Tiếng việt và phương pháp giảng dạy tiếng việt ở tiểu học - Pdf 39

PHẦN I



SỞ NGÔN NGỮ HỌC


TIẾNG

VIỆT

3


A. CƠ SỞ NGÔN NGỮ HỌC

I. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN HỌC VIÊN CẦN NẮM VỮNG

1. Những vấn đề chung
-Trên cơ sở phân biệt giữa ngôn ngữ và lời nói, cần nắm vững khái niệm ngôn ngữ.
-Nắm vững đối tượng, nhiệm vụ và ứng dụng của ngôn ngữ học, đặc biệt là những ứng dụng của ngôn ngữ học trong
việc dạy và học tiếng mẹ đẻ.

-Hiểu được ý nghĩa của việc nghiên cứu những vấn đề đại cương về ngôn ngữ học

và ngôn ngữ học trong việc giảng

dạy tiếng Việt nói chung và giảng dạy tiếng Việt ở trường tiểu học nói riêng.

2. Bản chất của ngôn ngữ
-Nhận thức đúng và phân tích, lý giải bản chất xã hội của ngôn ngữ. Ngôn ngữ không phải là một hiện tượng tự nhiên.

-Nắm vững các khái niệm hệ thống và kết cấu. Ngôn ngữ cũng là một hệ thống – kết cấu.
-Hệ thống – kết cấu của ngôn ngữ thể hiện trước hết ở sự tồn tại các đơn vị đồng loại và khác loại. Các đơn vị đồng
loại là những đơn vị trong cùng một cấp
độ, cùng một chức năng như các âm vị, các hình vị, các từ, các cấu trúc câu. Các đơn vị khác loại là những đơn vị khác nhau về
cấp độ và chức năng như âm vị - hình vị - từ - câu.

-Hệ thống – kết cấu của ngôn ngữ còn thể hiện ở các mối quan hệ tồn tại giữa các đơn vị trong cùng một cấp độ hoặc
giữa các cấp độ, đặc biệt là những mối quan hệ chung nhất, bao trùm lên toàn bộ hệ thống – kết cấu của ngôn ngữ: quan hệ
liên tưởng (quan hệ hệ hình, quan hệ dọc, quan hệ lựa chọn, quan hệ đối vị), quan hệ ngữ đoạn (quan hệ tuyến tính, quan hệ
ngang, quan hệ kết hợp, quan hệ
cú đoạn) và quan hệ tôn ti (quan hệ cấp bậc, quan hệ đơn vị).

5. Nguồn gốc và sự phát triển của ngôn ngữ
-Cần phân biệt sự khác nhau giữa việc nghiên cứu nguồn gốc của ngôn ngữ loài người nói chung và nghiên cứu nguồn
gốc của các ngôn ngữ cụ thể.

-Nắm vững nội dung cơ bản của một số giả thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ:

thuyết tượng thanh, thuyết cảm

thán, thuyết tiếng kêu trong lao động, thuyết ngôn ngữ cử chỉ và thuyết khế ước xã hội.

-Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc của ngôn ngữ. Quan điểm ấy đã phân tích
và lý giải một cách khoa học về những
tiền đề tự nhiên và tiền đề xã hội cho sự hình thành ngôn ngữ thành tiếng ở con người.

6. Về nguồn gốc và sự phát triển của tiếng Việt và chữ quốc ngữ
-Về nguồn gốc tiếng Việt, cần nắm vững nội dung của việc phân loại các ngôn ngữ theo nguồn gốc và phương pháp so
sánh – lịch sử, cần đặc biệt lưu ý đến ngữ hệ của tiếng Việt: ngữ hệ Môn – Khmer và các dấu tích thời kỳ việt –
Mường trong tiếng Việt hiện nay.

không được bộc lộ trưc tiếp bằng câu chữ mà là kết quả của một quá trình suy luận.

