LUẬN văn THẠC sĩ một số QUAN điểm cơ bản về PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI và THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Con người, từ khá sớm trong lịch sử nhận thức cho đến tận hôm nay,
vẫn được nhiều học thuyết khoa học xã hội coi là chiếm vị trí trung tâm của
sự phát triển. Tất nhiên, trong mỗi thời đại, con người được chú ý nghiên cứu
trên các bình diện khác nhau. Đến nay, quan điểm hiện đại về phát triển con
người đã được thừa kế, bổ sung bằng nhiều nội dung mới và được nhiều quốc
gia đề cao và chú trọng thực hiện trong chương trình phát triển kinh tế - xã
hội của mình, nhằm đạt tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững.
Thực ra vấn đề phát triển con người theo xu hướng hiện đại đã được
C.Mác đề cập cô đọng trong tác phẩm "Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản"
(1848). Nhưng đến cuối thế kỷ XX, việc thừa nhận con người là nguồn lực vô
tận, là nhân tố quyết định, là mục tiêu tối thượng của sự tiến bộ xã hội mới
được các chuyên gia của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP)
quán triệt, lượng hóa và thiết kế một thước đo chung, nhằm đánh giá trình độ
phát triển con người ở các quốc gia thuộc Liên hợp quốc.
Trong điều kiện hiện nay, việc nghiên cứu về phát triển con người đòi
hỏi phải luận giải một cách toàn diện, làm cơ sở khoa học cho việc hoạch
định đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của nhà nước.
Đây là một yêu cầu cấp bách, cơ bản và lâu dài cho chiến lược phát triển con
người ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Vấn đề là ở chỗ, mặc dù coi con người là trung tâm của sự phát triển
kinh tế - xã hội, và do đó, phát triển con người thường được nhiều quốc gia
ưu tiên hàng đầu cho việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, nhưng trên
thực tế, không phải quốc gia nào cũng làm được điều này, kể cả các quốc gia


2


3

trong 30 năm qua, bằng việc thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện chính
sách mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới, đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh; công cuộc đổi mới toàn diện đã mở rộng
không gian phát triển đầy triển vọng cho nhân dân Việt Nam, trong đó, các
cơ hội và điều kiện cho việc phát triển toàn diện con người ngày càng được
xác lập, bảo đảm và mở rộng. Có thể nói, thành tựu nổi bật nhất của công
cuộc đổi mới ở nước ta trong 30 năm qua là thành tựu về phát triển con
người.
Chúng ta đạt được những thành tựu đó là nhờ có sự nhận thức một
cách toàn diện về vấn đề phát triển con người, coi nguồn lực con người là
"giá trị quý báu nhất" và đóng vai trò quyết định nhất; con người vừa là động
lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Trong các văn kiện của mình, Đảng ta
luôn chú trọng đến việc đề ra những chính sách nhằm phát huy có hiệu quả cao
nhất nguồn lực con người. Trong "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội", Đảng ta khẳng định: "Vì hạnh phúc của con
người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân" [10, tr.
13](1). Tại Đại hội VIII, Hội nghị Trung ương lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương khóa VIII, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh con người là động
lực và mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, việc phát triển con người ở nước trong thời kỳ vừa qua,
bên cạnh những thành tựu đã đạt được, cũng còn nhiều hạn chế về cả mặt
nhận thức và hành động. Bối cảnh phát triển con người ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay vừa có những cơ hội mới, vừa đứng trước nhiều thách thức.
Điều đó đòi hỏi phải xem xét một cách toàn diện, để từ đó tìm ra những giải
pháp hiệu quả nhằm phát triển con người, đảm bảo cho sự phát triển nhanh và
1

khi nền kinh tế tri thức xuất hiện" của Phạm Thành Nghị, "Thực trạng nguồn
nhân lực ở Việt Nam hiện nay" của Phạm Thanh Đức trong cuốn "Nghiên


