Bănglađét
Ở Bănglađét, XKLĐ được xác định là một chiến lược và là một lĩnh
vực kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân. Với dân số 136,8 triệu,
22
Chính phủ Bănglađét đã cho phép khoảng 250 doanh nghiệp được phép
tham gia XKLĐ.
Theo tin từ "Thị trường lao động ngoài nước", số lượng XKLĐ của
Bănglađét trong những năm gần đây đã đạt kỷ lục trên 1 triệu lao
động/năm. Mỗi năm Bănglađét thu được khoảng 1,34 tỷ USD.
Dân số (triệu)
Số DN được cấp phép XKLĐ
Thái Lan
61,4
300
Philipin
72,9
980
Inđonexia
210,4
70
Bănglađet
136,8
250
Srilanca
cho từng giai đoạn khác nhau trong quá trình XKLĐ sẽ là những yếu tố quan
trọng trong việc thực hiện tốt công tácXKLĐ trong hiện tại và tương lai.
24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nước ta có gần 40 triệu lao động, đó là một tiềm năng to lớn. Tuy
nhiên nguồn lao động phân bố không đều và tập trung ở nông thôn là chủ
yếu, trong khi diện tích đất nông nghiệp ngày một giảm... Đất chật người
đông, ngành nghề kém phát triển đã làm nảy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa
cung và cầu lao động, đồng thời việc áp dụng những thành tựu khoa học
công nghệ và tổ chức sắp xếp lại sản xuất càng làm cho lực lượng lao động
dôi ra đáng kể. Thất nghiệp, thiếu việc làm đã và đang gây áp lực mạnh mẽ
cho chương trình quốc gia về việc làm và thực hiện các chính sách kinh tế
xã hội khác. Thực tiễn nước ta những năm qua cũng như kinh nghiệm của
các nước trong khu vực và trên thế giới cho thấy đẩy mạnh xuất khẩu lao
động là một chính sách kinh tế đối ngoại hoàn toàn đúng đắn phù hợp với
sự phát triển của lực lượng sản xuất, quá trình toàn cầu hóa và sự phân
công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu sắc. Xuất khẩu lao động là
một trong những giải pháp hữu hiệu góp phần giải quyết tình trạng thất
nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của nhân dân. Hoạt
động này cũng góp phần quan trọng vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực
cho công cuộc công nghiệp hóa đất nước, và tăng cường tính đoàn kết hữu
nghị, giúp đỡ lẫn nhau giữa nước ta với các nước khác. Chính vì vậy việc
nghiên cứu, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động trong những năm tới là
việc làm cấp thiết góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển chung của
nền kinh tế..