-Cách nói có hàm ngôn là cách nói khá phức tạp, bị chi phối bởi nhiều yếu tố, nhưng đặc biệt là các nhân tố như vi phạm quy tắc chiếu
vật, dùng câu phân loại theo mục đích giao tiếp, vi phạm nguyên tắc lập luận, vi phạm quy tắc hội thoại.

II. CÂU HỎI VÀ GỢI Ý TRẢ LỜI CÂU HỎI

Câu 01: Phân tích sự khác nhau giữa ngôn ngữ và lời nói.
Gợi ý:

-Về

bản thể, ngôn ngữ là

một hệ thống các đơn vị từ
thấp đến cao (âm vị, hình vị,
từ và câu) và một hệ thống
các quy tắc ngữ pháp.

-Lời nói là những phát ngôn cụ thể, do từng cá nhân cụ thể nói ra hoặc viết ra, mang

một nội dung tư tưởng, tình cảm cụ thể và có thể biểu thị

những đặc điểm tâm sinh lý của cá nhân người nói.

-Sự khác nhau giữa ngôn ngữ và lời nói thể hiện ở chỗ:
+ Ngôn ngữ là một thực thể trừu tượng, khái quát. Trái lại, lời nói là những phát ngôn cụ thể, vật chất.

6


sọ,..) về hình thức dường như có liên

quan với cộng đồng ngôn ngữ (dường như mỗi chủng tộc đều nói các thứ tiếng giống nhau). Nhưng, về bản chất, các đặc trưng
chủng tộc luôn luôn mang tính di truyền. Trái lại, ngôn ngữ không mang tính di truyền. Mặt khác, có những ngôn ngữ được nhiều
chủng tộc

7


khác nhau cùng sử dụng; lại có những chủng tộc sử dụng nhiều ngôn ngữ khác
nhau.
- Tiếng kêu của loài vật hoàn toàn khác về chất so với tiếng nói của loài người. Tiếng kêu của các loài vật là những âm thanh có tính
chất bản năng , vô nghĩa thuộc hệ thống tín hiệu thứ nhất; tiếng nói của loài người là một hệ thống âm thanh có nghĩa, được hình thành
một cách có ý thức, là sản phẩm của tư duy và mang tính xã hội.

Câu 03: Chứng minh rằng ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, nó tồn tại và
phát triển theo quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý chí và nguyện vọng cá nhân.
Gợi ý:

-Như được biết, ngôn ngữ do chính con người sáng tạo ra, nó nảy sinh, tồn tại và phát triển luôn luôn phụ thuộc vào con người và xã
hội loài người. Mọi biến động trong xã hội dù lớn hay nhỏ đều tác động trực tiếp đến ngôn ngữ và làm cho ngôn ngữ vận động,
biến đổi (nhất là ở bộ phận từ vựng). Lấy tiếng Việt và thực tiễn xã hội Việt Nam để chứng minh.

-Ngôn ngữ do con người sáng tạo ra là để làm phương tiện giao tiếp giữa các thành viên trong xã hội. Vì thế ngôn ngữ là tài sản
chung của cộng đồng, là một hệ thống trừu tượng tồn tại tiềm tàng trong ký ức của các thành viên trong cộng đồng.

-Ngôn ngữ không phải là hiện tượng tự nhiên. Ngôn ngữ khác về chất so với các hiện tượng tự nhiên gắn liền hoặc liên quan đến
con người như cơ thể sinh vật, đặc trưng bản năng, đặc trưng chủng tộc, âm thanh của trẻ sơ sinh và âm thanh các loài vật,…

-


Câu 05: Phân tích và chứng minh rằng ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp.
Gợi ý:

-Trước hết, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu và chức năng cơ bản của các tín hiệu là chức năng giao tiếp.
- Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ được thể hiện trước hết, ngôn ngữ là
phương tiện để con người truyền đạt những tư tưởng, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của mình đối với cộng đồng một cách nhanh nhất,
chính xác nhất và trực tiếp nhất.