6

cứu con người, đối tượng và những phương hướng chủ yếu" (2002) do Phạm
Minh Hạc và Hồ Sĩ Quý chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa MácLênin về giải phóng con người, lấy đó làm cơ sở lý luận, phương pháp luận
cho nghiên cứu về sự nghiệp giải phóng và xây dựng và phát triển toàn diện
con người Việt Nam. Đó là các công trình: "Tư tưởng về sự giải phóng con
người trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản" của Trần Hữu Tiến. Trích
trong "Sống mãi với Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản", Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội (1998), "Quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về con người và
sự nghiệp giải phóng con người", của Bùi Bá Linh, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội (2003)…
- Cũng có một số người đi vào nghiên cứu các khía cạnh xã hội khác
nhau về phát triển con người như về chính sách y tế, giáo dục, chính sách xóa
đói, giảm nghèo… từ đó đề ra những giải pháp cụ thể nhằm phục vụ các yêu
cầu về phát triển con người mới. Có thể kể ra các công trình như: "Về phát
triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Phạm
Minh Hạc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2001); "Tính tương thích giữa
phát triển giáo dục và phát triển kinh tế trong phát triển con người ở Việt
Nam" của Đặng Quốc Bảo, trong tạp chí Nghiên cứu con người, số 2 (2002);
"Nhà nước và sự phát triển con người trong quá trình đổi mới ở Việt Nam"
của Bùi Tất Thắng trong tạp chí Nghiên cứu con người, số 2, (2002)…
Nhìn chung, các công trình trên đều khẳng định yêu cầu phát triển
con người và ý nghĩa của việc nhận thức đúng đắn và xây dựng chính sách
phát triển con người. Song, do yêu cầu của thời đại và của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay vì mục tiêu phát triển nhanh và

trạng này.


8

- Thứ ba, luận văn cố gắng nêu ra một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến
những hạn chế trong lĩnh vực phát triển con người, từ đó luận giải một số
phương hướng và giải pháp để phát triển con người Việt Nam bền vững.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng về phát triển và
tiến bộ xã hội, trong đó có phát triển con người; đồng thời, dựa vào các
nguyên tắc và hệ tiêu chí đánh giá phát triển con người của UNDP để phân
tích thực trạng con người Việt Nam và các vấn đề có liên quan.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp
phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê... để trình bày các luận điểm
của mình.
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn trình bày một cách tương đối có hệ thống những quan
điểm về phát triển con người trong lịch sử triết học, làm rõ quan điểm của
C.Mác về phát triển con người, ý nghĩa của quan niệm đó đối với sự nhận
thức về con người và phát triển con người trong thời đại ngày nay.
- Luận văn trình bày và làm sáng tỏ hơn quan niệm của UNDP về
phát triển con người; nội hàm của khái niệm phát triển con người, các chỉ số,
các yêu cầu, điều kiện và mục tiêu phát triển con người.
- Luận văn trình bày quan điểm của Đảng về phát triển con người ở
nước ta. Trên cơ sở quan điểm của Đảng và của UNDP, luận văn đánh giá
thực trạng phát triển con người ở nước ta hiện nay, phân tích nguyên nhân
của những mặt chưa làm được trong phát triển con người; đồng thời, bước

triết học đã nghiên cứu con người ở mức độ khái quát nhất và sớm nhất trong
lịch sử. Tuy nhiên, không phải ngay từ thời cổ đại người ta đã có quan điểm
đúng đắn về con người và càng chưa bàn đến vấn đề phát triển con người.
Chỉ đến khi nền triết học đã phát triển rất cao, vấn đề phát triển con người
mới được đánh giá một cách tương đối hệ thống, đầy đủ. Điều này thể hiện rõ
nét qua lịch sử phát triển của triết học.
1.1. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG LỊCH SỬ TRIẾT
HỌC TRƯỚC MÁC