-Ngôn ngữ còn là phương tiện để con người thiết lập và thể hiện một cách chính xác các mối quan hệ giữa con người với con
người.

-Ngôn ngữ còn là phương tiện để con người thực hiện chức năng quản lý xã hội, điều hành và phát triển xã hội.
- Lấy thực tiễn vận dụng tiếng Việt để chứng minh.

Câu 06: Vì sao nói ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng và ưu việt
nhất của con người?

9


Gợi ý:

-Lênin đã định nghĩa rằng ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trong yếu nhất của con người.
Trước hết, ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp. Bởi vì, ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu được con người dùng để truyền đạt tư
tưởng, tình cảm, ý chí, nguyện vọng… của mình đến người khác. Ngôn ngữ còn là phương tiện để tạo lập và thể hiện các mối quan hệ.
Đồng thời, ngôn ngữ là phương tiện để tổ chức, quản lý xã hội, phát triển xã hội.

- Nếu so sánh ngôn ngữ với các phương tiện giao tiếp bổ sung khác như: động
tác, cử chỉ, công thức, ký hiệu, biểu đồ, các môn nghệ thuật đơn lập (âm nhạc, hội họa, điêu khắc, múa)… thì ta thấy ngôn ngữ là một

10


-Dù tư duy được hiểu theo nghĩa nào thì ngôn ngữ vẫn luôn luôn là “vỏ vật
chất” để diễn đạt tư duy, để tham gia vào quá trình hình thành ý tưởng, đồng thời để định hình các ý tưởng.

-Nhờ ngôn ngữ mà các ý tưởng của tư duy trở nên rõ ràng hơn. Nếu không có ngôn ngữ thì các ý tưởng cũng chỉ như là “những đám
mây ngũ sắc”.

Câu 08: Giải thích và chứng minh câu nói của Mác:“Ngôn ngữ là hiện thực
trực tiếp của tư tưởng”?
Gợi ý:
Câu nói này khẳng định vai trò và mối quan hệ của ngôn ngữ đối với tư duy.

-Về vai trò của ngôn ngữ: ngôn ngữ như là mặt hình thức, là cái “vỏ vật chất” của

tư duy. Nó vừa là phương tiện ghi lại sản

phẩm, kết quả của quá trình tư duy, vừa tạo điều kiện cho tư duy phát triển. Nói cách khác, dù tư duy được theo nghĩa nào thì ngôn ngữ
luôn luôn là phương tiện vừa tham gia vào quá trình hình thành ý tưởng, vừa định hình các ý tưởng đã hình thành.

-Về quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy: Đó là mối quan hệ có tính biện chứng, thống nhất và hữu cơ. Quan hệ giữa ngôn ngữ và tư
duy được ví như hai mặt của một tờ giấy, không thể cắt bỏ mặt này mà không đồng thời cắt bỏ cả mặt bên kia. Ở đâu có ngôn ngữ
thì ở đó có tư duy, và ngược lại, ở đâu có tư duy thì ở đó phải có ngôn ngữ để diễn đạt. Ngôn ngữ và tư duy là hai đối tượng tồn tại khách
quan, chúng thống nhất nhưng không đồng nhất và chúng khác nhau nhưng không tách rời. Các đơn vị của tư duy được diễn
đạt bởi các đơn vị của ngôn ngữ (lấy ví dụ để phân tích và minh họa).

Câu 09: Trình bày nội dung một số giả thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ.
Gợi ý:


đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã chứng minh một cách duy nhất đúng sự hình thành ngôn ngữ ở con người là
Ph. Ăng ghen với luận văn khoa học “Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người”.

-Trong tác phẩm “Tác dụng của lao động trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người”, khi phân tích quá trình tiến hóa tự
nhiên để trở thành con người
trên trái đất, Ăng ghen đồng thời đã phân tích và lý giải một cách khoa học điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội cho sự hình thành
ngôn ngữ âm thanh ở con người.

-Về điều kiện tự nhiên, Ăng ghen đã chỉ rõ bước quyết định trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người là sự kiện chuyển
từ dáng đi khom sang dáng đi thằng đứng cùng với đôi tay được giải phóng. Nhờ có dáng đi thẳng đứng mà khí quản của bộ máy phát
âm được hình thành và hoàn thiện dần. Nhờ có đôi tay được giải phóng, con người có thể tạo ra công cụ lao động, điều mà bất cứ một
loài vượn nào cũng không thể làm được. Nhờ công cụ lao động mà lao động của con người trở nên có sáng tạo, khác hẳn với lao động
bản năng của loài vật. Nhờ lao động mà bộ óc con người được hình thành và phát triền, tư duy trừu tượng ra

12


đời. “Dần dần với sự phát triển của bàn tay và với quá trình lao động, con người
bắt đầu thống trị giới tự nhiên và sự thống trị đó, cứ mỗi lần tiến lên một bước và nó mở rộng thêm tầm mắt của con người” [3,60].
Như vậy, theo Ăng ghen, sự phát triển của lao động đã đưa đến kết quả tất yếu là thắt chặt thêm những mối quan hệ giữa các thành viên
của xã hội, bằng cách tạo ra rất nhiều trường hợp để con người giúp đỡ lẫn nhau, hợp tác với nhau và làm cho mỗi cá nhân ngày càng có ý
thức rõ rệt đối với lợi ích của sự hợp tác ấy. Tóm lại, những con người đang được hình thành đó đạt đến mức độ với nhau là họ có những
điều kiện cần phải nói mới được. Như vậy, ngôn ngữ chỉ sinh ra do nhu cầu, do sự cần thiết phải giao tiếp. Nhưng nhu cầu giao tiếp ấy
của con người cũng lại do lao động quyết định.

Câu 11: Hãy phân tích và chứng minh: sự phát triển không đồng đều giữa các
mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp của ngôn ngữ?
Gợi ý:

-Trong ba bộ phận tạo thành một ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) thì bộ phận từ vựng biến đổi và phát triển nhanh nhất và

uyển chuyển.
Chữ Nôm ra đời bằng cách vay mượn một số yếu tố văn tự Hán (hoặc từng bộ phận chữ, hoặc cả chữ trọn vẹn) để ghi lại tiếng Việt
theo nguyên tắc ghi âm tiết.
Chữ Nôm góp phần phản ánh diện mạo hệ thống ngôn ngữ văn học của tiếng Việt lúc bấy giờ (qua những bài phú Nôm thời
Trần, thơ Nôm và truyện Nôm thời Lê, Nguyễn…).

-Tiếng Việt thời thuộc Pháp: Thời kỳ này, chữ quốc ngữ trở nên thông dụng cùng với sự ảnh hưởng của ngôn ngữ - văn hóa
Pháp, làm cho tiếng Việt được phát triển thêm một bước. Báo chí, sách vở tiếng Việt (chữ quốc ngữ) ra đời ngày càng nhiều.
Nhiều từ ngữ, thuật ngữ mới được sử dụng, tuy chủ yếu vẫn là
từ Hán Việt. Nhiều hoạt động văn chương, báo chí sôi nổi cùng với sự hình thành nhiều thể loại mới làm cho tiếng Việt ngày
càng thêm phong phú, tinh tế, đa dạng.

-Tiếng Việt từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay: Với bản “Tuyên ngôn độc lập” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước đồng bào cả
nước và nhân dân toàn thế giới vào ngày 2.9.1945, tiếng Việt thực sự đã giành lại địa vị độc tôn.
Chức năng xã hội của tiếng Việt ngày càng được mở rộng, được sử dụng trong các lĩnh vực giao tiếp khác nhau của xã hội (từ sáng tác
văn học đến giao soạn thảo công văn hành chính; từ lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục đến giao
tiếp thông tin đại chúng…).
Tiếng Việt còn có vai trò là ngôn ngữ quốc gia, dùng chung cho cả khối cộng đồng nhiều dân tộc trên đất nước Việt Nam.