Khi nghiên cứu vấn đề con người, triết học phương Đông, điển hình
là triết học Ấn Độ và Trung Quốc cổ - trung đại, cũng mới chỉ đạt đến trình
độ thừa nhận con người có phần xác và phần hồn. Phần lớn các quan điểm
đều cho rằng, đối với con người, "phần xác" có thể chết, mất đi, nhưng "phần
hồn" vẫn tồn tại. Điển hình như quan điểm của các trường phái chính thống
của triết học Ấn Độ. Sự hình thành và phát triển các tư tưởng về con người
của triết học Ấn Độ cổ - trung đại gắn với quan niệm tôn giáo. Con người chỉ
phát triển trong khuôn khổ của sự chi phối của các lực lượng thần thánh, siêu
nhiên. Tư tưởng "giải thoát" con người khỏi những đau khổ trầm luân của
Phật giáo, tuy nhuốm màu sắc tôn giáo, song ít nhiều cũng thể hiện sự quan
tâm đối với vấn đề phát triển con người. Thành ra, ở giai đoạn này, việc phát
triển con người được luận giải theo hướng duy tâm, chỉ là sự giải thoát về
mặt "linh hồn" và phát triển là sự giải thoát của linh hồn cá thể khỏi thể xác,


11

trở về với linh hồn tối cao (Kinh Vêda), về thế giới bên kia, hay với cõi Niết
bàn của đức Phật.
Lấy con người làm trung tâm cho học thuyết của mình, triết học Trung
Quốc cổ - trung đại, với các đại biểu như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử… đã

động khỏi sự áp bức và bóc lột.
Triết học cổ điển Đức đặc biệt đề cao vai trò của con người. Sự ra đời
của dòng triết học này đã làm cho tư tưởng về con người và phát triển con
người có những thay đổi mới về chất. Điều đó được thể hiện trong cả hai
trường phái triết học duy vật và duy tâm.
Trong triết học Cantơ, con người được coi là một thực thể, hơn nữa,
là một thực thể hoạt động, một nhân tố có vị trí đặc biệt trong thế giới. Thực
thể đó đứng giữa, ở vị trí trung tâm của thế giới "vật tự nó" và thế giới "hiện
tượng". Sự phát triển con người, theo Cantơ là sự phát triển để đạt tới "vật tự
nó", con người được tự do trong thế giới này, còn trong thế giới của những
"hiện tượng" thì tự do của con người chỉ là tương đối, chỉ là cái thứ yếu
không đáng được quan tâm. Con người trong triết học của Cantơ là con người
suy nghĩ và hành động. Tư tưởng của ông đều xuất phát từ bản thân con
người và vì sự giải phóng của bản thân con người. Đây là tư tưởng mang tính
nhân văn, nhân đạo sâu sắc và đặt nền móng cho những quan điểm về con
người sau này của C.Mác.
Khẳng định con người là chủ thể, đồng thời là kết quả của quá trình
lao động, Hêghen coi sự phát triển con người là sự phát triển của tự do, của
tư duy nhân loại. Ông cho rằng, sự phát triển của tự do của con người là
thước đo đánh giá trình độ phát triển của xã hội. Tuy nhiên, do đứng trên lập
trường của chủ nghĩa duy tâm, nên ông đã đi tới quan niệm sai lầm khi cho
rằng sự phát triển đó là quá trình trở về cái "tinh thần tuyệt đối".
Nhà triết học duy vật nhân bản L.Phoi ơ bắc đặc biệt quan tâm đến
vấn đề con người, coi con người là trung tâm, cốt lõi, xuyên suốt toàn bộ hệ
thống triết học của mình. Con người trong triết học của L.Phoi-ơ-bắc là sản
phẩm của tự nhiên, là kết quả của sự phát triển của tự nhiên. Giữa con người


14



vượt qua quan điểm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội nói chung và con
người nói riêng.
1.2. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
MÁC-LÊNIN