Câu 13: Tại sao nói ngôn ngữ là một hệ thống cấu trúc?
Gợi ý:
- Cũng như mọi đối tượng trong hiện thực, ngôn ngữ là một thực thể bao gồm các yếu tố, các bộ phận bên trong và các mối quan hệ
giữa các yếu tố, các bộ phận ấy. Chỉ có điều các đối tượng trong hiện thực là các đối tượng vật chất, cụ

14


thể; trái lại, ngôn ngữ là một thực thể trừu tượng khái quát, là sản phẩm của
nhận thức, được trừu tượng hóa khỏi các đối tượng vật chất, cụ thể (lời nói).
- Các yếu tố trong hệ thống – cấu trúc ngôn ngữ chính là các loại đơn vị cơ bản của ngôn ngữ (âm vị, hình vị, từ và câu). Bên

15


-Quan hệ liên tưởng liên quan trực tiếp đến vốn ngôn ngữ của người nói, là
tiền đề, cơ sở cho thao tác lựa chọn của tư duy.

-Quan hệ liên tưởng có tác dụng giúp người nói tạo lập được những lời nói sinh động, gợi cảm, chính xác, giàu hình ảnh và hàm
súc về ý nghĩa.

- Học viên cần nêu ra các dẫn chứng để phân tích và chứng minh.
b) Về quan hệ ngữ đoạn

-Quan hệ ngữ đoạn là mối quan hệ giữa các đơn vị cùng tồn tại hiện thực trên lời nói, được sắp xếp theo một trật tự nhất định, phù
hợp với các quy tắc về lô gích, ngữ pháp và ngữ nghĩa của ngôn ngữ.

-Quan hệ ngữ đoạn liên quan trực tiếp đến năng lực ngôn ngữ của người nói, là tiền đề, cơ sở cho thao tác kết hợp của tư duy.
-Quan hệ liên tưởng có tác dụng giúp người nói tạo lập được những lời nói rõ ràng, lô gích và dễ hiểu.
-Học viên cần nêu ra các dẫn chứng để phân tích và chứng minh.

Câu 16: Hãy phân tích và chứng minh ngôn ngữ mang bản chất tín hiệu?
Gợi ý:
Cũng như mọi tín hiệu thông thường trong cuộc sống quanh ta, ngôn ngữ cũng mang những đặc điểm cơ bản của tín hiệu như sau:

-Ngôn ngữ cũng có hai mặt – mặt biểu đạt và mặt được biểu đạt (còn gọi là cái biểu đạt và cái được biểu đạt). Mặt biểu đạt
là vỏ vật chất âm thanh, mặt được biểu đạt là nội dung sự vật, hiện tượng. Hai mặt này luôn tồn tại trong mối quan hệ thống nhất.

-Ngôn ngữ cũng mang tính vật chất, vì có tính vật chất thì con người mới tiếp nhận trực tiếp bằng giác quan của mình. Mặc dù
ngôn ngữ là một thực tế trừu tượng, khái quát, nhưng ngôn ngữ phải tồn tại trong một đối tượng cụ thể vật
chất là lời nói thì chúng ta mới nhận biết được ngôn ngữ.


CBĐ như hiện tượng đồng nghĩa… Đồng thời, ngoài chức năng truyền tin, tín hiệu ngôn ngữ còn có nhiều chức năng như biểu thị
khái niệm, biểu cảm…

-Tính năng sản. Các tín hiệu ngôn ngữ luôn luôn tiềm tàng khả năng sản sinh các tín hiệu mới từ những tín hiệu ban đầu.
Học viên tự lấy dẫn chứng để phân tích, minh họa.

Câu 18: Phân tích sự khác nhau giữa phương pháp so sánh – lịch sử và
phương pháp so sánh – loại hình?
Gợi ý: Sự khác nhau giữa hai phương pháp này thể hiện ở các mặt sau đây:

-Nếu phương pháp so sánh – lịch sử hướng vào sự so sánh các ngôn ngữ trong lịch sử phát triển của nó thì phương pháp so sánh –
loại hình lại hướng vào tình trạng hiện có của ngôn ngữ.

-Nếu nội dung của phương pháp so sánh – lịch sử là so sánh các từ, các dạng thức
thanh trong các ngôn ngữ khác

17

của từ tương tự nhau về ý nghĩa và âm


nhau dựa vào tư liệu ngôn ngữ sống cũng như những tài liệu được ghi trên văn
bia và thư tịch cổ thì nội dung của phương pháp so sánh – loại hình là so sánh đồng đại giữa các ngôn ngữ về kết cấu (có thể về mặt
ngữ âm, từ vựng, hình thái, cú pháp hoặc ngữ nghĩa) của chúng để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng. Từ những
điểm giống nhau, người ta rút ra các phổ niệm, tập hợp một số phổ niệm cho ta một loại hình ngôn ngữ.
- Nếu kết quả của phương pháp so sánh – lịch sử là xác định nguồn gốc lịch sử các ngôn ngữ (hình thành các ngữ hệ (họ), các dòng,
các nhánh ngôn ngữ…) thì kết quả của phương pháp so sánh – loại hình là khái quát thành các phổ niệm và các loại hình ngôn ngữ.
Học viên tự lấy dẫn chứng để phân tích, minh họa.

Câu 19: Vị trí của tiếng Việt trong kết quả phân loại các ngôn ngữ theo nguồn

Học viên tự tìm dẫn chứng để phân tích và chứng minh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Đại học và Trung học
chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987.

2.Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội, 1992.

3.Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh Thuyết, Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995.
4.Cao Xuân Hạo, Tiếng Việt – sơ thảo ngữ pháp chức năng – Quyển I, Nxb KHXH, Hà Nội, 1991.
5. Hoàng Tất Thắng, Giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
2003.

6.Lê Quang Thiêm, Nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1989.
7.N. V. Xtankêvich, Loại hình ngôn ngữ, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1982.
8. Lê A, Đỗ Xuân Thảo, Giáo trình tiếng Việt 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2002.

19


B. NGỮ ÂM TIẾNG VIỆT

I. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN HỌC VIÊN CẦN NẮM VỮNG

1. Cơ sở ngữ âm
1.Cơ sở tự nhiên: Cơ sở cấu âm bao gồm hoạt động của bộ máy cấu âm để sản

sinh các âm thanh ngôn ngữ và cơ


3.Hệ thống âm chính (đặc điểm, sự thể hiện chữ viết, khả năng phân bố của âm chính, biến thể của âm
chính).

4.Hệ thống âm cuối (đặc điểm, sự thể hiện chữ viết, khả năng phân bố của âm cuối, biến thể của âm cuối).

20


3.2.5. Hệ thống thanh điệu ( khả năng phân bố).

3.
1.
2.

Chữ viết và chính tả.
Chữ viết tiếng Việt
Vấn đề chính tả tiếng Việt.

II. CÂU HỎI VÀ GỢI Ý

Câu 1: Trình bày về tính đơn lập của âm tiết tiếng Việt.
Gợi ý:
+ Ranh giới âm tiết rõ ràng:

-Các âm tiết tách biệt nhau rất rõ
-Âm tiết tiếng Việt không có hình thức đọc nối như trong các ngôn ngữ Ấn Âu. (có thể dẫn một số ví dụ để so sánh)
-Lưu ý một số trường hợp 2 âm tiết tiếng Việt nhập lại thành một âm tiết.
+ Ranh giới âm tiết trùng với ranh giới hình vị:


F1

Vần
w

NA

F2

Cần lưu ý đến vai trò quan trọng của nguyên âm chính và thanh điệu trong cấu
tạo âm tiết tiếng Việt vì đây là 2 yếu tố không thể thiếu trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt. Các thành tố khác có thể có, có thể không
có.
Học viên có thể vẽ sơ đồ cấu tạo âm tiết và các phân bố thành phần trong cấu tạo để dễ hình dung hơn.