Lịch sử triết học đã bước sang một trang mới bằng sự ra đời của triết
học Mác-Lênin. Thành quả to lớn của các nhà sáng lập triết học Mác-Lênin
để lại không dừng lại ở chỗ đưa ra một hệ thống lý luận đúng đắn về bản chất
của thế giới và bản chất con người, mà còn chỉ ra con đường để phát triển con
người một cách duy vật và khoa học.
Về bản chất con người, xuất phát từ việc phê phán những hạn chế của
các quan điểm duy tâm, siêu hình, khi xem xét vấn đề con người, các nhà
sáng lập triết học Mác - Lênin đã giải quyết vấn đề con người một cách khoa
học, đúng đắn trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, khẳng định
con người là một thực thể sinh học - xã hội - "Con người là một thực thể tự
nhiên có tính người" [27, tr. 234].
Theo quan điểm duy tâm khách quan của Hê-ghen, hoạt động thực tiễn
của con người chỉ là hình thức tha hóa trong việc thực hiện tính tích cực nội tại
của tinh thần, do vậy, nó không thể là đối tượng nghiên cứu trực tiếp và cơ bản
khi xem xét vấn đề con người. Mặc dù xuất phát từ quan niệm coi con người
là một thực thể tự nhiên, mang tính vật chất - cảm tính, song L.Phoi-ơ-bắc đã
không thể đi tới bản chất đích thực của con người, không hiểu được những
hoạt động xã hội của con người. Khi tiến hành phê phán quan điểm duy tâm
tư biện của Hê-ghen và quan điểm duy vật nhân bản của L.Phoi-ơ-bắc về con
người, C.Mác đã phát hiện ra và chứng minh rằng, hoạt động thực tiễn cải tạo
thế giới vật chất là hoạt động vốn có của con người. Và ông đã lấy hoạt động
có tính đặc trưng này làm đối tượng nghiên cứu, làm xuất phát điểm khi
nghiên cứu vấn đề con người và giải phóng, phát triển con người.




17

đó. Những lập luận trừu trượng về con người, về hoạt động con người thực
chất chỉ là phương tiện, công cụ để nhằm giải quyết nhiệm vụ đó. Nhưng để
có được các lập luận đó một cách đúng đắn thì phải xem xét trong những
trường hợp cụ thể với những quan hệ cấu thành cơ sở hiện thực của chúng.
Vì vậy, khi xem xét con người phải xuất phát từ chính những con người với
tư cách là những "cá nhân kinh nghiệm", những cá nhân trong đời sống sinh
hoạt trong quan hệ hiện thực của xã hội nhất định.
Trong "Luận cương về L.Phoi-ơ-bắc", C.Mác khẳng định: "Bản chất
con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những mối quan
hệ xã hội" [23, tr. 11].
Con người mà C.Mác và Ph.Ăngghen nói tới trong định nghĩa này là
những con người mang tính lịch sử - cụ thể trong những điều kiện sinh hoạt
hiện thực của nó. Với định nghĩa này, C.Mác khẳng định khi xem xét con
người phải gắn với hiện thực lịch sử mà con người tồn tại, xem xét gốc rễ của
con người từ chính bản thân con người, từ những quan hệ của họ với xã hội.
Đặc biệt, cần phải xem xét con người "hiện thực lịch sử" mang tính sinh học
được xã hội hóa. Xem xét ý thức con người từ tồn tại xã hội, từ thực tiễn,
trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội.
Theo quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, bản chất con người (tri
thức, đạo đức, văn hóa…) được dần dần hình thành trong quan hệ xã hội nhất
định với tính cách là sản phẩm của những quan hệ hiện thực trong xã hội.
Tuy nhiên, bản chất đó không phải hình thành một cách thụ động với tính
cách là sản phẩm thuần túy của hoàn cảnh, mà cần phải thấy mặt thứ hai con người là chủ thể của hoàn cảnh, giữ vai trò quyết định của sự vận động
của lịch sử. Theo quan điểm của C.Mác "chính con người làm thay đổi hoàn
cảnh" của mình, "sự phù hợp giữa sự thay đổi của hoàn cảnh với hoạt động

trước tiên, là cơ sở để khắc phục mọi sự tha hóa, sự phiến diện, què quặt
trong quá trình giải phóng, phát triển con người, đưa con người trở về với bản