Câu 3: Sự phân bậc trong cấu tạo âm tiết tiếng Việt.
Gợi ý:

-Các thành phần trong cấu tạo âm tiết được tổ chức theo các kiểu quan hệ nhất định tạo thành các tầng bậc.
-Có thể dựa vào 2 loại quan hệ để phân bậc:
+ Dựa vào khả năng phân tách các thành tố của âm tiết theo ranh giới hình thái học hay theo ranh giới ngữ âm học có thể phân cấu tạo
âm tiết thanh hai bậc:
Bậc I: là bậc của các thành tố có ranh giới hình thái học (đường ranh giới liên quan đến vấn đề cấu tạo từ, cấu tạo hình thái của từ).
Đó là 3 thành tố: Phụ âm
đầu/ vần/ thanh điệu.
Bậc II: là bậc của các thành tố được phân chia ra trong phần vần. Đối với bậc này ranh giới giữa các thành tố mờ nhạt hơn (ranh giới
ngữ âm học). Ranh giới này được xác đinh dựa vào thực tế của một số từ láy, đặc biệt dựa vào một số hình thức hiệp vần thường cũng dựa
vào các cách nói lái không bình thường để tách phần vần ra thành ba thành tố nhỏ hơn: Âm đệm/ âm chính/ và âm cuối.
+ Dựa vào quan hệ thuần túy ngữ âm học theo hình thức lưỡng phân (mức độ chặt chẽ và ít chặt chẽ) người ta chia cấu tạo âm tiết
thành các bậc.
Bậc I: bậc lưỡng phân giữa hai loại đơn vị siêu đoạn và chiết đoạn.


bậc lưỡng

phân cuối cùng là bậc của hai thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Câu 4: Dựa vào cách kết thúc âm tiết có thể phân loại âm tiết như thế nào?
Hãy thử phân loại các âm tiết trong đoạn thơ sau đây: Nếu nhắm mắt trong vườn lộng gió Sẽ
được nghe nhiều tiếng chim hay Tiếng lích rích chim sâu trong

Con chìa vôi vừa hót vừa bay.
(Trích “Nói với em”-Vũ Quần Phương)
Gợi ý:
Có 4 loại âm tiết:

-Âm tiết mở: kết thúc bằng nguyên âm (âm tiết không có âm cuối). Ví dụ: lá, nghe, vừa…
-Âm tiết nửa mở: kết thúc bằng các bán âm (-w và –j). Ví dụ: nếu, nhiều, hay,…
-Âm tiết nửa khép: kết thúc bằng các phụ âm vang (m, n, η). Ví dụ: nhắm, vườn,…
-Âm tiết khép: kết thúc bằng phụ âm tắc vô thanh (p, t, k,…). Ví dụ: mắt, hót, lích rích,… (các ví dụ lấy từ đoạn thơ).

23


Câu 5: Trình bày sự khác nhau giữa phụ âm và nguyên âm tiếng Việt về cấu
âm và về chức năng cấu tạo âm tiết.
Gợi ý:
- Sự khác nhau giữa phụ âm và nguyên âm tiếng Việt về mặt cấu tạo âm âm học.
+ Về mặt cấu âm:
Khi phát âm nguyên âm luồng hơi thóat ra tự do, khi phát âm phụ âm luồng hơi bị chặn ở một điểm nào đó trong bộ máy
cấu âm. Vì vậy phụ âm có tiêu điểm cấu âm còn nguyên âm thì không có.
Khi phát ra nguyên âm luồng hơi đi ra yếu còn khi phát ra phụ âm luôngd hơi đi ra mạnh.
Khi phát âm nguyên âm bộ máy cấu âm căng đều còn khi phát âm phụ âm độ căng thường tập trung ở tiêu điểm cấu âm (điểm chặn

tả.

Câu 7: Trình bày về quan hệ giữa âm chính và âm đệm / - w - / và hai bán
nguyên âm cuối / -w - / và / -j / (trình bày khả năng phân bố giữa các âm chính với âm đệm / - w - / và hai bán âm cuối / -w / và / -j / )
Gợi ý:
Giữa âm chính với âm đệm và 2 bán âm cuối có những hạn chế trong điều kiện phân bố như sau:

-Nguyên âm dòng sau tròn môi / u, o, □, uo/ không kết hợp với âm đệm / -w-/ và bán âm cuối / -w /. Đây là quy luật dị hóa trong
phân bố (các nguyên âm có tính chất giống nhau (cùng là dòng sau tròn môi) không kết hợp với nhau)

-Nguyên âm /  / và /  / không kết hợp với âm đệm.
- Nguyên âm /  / ít kết hợp với bán âm cuối / -w /
-Nguyên âm dòng trước / i, e, ε, ie / không kết hợp với bán âm cuối / -j / (cũng theo quy luật dị hóa như trên).
-Các nguyên âm dòng giữa (trừ / /và /  / như trên) đều có thể kết hợp với âm đệm và 2 bán âm cuối / -w /, / -j /

Câu 8: Trình bày sự thể hiện chữ viết của các âm chính trong tiếng Việt.
Gợi ý:

-Cũng như phụ âm, các nguyên âm tiếng Việt ngoài những trường hợp tuân thủ nguyên tắc một âm một chữ còn có những trường hợp
phức tạp khác như :

-Nguyên âm đôi ie có 4 cách viết, iê, yê, ya, ia, nguyên âm đôi /uo/ có 2 cách viết uô và ua, /
theo những điều kiện phân bố khác
nhau.

-Nguyên âm / / có hai cách thể hiện bằng chữ viết e và a
-Nguyên âm /i/ có hai cách thể hiện bằng chữ viết : i và y
-Nguyên âm /ă / có hai cách thể hiện bằng chữ viết ă và a
Câu 9: Trình bày những hiểu biết của anh chị về thanh điệu và thanh điệu tiếng
Việt.



tim tím võ võ

vò võ

2) nượp nượp 

nườm nượp sát sát 

san sát
hực hực 

hừng hực

Gợi ý:
- Từ láy hoàn toàn 2 âm tiết là thanh trắc biến đổi

một thanh trắc thành một

thanh bằng cùng âm vực, tạo âm hưởng hài hòa.
đỏ đỏ 


đo đỏ tím tím

tim tím

Theo nhóm thanh điệu: ngang – hỏi – sắc
võ võ 

][], khi đứng đầu âm tiết được giải thuyết là 2

âm vị, nhưng khi đứng cuối âm tiết được giải thuyết là 2 biến thể của một âm vị.
Gợi ý:
- [

], [] khi đứng đầu âm tiết nằm trong điều kiện phân bố đồng nhất tạo ra nhiều cặp từ có ý nghĩa khác nhau. Ví dụ: nha / nga;

nhi / nghi … nên chúng là 2 âm vị độc lập (thỏa đáng âm vị học).

26


-[-
-[-

], [-] ở cuối âm tiết xuất hiện trong điều kiện phan bố bổ sung
] phân bố sau nguyên âm đơn dòng trước còn [] phân bố sau các nguyên âm khác (không phải nguyên âm dòng trước) nên

đó là 2 biến thể của một âm vị.

Câu 15: Nêu ra một số biến thể địa phương của phần vần tiếng Việt ở địa
phương các anh chị
Gợi ý:
Có thể xác định được nhưng biến thể địa phương xảy ra ở phần vần ở địa phương nơi anh chị sống và miêu tả rõ bằng những
kí hiệu ghi âm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1..Vương Hữu Lễ, Hoàng Dũng, Giản yếu ngữ âm tiếng Việt, Tài liệu TTĐTTX


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status