20

chất đích thực của mình, trở thành chủ thể của xã hội, quyết định toàn bộ đời
sống của mình.
Để thực hiện mục tiêu đó, người công nhân phải vươn lên giữ vị trí
tiên phong trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, xóa bỏ chế độ tư bản
chủ nghĩa, giành chính quyền về tay mình. Từ đó, xóa bỏ tận gốc mọi sự áp
bức xã hội. Nói cách khác, giai cấp vô sản phải tiến hành cuộc cách mạng vô
sản nhằm giải phóng mình và giải phóng toàn nhân loại, đưa nhân loại từ
vương quốc tất yếu sang vương quốc tự do. Đó là sứ mệnh cao cả của giai
cấp công nhân trong công cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ của bản thân và của
nhân loại.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu ấy, hoàn toàn không phải là việc làm
đơn giản, chốc lát, hay có thể hoàn thành trong "một sớm, một chiều", mà đó
là một quá trình hết sức lâu dài, phức tạp và gay go quyết liệt. Bởi vì quá
trình đó không chỉ là xóa bỏ trật tự của xã hội cũ mà hơn thế, còn là một sự
nghiệp xây dựng xã hội mới, xóa bỏ những tàn tích cũ, xây dựng những nhân
tố xã hội mới từ cơ sở hạ tầng đến kiến trúc thượng tầng.
Để có thể thực sự giải phóng và phát triển con người, theo C.Mác, tất
yếu phải xóa bỏ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa và thay vào đó
một hình thái kinh tế - xã hội mới cao hơn, đó là hình thái kinh tế - xã hội
cộng sản chủ nghĩa. Sự thay thế xã hội cũ bằng một xã hội mới, tốt đẹp hơn
chính là nhằm phục vụ con người, vì sự phát triển tự do, toàn diện của con
người.
Để con người được phát triển toàn diện thì việc xây dựng xã hội mới xã hội cộng sản chủ nghĩa - là yêu cầu, là mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp
cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong xã hội đó,

Theo C.Mác, trong xã hội cộng sản, khi con người được giải phóng,
được làm chủ, họ sẽ có điều kiện để thực hiện sự nghiệp giáo dục, đào tạo cải


22

tạo chính bản thân họ, xóa bỏ tình trạng nô dịch, áp bức, bóc lột lao động cho
tất cả mọi người; họ được hưởng những thành quả giáo dục toàn diện do
chính họ tổ chức bao gồm: giáo dục trí lực, giáo dục thể lực và giáo dục kỹ
thuật.
Giải phóng con người là đưa con người thoát khỏi mọi sự áp bức,
thống trị giai cấp, dân tộc, tôn giáo… xây dựng mối quan hệ công bằng, bình
đẳng giữa người với người, giữa cộng đồng này với cộng đồng xã hội khác.
Nói cách khác, giải phóng con người là tạo điều kiện cho con người phát
triển toàn diện cả về khía cạnh cá nhân, cả về khía cạnh xã hội.
Như vậy, có thể nói, tư tưởng cốt lõi trong toàn bộ học thuyết về con
người của C.Mác là tư tưởng về giải phóng, phát triển con người. Theo
C.Mác và Ph.Ăngghen, khắc phục, xóa bỏ sự tha hóa của con người trong xã
hội tư bản là điều kiện cho giải phóng con người; muốn giải phóng con người
thì phải xóa bỏ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa và thay bằng hình
thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chỉ trong điều kiện đó, con người
mới trở về với bản chất đích thực của mình, mới có đầy đủ các điều kiện để
phát triển toàn diện. Đến lược nó, khi con người trở thành chủ thể xã hội, sự
phát triển xã hội lại do chính con người thực hiện. Do đó, phát triển xã hội là
cơ sở của phát triển con người, phát triển con người là động lực của phát triển
xã hội và của chính bản thân con người.
Mặc dù không phân tích một cách chi tiết hay không có một tác phẩm
riêng nào về phát triển con người, nhưng những tư tưởng về giải phóng, phát
triển con người, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã cung cấp cho chúng ta cơ
sở phương pháp luận trong việc xem xét, đánh giá các quan điểm hiện đại về

trong những nội dung quan trọng. Trong nhiều thập kỷ qua, tình trạng đói
nghèo luôn là sự nỗi ám ảnh nhiều quốc gia trên thế giới. Nhân loại vẫn hằng
mong ước một cuộc sống ngày càng đầy đủ, sung túc hơn. Vì vậy, mở rộng
năng lực sản xuất, phát triển kinh tế trở thành mục tiêu phấn đấu của các
quốc gia. Sự khác biệt về đời sống giữa các nước phát triển với các nước
đang phát triển và chậm phát triển đã chứng minh tầm quan trọng của sự tăng


24

trưởng kinh tế. Ở các nước có thu nhập thấp, người dân luôn phải đối mặt với
tình trạng thiếu lương thực, với tình trạng nghèo đói phổ biến. Trong bối
cảnh đó, tăng trưởng kinh tế đã được xem như là chiếc chìa khóa của quá
trình phát triển. Tuy nhiên, một số nước vẫn có thái độ tuyệt đối hóa mục tiêu
tăng trưởng kinh tế, mà coi nhẹ các mục tiêu xã hội khác dẫn đến sự phát
triển phiến diện, không bền vững.
Thực tế cho thấy, ở một số quốc gia, kể cả những nước phát triển,
mục tiêu phát triển con người đã bị xem nhẹ, không ít quốc gia đã lấy tăng
trưởng kinh tế làm thước đo đánh giá sự phát triển xã hội và để đạt dược mục
tiêu đó, người ta không quan tâm thỏa đáng đến vấn đề phát triển con người.
Nhiều người lại cho rằng, ngày nay, sự phân hóa giàu nghèo, sự bất bình
đẳng, sự chênh lệch về trình độ… giữa các tầng lớp dân cư, các dân tộc, các
nhóm người, được xem như là cái giá của sự phát triển kinh tế, thậm chí, một
số người coi đó là điều tất yếu của xã hội hiện đại, là một nghịch lý hiển
nhiên. Tuy nhiên, cũng có nhiều quan điểm tiến bộ hơn, những quan điểm
này thường nhấn mạnh đến các khía cạnh của sự phát triển xã hội, phát triển
con người, thì cũng chỉ nhấn mạnh tới việc phân phối lại các kết quả lao động
cho con người thông qua sự điều hành của nhà nước, chính phủ, nghĩa là chú
ý đến việc xem xét vị trí, vai trò của nhà nước trong việc nâng cao đời sống
vật chất, chú ý đến sự công bằng của nhà nước trong phân phối thu nhập cho

hàm cả phát triển kinh tế và phát triển xã hội, mục tiêu tăng trưởng kinh tế
nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người, cũng như vì đời
sống công bằng, tiến bộ, văn minh và hạnh phúc cho nhân dân. Tăng trưởng
kinh tế phải gắn với phát triển văn hóa, phát triển xã hội và phát triển con
người. Vì vậy, khái niệm "nguồn nhân lực", "vốn người" được xem là yếu tố
quyết định nhất trong các yếu tố tác động đến sự phát triển kinh tế, xã hội.
Song, ở khía cạnh này dễ rơi vào sự hiểu nhầm, coi con người như là công



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status